Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi / GIÁ TRỊ CỦA TÀI LIỆU PHÔNG PHỦ THỐNG ĐỐC NAM KỲ ĐỐI VỚI CÁC LUẬN ÁN, LUẬN VĂN SAU ĐẠI HỌC NGÀNH LỊCH SỬ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC TỈNH PHÍA NAM

GIÁ TRỊ CỦA TÀI LIỆU PHÔNG PHỦ THỐNG ĐỐC NAM KỲ ĐỐI VỚI CÁC LUẬN ÁN, LUẬN VĂN SAU ĐẠI HỌC NGÀNH LỊCH SỬ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC TỈNH PHÍA NAM

TS Lê Hữu Phước

 

Tập hợp bản gốc các tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của Phủ Thống đốc Nam Kỳ từ năm 1858 đến năm 1945, tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ (được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II) là một di sản tư liệu quý báu đối với các nhà nghiên cứu và các nghiên cứu sinh, học viên cao học của nhiều ngành khoa học – trong đó có ngành Lịch sử.

Với tư cách là “những dấu vết do tư tưởng và hành động của con người từ quá khứ để lại” (theo Langlois và Seignobos), là “những dấu vết còn lại sau một sự kiện lịch sử, phục vụ cho nhận thức và khôi phục sự kiện đó” (theo Bernheim), tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ thực sự là một kho sử liệu có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam (và lịch sử thế giới) ở thời kỳ cận – hiện đại.

Nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử dân tộc, lịch sử vùng đất Nam Bộ nói chung và từng địa phương ở Nam Bộ nói riêng đã khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ. Chắc hẳn sẽ có nhiều tham luận đề cập đến nội dung quan trọng này trong Hội thảo, do vậy bài viết này muốn đi vào một khía cạnh khác; đó là giá trị của tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ đối với các luận án, luận văn sau đại học ngành lịch sử ở TPHCM và các tỉnh phía Nam (trong phạm vi mà tác giả bài viết này được biết, được tham dự hoặc trực tiếp thực hiện).

*

Ở các tỉnh phía Nam, công tác đào tạo sau đại học (trình độ nghiên cứu sinh) ngành lịch sử chính thức bắt đầu từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX. Cơ sở đầu tiên thực hiện nhiệm vụ này là Viện Khoa học xã hội tại TPHCM. Bản thân tôi là NCS khóa 1 (1988-1992) của Viện Khoa học xã hội tại TPHCM với đề tài luận án phó tiến sĩ Lịch sử Nhà tù Côn Đảo (1862-1930). Hoàn toàn có thể khẳng định: nếu không có nguồn sử liệu quý báu của phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, luận án sẽ không thể nào hoàn thành được.

Mặc dù mới ở buổi đầu tập sự nghiên cứu, tôi cũng nhận thức được rằng một đề tài khoa học trình độ sau đại học phải đáp ứng được yêu cầu “nghiên cứu gốc”, phải tiếp cận và khai thác cho được những tài liệu gốc liên quan đến đề tài. Và tôi đã tìm thấy tại phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ những tài liệu gốc vô giá như Biên bản chiếm hữu quần đảo Côn Lôn (ngày 28-11-1861), Bản đồ tổng quát nhà tù Côn Đảo năm 1874, Sơ đồ hệ thống nhà tù Côn Đảo năm 1876, Sơ đồ hệ thống nhà tù Côn Đảo năm 1885, Bản  danh sách tù nhân quê Trung Kỳ năm 1912, các bản quy chế của nhà tù Côn Đảo, các báo cáo của quản đốc nhà tù về những cuộc nổi dậy tiêu biểu ở Côn Đảo v.v… Trong đó, một số tài liệu lưu trữ lần đầu tiên đã được công bố trong luận án, góp phần làm rõ thêm tầm vóc và giá trị của khu di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt Nhà tù Côn Đảo.

Tôi được biết trong những năm tiếp theo, tại Viện Khoa học xã hội TPHCM, một số luận án phó tiến sĩ/ tiến sĩ sử học được bảo vệ thành công cũng chủ yếu dựa vào nguồn tài liệu lưu trữ phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ; như:

  • Kinh tế Hà Tiên – Rạch Giá thời Pháp thuộc (1867-1939) – luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Thùy Dương (1997),
  • Tình hình kinh tế An Giang thời Pháp thuộc (1867-1929) – luận án phó tiến sĩ của Võ Thị Hồng (1997),
  • Nghề chạm khắc gỗ ở thành phố Hồ Chí Minh từ thế kỷ XVII đến nay – luận án phó tiến sĩ của Hoàng Anh Tuấn (1997),
  • Cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1860 – 1939)- luận án tiến sĩ của Lê Huỳnh Hoa (2001),
  • Kinh tế nông nghiệp Tiền Giang thế kỷ XIX – luận án tiến sĩ của Nguyễn Phúc Nghiệp (2002) v.v…

Trong những năm làm công tác giảng dạy và quản lý đào tạo sau đại học tại Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQGTPHCM; giảng dạy và tham gia các hội đồng chấm luận văn, luận án tại Trường ĐH Sư phạm TPHCM, Viện Khoa học xã hội TPHCM, tôi được biết thêm nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ ngành lịch sử đã hoàn thành và bảo vệ thành công nhờ khai thác tốt nguồn tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ.

Về luận án tiến sĩ, có thể kể ra đây một số đề tài như:

  • Kinh tế Sóc Trăng thời Pháp thuộc 1867 – 1945 của Trần Thị Mai (1998),
  • Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Nguyễn Nhã (2002),
  • Trí thức Nam Kì đối mặt với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp trong nửa sau thế kỷ XIX (qua các trường hợp Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Trương Vĩnh Ký) của Trần Thị Kim Nhung (2003),
  • Nghề gốm ở thành phố Hồ Chí Minh từ thế kỷ XVIII đến nay của Phí Ngọc Tuyến (2005),
  • Đấu tranh của những người cộng sản ở nhà tù Côn Đảo 1930-1945 của Trịnh Công Lý (2005),
  • Quan hệ giữa các tổ chức yêu nước và cách mạng Việt Nam với nước ngoài (1904-1929) của Trần Thanh Nhàn (2008),
  • Phong trào dân tộc dân chủ ở Nam Kỳ (1930-1945) của Phạm Thị Huệ (2011) v.v …

Về luận văn thạc sĩ, vì số lượng luận văn khá nhiều và bản thân không nắm bắt được đầy đủ, nên tôi chỉ điểm qua một số đề tài như:

  • Cuộc khởi nghĩa tháng 11/1940 ở Sóc Trăng của Trịnh Công Lý (1994),
  • Tôn Đức Thắng và phong trào công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn của Phạm Dưong Mỹ Thu Huyền (1999),
  • Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống văn bản hành chính Việt Nam thời Pháp thuộc 1862-1945 của Nguyễn Văn Kết (2002),
  • Sự phát triển du lịch ở Khánh Hòa từ cuối thế kỷ XIX đến nay của Nguyễn Thị Kim Hoa (2004),
  • Quan hệ giữa các tổ chức yêu nước Việt Nam với nước ngoài đầu thế kỷ XX của Trần Thanh Nhàn (2004),
  • Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn (1858-1884) của Phan Thị Thúy Hằng (2008),
  • Những cống hiến và vai trò của Nguyễn An Ninh trong phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam (1922-1943) của Nguyễn Văn Gia Thụy (2009),
  • Hoạt động giáo dục ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1862 – 1945) của Cù Thị Dung (2011) v.v…

Nếu được thống kê đầy đủ, số lượng luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ ngành lịch sử trong cả nước đã khai thác, sử dụng nguồn tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ có thể lên đến vài trăm đề tài. Chỉ xem xét ở khía cạnh đó, có thể thấy được giá trị lớn lao của nguồn tài liệu này trong việc góp phần tái hiện lịch sử Việt Nam (và cả lịch sử khu vực, lịch sử thế giới) trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa, đối ngoại… ở một thời kỳ có những chuyển biến hết sức sâu sắc trong tiến trình lịch sử dân tộc. Cụ thể và trực tiếp hơn, nguồn tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ đã góp phần rất quan trọng vào thành quả nghiên cứu và đào tạo sau đại học ngành lịch sử ở TPHCM, ở các tỉnh phía Nam và trong cả nước. Nếu kể thêm những công trình nghiên cứu của các ngành khoa học khác cũng như các dự án phát triển kinh tế – xã hội lấy chất liệu từ tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, càng có thêm cơ sở để khẳng định và tôn vinh tính xác thực, độc đáo và tầm ảnh hưởng của nguồn tài liệu này trên bình diện quốc gia và quốc tế.

*

Bài báo ảnh “Nghề mai một”, đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần, số ra ngày 24-11-2013 có ghi: “Thời nay, người ta liên tục tạo ra những bảo tàng online nhằm lưu giữ các hình ảnh, câu chuyện của quá vãng, thậm chí có cả một hệ thống toàn cầu nhằm lưu giữ và phát huy di sản, hi vọng tái tạo bằng cách này hay cách khác những di sản đó thành một nguồn hứng khởi mới của sáng tạo theo công thức mà Hội đồng quốc tế các bảo tàng (Intenational Council of Museums – ICOM) đề ra: Ký ức + Sáng tạo = Biến đổi xã hội”.

Vâng, bằng ký ức được lưu giữ trân trọng như nguồn tài liệu phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, hợp cùng tinh thần sáng tạo của người nghiên cứu, chúng ta hy vọng sẽ góp phần làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *