Trang chủ / Tài liệu lưu trữ / Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ

Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ

* Số lượng tài liệu: 09 mét.

* Thời gian tài liệu: 1880 – 1926.

* Loại hình tài liệu: tài liệu hành chánh (giấy).

* Tình trạng vật lý: phần lớn tài liệu bị lão hóa, ố, giòn, rách, mục, chữ mờ.

* Công cụ tra cứu: mục lục hồ sơ, thẻ tạm xen lẫn với mục lục, thẻ của các phông: Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Hội đồng Tư mật Nam Kỳ, Tòa Hòa giải Rộng quyền Tây Ninh, Sở Thương chánh Nam Kỳ và các phông tài liệu của các tỉnh Nam Kỳ thời kỳ thuộc Pháp.

  1. LỊCH SỬ ĐƠN VỊ HÌNH THÀNH PHÔNG:

Ngày 8/02/1880, Tổng thống Pháp Jules Grévy đã ký Sắc lệnh thành lập Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ[1].

* Thành phần của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ bao gồm:

– 6 thành viên là công dân Pháp hoặc mang quốc tịch Pháp.

– 6 thành viên người gốc Á mang quốc tịch Pháp.

– 2 thành viên thuộc ngạch dân sự của Hội đồng Tư mật Nam Kỳ được bổ nhiệm bằng sắc lệnh.

– 2 thành viên là đại biểu của Phòng Thương mại.

Nhiệm kỳ của các thành viên này là 4 năm. Và cứ 2 năm một lần sẽ tổ chức bầu cử bán phần Hội đồng.

Các khu vực và thể lệ bầu cử các thành viên của Hội đồng sẽ được thông qua tại Hội đồng Tư mật bằng nghị định của Thống đốc Nam Kỳ .

* Về quy chế làm việc:

Chủ tịch Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ là thành viên của Hội đồng, được bổ nhiệm bằng nghị định của Thống đốc; thư ký sẽ do Hội đồng chỉ định.

Hội đồng họp mỗi năm một kỳ họp thường lệ theo sự triệu tập của Thống đốc. Phiên họp kéo dài không quá 20 ngày. Tuy nhiên Thống đốc có thể gia hạn bằng một nghị định được thông qua tại Hội đồng Tư mật.

Thống đốc cũng có thể cho triệu tập phiên họp bất thường bằng một nghị định được thông qua tại Hội đồng Tư mật và ấn định thời hạn cũng như nội dung của phiên họp này.

Nghị quyết của Hội đồng chỉ có giá trị khi được hơn ½  số thành viên của Hội đồng biểu quyết. Nghị quyết được viết bằng tiếng Pháp và sau đó dịch ra tiếng Việt.

Hội đồng chỉ được kiến nghị lên Bộ Hải quân và Thuộc địa thông qua Thống đốc.

* Chức năng của Hội đồng:

Hội đồng được thảo luận về các vấn đề:

– Mua, bán và trao đổi các động sản và bất động sản trong xứ không thuộc quyền sở hữu của các công sở.

– Thay đổi người và quyền sử dụng những tài sản không thuộc về các công sở.

– Chế độ quản lý tài sản trong xứ.

– Các khế ước cho, cầm cố, cho thuê tài sản lâu dài.

– Các vụ giao dịch tài sản liên quan đến lợi ích của xứ thuộc địa.

– Chấp nhận hay từ chối tiếp nhận những tài sản không phải là bất động sản, được hiến tặng hoặc di tặng cho Nhà nước mà những tài sản này không bị kiện tụng.

– Quản lý, quy hoạch đường sá.

– Giao các công trình công ích cho các hội đoàn, công ty hoặc các cá nhân thực hiện.

– Phần đóng góp của xứ vào chi phí của Nhà nước trong việc xây dựng các công trình công cộng.

– Lập các dự án, kế hoạch xây dựng các công trình được thực hiện bằng ngân quỹ của xứ.

– Bảo vệ các động sản và bất động sản của xứ.

Ngoài ra, Hội đồng còn thảo luận đến các vấn đề thuế khóa.

* Nghị quyết của Hội đồng:

Hội đồng được ra nghị quyết về các vấn đề liên quan đến ngân quỹ và tài chính; đồng ý hay từ chối tiếp nhận những tài sản hiến tặng hoặc di tặng cho Nhà nước; cơ sở và quy định tính thuế, thu thuế; chi phí dành cho các công việc: tố tụng, thờ tự, lương bổng nhân viên và vật liệu chi dụng của Ban Thư ký Phủ Thống đốc Nam Kỳ, chi phí cho giáo dục, cho các nhà tù; mua, bán và trao đổi tài sản của các công sở trong xứ.

Các nghị quyết của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ sẽ được chuẩn y bằng sắc lệnh của Tổng thống Pháp hoặc bằng nghị định của Thống đốc Nam Kỳ tại Hội đồng Tư mật Nam Kỳ, tùy theo từng vấn đề mà nghị quyết đó đề cập đến.

* Hội đồng được đưa ra ý kiến:

– Về các biểu phí thương chính trong xứ.

– Về các đề nghị thay đổi địa giới hành chính đối với các tỉnh, tổng, xã và ấn định các tỉnh lỵ.

* Việc biểu quyết ngân sách của Hội đồng:

Ngân sách của xứ được biểu quyết tại Hội đồng Thuộc địa và được Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định tại Hội đồng Tư mật Nam Kỳ.

Thành phần, chức năng, nhiệm vụ và qui chế làm việc của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ được sửa đổi nhiều lần qua các văn bản:

– Sắc lệnh ngày 12/3/1881 của Tổng thống Pháp[2].

– Sắc lệnh ngày 06/10/1887 của Tổng thống Pháp[3].

– Sắc lệnh ngày 28/9/1888 của Tổng thống Pháp[4].

– Sắc lệnh ngày 02/4/1910 của Tổng thống Pháp[5].

Ngày 03/11/1910, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh thành lập một Ủy ban Thường trực của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ[6]. Ủy ban này sẽ được bầu hàng năm vào cuối mỗi phiên họp thường lệ.

Thành phần của Ủy ban này gồm: ít nhất là 3 người và nhiều nhất là 5 người, trong đó có 1 thành viên là người bản xứ. Chủ tịch của Ủy ban là người nhiều tuổi nhất trong Ủy ban và Thư ký sẽ được bầu tại kỳ họp.

Nghị quyết của Ủy ban chỉ được thông qua khi được đa số thành viên có mặt ủng hộ. Ủy ban sẽ họp theo lệnh triệu tập của Thống đốc. Tại phiên khai mạc kỳ họp thường lệ của Hội đồng Thuộc địa, Ủy ban sẽ trình bày bản báo cáo tổng hợp những vấn đề đã thực hiện và đưa ra những kiến nghị.

Sau đó, Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ còn được cải tổ nhiều lần qua các văn bản:

– Sắc lệnh ngày 09/8/1922của Tổng thống Pháp[7].

– Sắc lệnh ngày 04/7/1931 của Tổng thống Pháp[8].

– Sắc lệnh ngày 01/9/1936 của Tổng thống Pháp[9].

Hoạt động của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ kết thúc cùng với sự tan rã của chính quyền thuộc địa Nam Kỳ vào năm 1945.

II. NỘI DUNG KHÁI QUÁT TÀI LIỆU CỦA PHÔNG:

Tài liệu trong phông mới chỉ được xác định nội dung theo cặp, bó và chủ yếu gồm các vấn đề sau:

– Sổ lưu công văn đi.

– Sổ lưu công văn đến.

– Sổ lưu phiếu gửi đi.

– Sổ đăng ký công văn đi.

– Sổ đăng ký công văn đến.

– Sổ chuyển giao công văn.

– Tài liệu về việc bổ nhiệm các đại biểu Hội đồng Thuộc địa, về phụ cấp đi đường, lưu trú cho đại biểu Hội đồng Thuộc địa; các giáo sư biệt phái làm tốc ký tại Hội đồng Thuộc địa.

– Tài liệu về việc thăng thưởng cho nhân viên châu Âu và nhân viên bản xứ.

– Tài liệu về việc thiết lập, tổ chức của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ.

– Hồ sơ các kì họp thường kỳ và bất thường của Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ.

– Sổ ghi báo cáo tại Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ.

– Báo cáo của Ủy ban Thường trực Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ.

– Tài liệu về các kỳ họp của Ủy ban Thường trực Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ.

– Các báo cáo của Ủy ban Ngân sách và Công chánh.

– Tài liệu về điều tra các đơn khiếu nại, tố cáo các hương chức.

– Tài liệu về hoạt động của Ủy ban Kiểm tra ấn phẩm, sách giáo khoa ở Nam Kỳ.

– Tài liệu về nhập tịch.

– Báo cáo về tình hình chính trị, kinh tế của các Tỉnh trưởng và các Nha, Sở ở Nam Kỳ (để chuẩn bị soạn thảo sách xanh).

– Tài liệu về xây dựng, sửa chữa các trường học, bệnh viện…

– Tài liệu về việc khánh thành Trường Canh nông Bến Cát (Thủ Dầu Một), sửa chữa các trường Chasseloup – Laubat, trường Tân Định, xây dựng bệnh viện Chợ Quán, nhà chọn giống ở Thảo Cầm viên Sài Gòn.

– Tài liệu về đào kênh ở các tỉnh Nam Kỳ, mở rộng kênh Trà Cú (Rạch Giá – Sóc Trăng); nạo vét kênh Rạch Ngư (Rạch Giá); xin đào kênh Tổng Đốc Lộc của các điền chủ ở Đồng Tháp Mười.

– Tài liệu về đường sắt Sài Gòn – Gò Vấp, di chuyển nhà ga.

– Tài liệu về việc Nam Kỳ tham dự Hội chợ Marseille.

– Danh sách các điền chủ ở Vũng Tàu.

– Đơn thỉnh cầu, khiếu nại của người dân các tỉnh Nam Kỳ về vấn đề đất đai; chuyển nhượng đất đai ở các tỉnh.

-Tài liệu về vận tải đường sông.

– Tài liệu về việc thành lập cơ quan tự trị Thương cảng Sài Gòn.

– Biên bản họp của Hội đồng Quản trị Thương cảng Sài Gòn.

– Tài liệu về việc mở rộng Thương cảng Sài Gòn.

– Bản sao các điện tín của các Tỉnh trưởng Nam Kỳ về thiệt hại mùa màng do lũ lụt gây ra…

– Thành lập các trại phong, trại mồ côi.

– Tài liệu quy định về cầm đồ.

– Tài liệu về việc chuẩn bị ngân sách, kiểm tra dự toán ngân sách, ngân hàng, tín dụng điền địa.

– Tài liệu về thuế quan, các báo cáo thống kê về thuế quan, thuế xuất khẩu lúa gạo sang Philippine, khai thác, miễn thuế bưu chính, thuế muối, thuế thuốc lá, thuế điền địa, thuế xe hơi, xe máy, thuế thân của công dân người Pháp và người nước ngoài ở Nam Kỳ, điều chỉnh thuế môn bài, lệ phí cấp thẻ căn cước.

– Tài liệu về tình hình tài chánh ở Đông Dương.

[1] Répertoire législative de la Cochinchine, année 1889, pages 602 – 607

[2] Journal Officiel de la Cochinchine, année 1881, pages 261

[3] Journal Officiel de la Cochinchine, année 1887, pages 1073

[4] Journal Officiel de la Cochinchine, année 1888, pages  946

[5] Journal Officiel de l’Indochine, année 1910, pages 1106 – 1107

[6] Journal Officiel de l’Indochine Française, année 1911, pages 102 – 103

[7] Journal Officiel de l’Indochine Française, année 1922, pages 1672 – 1677

[8] Journal Officiel de l’Indochine Française, année 1931, pages 2747 – 2748

[9] Journal Officiel de l’Indochine Française, année 1936, pages 2854

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *