Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi / Hội thảo khoa học / TÀI LIỆU VỀ MỘT GIÁO PHẬN CỦA VIỆN PHẬT GIÁO Ở NAM KỲ

TÀI LIỆU VỀ MỘT GIÁO PHẬN CỦA VIỆN PHẬT GIÁO Ở NAM KỲ

PGS.TS. Pascal Bourdeaux

(Lược dịch: Cù Thị Dung)

  1. Nguyện vọng chấn hưng tôn giáo

Ở Việt Nam, hoạt động tôn giáo trong những năm 1/3 đầu thế kỷ 20, chính xác hơn là vào khoảng thời gian giữa 2 cuộc chiến, có thể cho thấy 4 xu hướng chính sau: hình ảnh về một luân lý hoàn tục của thuyết Khổng tử truyền thống; sự hồi sinh tính cách sùng đạo của người dân, kể cả việc hiến thân, cho các hiện tượng du nhập, cũng như các phong trào tôn giáo mới; sự khó khăn của giới giáo sĩ trong việc khẳng định lại sự nghiệp truyền giáo của đạo thiên chúa; một phong trào chấn hưng phật giáo quan trọng, nhắm đến việc đưa học thuyết thức tỉnh này phù hợp với hiện đại. Paul Mus, chẳng phải ông ta đã từng khẳng định vấn đề này rằng “Phật giáo là một trong những yếu tố cơ bản của sự cách tân ở Châu Á”. Nếu người ta nghiên cứu “đạo phật của người Việt”, thì người ta sẽ thấy rằng, đạo này, theo nhiều cách diễn giải, đã theo xu hướng thống nhất và trần tục của đạo phật Đại thừa từ Trung Quốc, dưới ảnh hưởng không chỉ từ sự suy tàn của đế chế vào năm 1911, mà còn từ những giá trị thế tục của nước Cộng Hòa thứ 3.

Ở miền Nam Việt Nam, các xu hướng nói trên có sự khác biệt đôi chút: sự giao thoa và chuyển giao văn hóa được ủng hộ hơn, đã mang lại một sự hội tụ tôn giáo rõ hơn thời kỳ trước. Về việc chấn hưng phật giáo, được thực hiện theo đúng truyền thống văn hóa, đúng với thực tế và dân tộc (Kinh, Hoa kiều, Khmer). Người Khmer cũng đã tìm hiểu nội dung cải tổ phật giáo của người Cao Miên. Tuy nhiên, khía cạnh này đôi khi cũng bị bỏ qua hoặc không được đánh giá cao. Những đổi mới về thể chế và những tiến bộ khoa học – không tính đến các công trình phục hồi đền thờ – kể từ năm 1920, không phải là không ảnh hưởng đến cộng đồng người Miên ở Nam kỳ, thậm chí là cả người Việt đã hoặc mới đến khai hoang ở vùng đất này. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự dịch chuyển của một bộ phận người dân đã hình thành nên một cộng đồng dân cư đa sắc tộc, thậm chí xuyên biên giới. Chính vì sự giao thoa của hai nền văn minh hiện đại này đã giải thích các nét độc đáo của phật giáo lúc bấy giờ và kéo dài cho đến ngày nay.

Dĩ nhiên toàn bộ vấn đề chấn hưng tôn giáo trước hết phải tương thích với các mục tiêu xây dựng triều đại ở Đông Dương. Mặc dù đây không phải là sáng kiến của người Pháp, nhưng việc này cũng cần phải được sự ủng hộ của họ. Bởi vì, một mặt, những người Cộng hòa trung lập và những người tôn sùng tín ngưỡng cần phải khẳng định một mối quan hệ Quốc gia – Tôn giáo theo Luật năm 1905. Mặt khác, sự xuất hiện chủ nghĩa dân tộc ở Đông Nam Á, có thể dựa vào tôn giáo của  Quốc gia, có lý do đưa ra các quyết định hành chánh ảnh hưởng đến lĩnh vực tôn giáo dưới hình thức là người bảo trợ.

Thuyết “Tam giáo” (gồm Khổng giáo, Đạo giáo và Phật giáo), cũng như những quan điểm của đạo Khổng tử và thuyết thế tục tương tự, đã cho phép nghi ngờ về việc đấng thiêng liêng quyền uy truyền thống ở Việt Nam không mang lại hậu quả gì về mặt chính trị; những quan điểm này đưa vào giáo dục đã gây ra nhiều cuộc tranh luận quyết liệt với các nhà trí thức. Chính sách tôn giáo đã sớm được định hướng bằng sự dung hòa giữa các tôn giáo. Sự lôi cuốn của triết học và sự sùng đạo của người dân, xuất hiện vào những năm 1930, đặc biệt là đối với đạo phật, là một vấn đề đối với nhà cầm quyền thuộc địa. Sự đổi mới này đã làm gia tăng tính thực tế, kiến thức và niềm tin tôn giáo. Đồng thời, nó thúc đẩy sự ra đời của các Hội Văn hóa Việt Nam, với mục đích thống nhất Phật giáo, mà không gây nên những căng thẳng giữa xã hội với tôn giáo.

Ngược lại, ở Kampuchia, là tình trạng các giáo phái Phật giáo được tổ chức theo thứ bậc cao thấp như Vương triều. Kể từ đầu TK19, giáo phái Phật giáo của Kampuchia được chia thành 2 giáo phái: mahanikaythommayut. Hai giáo phái này khác nhau về học thuyết, tín ngưỡng, giới luật, giáo lý và các cách thức nhập định. Tuy nhiên, quá trình giảng dạy, cũng như tu luyện trong các chùa đặt dưới sự quản lý của các Viện Phật giáo. Việc cảm nhận phật pháp và dịch kinh phật ra quốc ngữ đã gây nên một cuộc bút chiến trong Ủy ban về Kinh Tạng. Bên cạnh đó, những người theo xu hướng truyền thống và hiện đại đã tranh cãi về việc cải tổ giáo hội. Bởi vì, việc cải tổ này không phải không gây nên hậu quả cho các báo cáo về những người theo đạo hoặc hòa giải mâu thuẫn giữa họ. Khi bắt đầu tìm hiểu tư liệu về đạo phật qua các văn bản cổ, một số vấn đề mới đã nảy sinh liên quan đến thành phần, cũng như bản chất và nhiệm vụ của đạo. Việc truyền đạo cũng như giáo luật chính là những mối bận tâm lớn nhất.

Cuối cùng, các tiêu chí về địa chính trị cũng can thiệp vào việc cải tổ các khu vực tôn giáo và lãnh thổ quốc gia, nơi đang muốn thoát khỏi các cơ quan đại diện và ranh giới thuộc địa. Nói tổng quát hơn, đó là, sự truyền bá Phật giáo Nguyên thủy từ Khmer sang Thái Lan, Miến Điện và Tích Lan đã bị thay đổi: Việc thành lập khối tư tưởng phật giáo Lào – Khmer đã tăng cường sự hợp tác giữa hai dân tộc đang nằm dưới chế độ bảo hộ, đồng thời đặt họ ra khỏi ảnh hưởng của cuộc cải cách chính trị – tôn giáo Thái. Đặc biệt, sự hấp dẫn về văn hóa và khoa học của Thái có thể cạnh tranh với sự thống trị về mặt kỹ nghệ và chính trị của phương Tây.

Tuy nhiên, những sự khác biệt này không phải là một trở ngại cho việc xem xét phong trào chấn hưng phật giáo. Khi nghiên cứu các khía cạnh cải tổ phật giáo có thể làm sáng tỏ sự hiểu biết của chúng ta về thực tiễn cá nhân và cộng đồng, quá trình thế tục hóa, sau cùng, là những căng thẳng chính trị – tôn giáo đã xảy ra ở nhiều nơi. Trong trường hợp này, qua việc đổi mới của phái Đại thừa Việt Nam, cộng với chủ nghĩa cải lương/ chủ nghĩa hiện đại của Phật giáo Nguyên Thủy Kampuchia, cho phép thấy được hoạt động tôn giáo ở các địa phương tại một nước thuộc địa, bao gồm cả Nam kỳ và Kampuchia. Chúng ta biết rằng, chấn hưng Phật giáo được khởi xướng, hoặc từ Phnompenh, hoặc từ Sài Gòn vào những năm 1920. Tiếp đến là một sự thay đổi nhỏ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long từ giữa những năm 1930 đến đầu những năm 1940. Đây chính là những gì mà được xem là giai đoạn thứ hai của phong trào chấn hưng, mà qua đó, người ta thấy xuất hiện một số thành ngữ mới trong tôn giáo sinh ra từ phái Đại thừa (Tịnh độ cư sĩ, “dao xen”, sau nổi tiếng với tên gọi là Phật giáo Hòa Hảo) và từ Phật giáo Nguyên Thủy (những câu nói của người ăn xin hay còn gọi là “hệ phái khất sĩ”, dựa trên tổ chức đầu tiên của Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam. Cũng chính vào thời điểm này mà chính quyền thuộc địa đã vội vã đưa vào chương trình nghị sự việc đào tạo tại chỗ đội ngũ tri thức dân tộc thiểu số Kampuchia. Chính bối cảnh khó khăn của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đã thúc đẩy xem xét lại hoạt động của Viện Phật giáo. Sự trì hoãn đã nhường chỗ cho việc thực hiện dự án mở một giáo phận thuộc Viện Phật giáo ở Nam kỳ.

  1. Các Hội Phật giáo và Viện Phật giáo

Mặc dù bước đầu đã được nhìn nhận, từ những năm đầu thế kỷ và được đánh dấu bằng hàng loạt các sự kiện ở Trung Quốc. Chính phong tục tập quán đã bắt đầu cho phong trào chấn hưng phật giáo vào năm 1923 ở Nam kỳ. Đây cũng là thời kỳ mà những bài viết đầu tiên kêu gọi cách tân giáo dục và thực hành xuất hiện trên Đông báo thời Pháp. Trong những năm đầu này, một số nhà trí thức, các nhà quảng cáo hoặc các quan chức nhỏ, mỗi người làm theo cách của mình để ủng hộ các nhà sư (như Khánh Hòa hoặc Thiện Chiếu), bằng cách kêu gọi thảo luận về chính trị – triết học và bảo vệ các giá trị truyền thống. Về phía các nhà chính trị Pháp, họ đã bắt đầu phản ứng: phật giáo bắt đầu thu hút nhiều người phương Tây. Họ đã tìm thấy một con đường mới của sự cứu rỗi, và đã tìm ra được phương tiện khắc phục thuyết nghìn năm, thậm chí ngay cả chủ nghĩa duy lý của Kito giáo. Tuy nhiên, sự đổi mới của đạo Phật đã gặp phải sự chỉ trích từ các hội công giáo, và những người theo đạo Khổng Tử truyền thống, giới tri thức trẻ cực đoan hoặc những người không tín ngưỡng. Phật giáo đã gây nên những lo lắng về một quyền lực bản địa. Đó cũng chính là tham vọng của đạo Cao Đài, cũng đã tự xưng là Phật giáo cách tân.

Vào những năm đầu 1930, các Hội Phật giáo đầu tiên đã chấp nhận gửi kiến nghị về đạo luật lên chính quyền thuộc địa. Tiếp sau đó, đến năm 1931, là việc cho ra đời Hội nghiên cứu Phật giáo Nam kỳ (gọi tắt là Hội Phật học). Kế đến là các tổ chức trực thuộc được thành lập tại Huế, theo đơn đề nghị vào tháng 2.1932, và ở Hà Nội năm 1933. Các nhà sư uyên thâm nhất đã cho ra đời các sách kinh cầu nguyện dịch từ tiếng Trung sang quốc ngữ. Một số khác cho xuất bản các tạp chí, bài viết nhằm cảm hóa người dân và thiết lập một cộng đồng xã hội mới xung quanh chùa. Các tăng lữ Phật giáo luôn gần gũi người dân hơn là giới học thức. Phật giáo đồng thời cũng là chủ đề cho các cuộc thảo luận và là mục tiêu tín ngưỡng của người dân vì thuyết thiền định và tịnh độ (Tịnh độ tông) của đạo này.

Nhưng lời kêu gọi thống nhất quốc gia, mặc dù chịu sự kiểm soát về mặt hành chính, nếu không, nó có thể gây nên sự miễn cương, từ chối hoặc chống lại các dự thảo. Bởi vì việc tiết lộ giáo lý thuần túy không gây ra vấn đề gì, vấn đề ở chỗ là kết hợp các giáo phận Phật giáo lại và chính thức hóa một hệ thống tổ chức có phân cấp. Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các Hội Phật giáo khác, đang tìm cách bảo vệ quyền tự chủ của mình và thoát ra khỏi tổ chức Phật giáo “chính thức”. Do đó, Thống đốc Nam kỳ Pages buộc phải tung ra một cuộc điều tra vào mùa hè năm 1935, để đánh giá sự phổ biến và bản chất của phong trào chấn hưng Phật giáo, xem xét các đơn xin thành lập các Hội Phật giáo mới, và đặc biệt là sáng kiến “bầu cử một lãnh đạo tối cao của Phật giáo ở Nam kỳ” đang nằm dưới sự kiểm soát của họ.

Cho đến năm 1935 có 6 hội Phật giáo được phép hoạt động hợp pháp ở Sài Gòn và  trong một số tỉnh ở Nam Kỳ. Cũng cần lưu ý rằng, trong số đó, có hai Hội đầu tiên hoạt động ở tỉnh Sóc  Trăng (Tương Tế Phật học hội) và ở Trà Vinh (Lưỡng Xuyên Phật học hội). Nói cách khác, những hội này được thành lập trong các tỉnh, nơi có nhiều người Kampuchia sinh sống và đồng nhất. Tại đây việc thực hành tôn giáo đã được thực hiện và ảnh hưởng đến giáo dục ở An Nam. Tuy nhiên, một số văn bản hành chánh đã không có đề cập đến tình hình hoạt động của tôn giáo, thậm chí nó cũng không đề cập đến tiến trình chấn hưng Phật giáo, đang được tiến hành đồng thời ở Phnompenh và đang thu hút một số thanh niên Kampuchia.

Chúng ta hãy nhớ lại rằng vào năm 1914, người ta đã thành lập trường Pali, sau được nâng cấp thành trường cao đẳng Pali năm 1922. Một thư viện hoàng gia đã được chuyển thành một trung tâm nghiên cứu. Vua Monivong cuối cùng đã cho thành lập một Ủy ban về Tam Tạng năm 1929 để làm rõ những vấn đề khó hiểu và tiến hành biên dịch kinh phật mà sẽ phải mất hàng nhiều thế kỷ. Mặt khác, Viện Phật học đã chính thức được lấy tên “Viện Nghiên cứu Phật học bản địa”. Viện này được thành lập theo Sắc lệnh ngày 22/01/1930 và khánh thành vào ngày 12/5 cùng năm. Việc thành lập một trung tâm nghiên cứu Phật học ở Đông Dương tại Phnompenh đã làm cho mọi người biết đến cộng đồng người Khmer và đến năm 1942 thì chức danh chủ tịch “Hội Cải thiện tri thức và thể chất của người Kamphuchia ở Nam Kỳ” về tay người Khmer.Từ giờ trở đi, các nhà sư rất quan tâm đến việc đào tạo và tham gia vào các công trình phục hồi tôn giáo. Họ cũng đảm bảo một mối liên lạc trực tiếp với Vương quốc của mình thông qua các trường học tại chùa, nơi đã được dự định để thành lập một mạng lưới thật sự nằm dưới sự kiểm soát của các nhà sư

Để đi đến tình hình này, sau gần 10 năm thảo luận và trì hoãn, theo đề nghị của Thống đốc Nam Kỳ Krautheimer, một nhiệm vụ đầu tiên được giao cho Suzanne Karpèles, Huot Thanh thuộc Thư viện Hoàng Gia vào tháng 1/1928 để nghiên cứu về tình hình tinh thần của người Cao Miên ở Nam Kỳ. Kết luận đã chỉ ra rằng: “Nếu người ta không cố gắng tái quốc gia hóa dân tộc thiểu số này, thì nó sẽ biến mất khỏi vùng này, hoặc bị đẩy lùi vào trong các cánh rừng, hay hoàn toàn bị đồng hóa bởi các yếu tố An Nam”. Trước tiên cần phải đào tạo các nhà sư và Thống đốc phải là người cung cấp các học bổng cho vấn đề này. Các nhà sư người Cao Miên đã được đưa đến Pnompenh để tham gia các khóa học dành riêng cho họ, để họ được học trong một môi trường hoàn toàn của Kampuchia và đạo Phật. Với mục đích là dạy lại tiếng mẹ đẻ và Phật giáo thuần túy. Hàng chục nhà sư đã được đưa đến Pnompenh để học tiếng Pali. Một thư viện di động đã thực hiện nhiều chuyến đi lại vào mùa khô để phục vụ. Sau cùng, nhờ vào những chuyến công tác đầu tiên ở Nam Kỳ này mà  ông Karpèles, vào cuối năm 1929, đã đề nghị thành lập viện phật giáo có nhiệm vụ thống nhất các hoạt động có liên quan.

Tiếp theo sáng kiến này, đó là việc mở các giáo phận địa phương ở Lào, trước tiên là ở Vientian vào tháng 2 năm 1931, nơi có một thư viện và một trường nghệ thuật tôn giáo, kế đến ở Luang Prabang (năm 1933). Tuy nhiên, cái quan trọng nhất là viện Phật học vẫn chưa được triển khai ở Nam Kỳ, mặc dù đã nhiều lần đề nghị. Trong bản báo cáo công tác rất chi tiết, dựa trên bản giới thiệu trong phần đầu của Kinh Tam Tạng xuất bản vào tháng 6-7/1932, Karpèles đã chỉ trích gay gắt Chủ nghĩa đồng hóa văn hóa Pháp, sự tham ô hối lộ của các hương chức người Việt, sự đối xử phân biệt và một số rào cản đối với nông dân người Kampuchia, những người “đơn giản là người bản xứ có quyền ăn mừng các lễ hội tôn giáo của mình và làm ma chay cho người đã khuất”. Sự phân biệt chủng tộc này đã chứng minh rằng, các quan hệ xã hội của người Cao Miên nên được đảm bảo bởi một người đại diện của họ, mà không cần qua trung gian là người An Nam. Và riêng về vấn đề tôn giáo, người dân và các nhà sư nên có mối quan hệ trực tiếp đến giới tăng lữ người Campuchia.

Về phía mình, chính quyền dân sự nhận thấy rằng việc xây dựng nhà ở cho bình lính người Kamphuchia ở Nam Kỳ và các học bổng nghiên cứu – ngoài một số lượng được phép còn lại rất hạn chế – dường như cũng đã đáp ứng được nhu cầu. Song song với những gì xảy ra ở Cao Miên, một số những cuộc thảo luận cũng đã nổ ra giữa những người theo chủ nghĩa hiện đại và truyền thống trong giáo phận Manahicay ở Nam Kỳ. Ngoài ra, các nhà sư sau khi được đào tạo trở về đã không quên khẳng định vai trò của Chính phủ Hoàng gia trước đạo Cao Đài khi thấy cần thiết. Để chứng minh cho mối liên hệ về mặt chính trị đang hiện hữu giữa Phnompenh và các nhà sư ở Nam Kỳ, một cuộc điều tra vào năm 1934 được thực hiện ở tỉnh Trà Vinh đã làm cho chính quyền thuộc địa phải cảnh giác trước Viện Phật giáo ở Phnompenh, nơi bảo vệ những  người Khơme và ủng hộ họ khiếu kiện, thay vì chỉ được giới hạn trong vai trò là trường tôn giáo. Để giảm bớt quan hệ với các tu viện của Thái Lan, Viện Phật giáo đã tái khẳng định đặc tính của Phật giáo Kamphuchia và các yếu tố văn hóa đặc biệt và phổ biến. Vấn đề này cuối cùng đã đặt nền móng cho chủ nghĩa yêu nước mới. Rất nhiều nhà sư và cư sĩ người Khmer không xa lại gì với Son Ngoc Thanh, người này đã bước vào thư viện hoàng gia Kampuchia năm 1933, sau đó, là Viện phật giáo vào năm 1935 trong vai trò là nhân viên của “Ban nghi lễ và phong tục”. Theo lời của sử gia Ann Hansen, việc mở cửa Viện Phật giáo là “thời điểm quan trọng trong lịch sử Phật giáo tại Kampuchia, một bước ngoặt gắn kết trí tưởng tượng Phật giáo hiện đại và chủ nghĩa quốc gia”. Các nỗ lực của chính quyền thuộc địa nhằm thành lập một Hội Phật giáo Kampuchia vào năm 1939, giống như các Hội Phật giáo Việt Nam đã được thành lập trước đây tại An Nam và Kampuchia, đã không mang lại ích lợi gì. Tất cả cho thấy rõ ràng về vị trí nghịch lý của người Khmer ở Đông Dương thuộc địa và những mâu thuẫn về lợi ích mà nó đã gây ra.

  • Bước ngoặt năm 1942

Thế chiến thứ hai bùng nổ đã dẫn đến những thay đổi chính trị ở Đông Dương. ở Việt Nam, nếu người dân phải sống trong bối cảnh biên giới chung với Miền Nam Trung Quốc, những vấn đề phức tạp ảnh hưởng của cuộc chiến Trung – Nhật, thì Kampuchia lại đứng ngoài lề. Tuy nhiên, họ lại gặp phải những xung đột với Thái Lan. Vì vậy, Nước Pháp đã phải củng cố quân đội ở dọc biên giới. Người Thái đã nhanh chóng phản ứng lại ở trên biển và đất liền năm 1941. Vấn đề quân sự nhanh chóng được giải quyết, tuy nhiên bối cảnh căng thẳng vẫn tiếp diễn cho dù đã hòa giải xong vấn đề dân tộc và độc lập. Hơn nữa các tham vong đế quốc của Nhật Bản đã nảy sinh bằng cách ký các hiệp ước với chính quyền Pháp của Vichy. Tình hình ở thuộc địa đã bị chao đảo dưới áp lực của lực lượng khởi nghĩa được Nhật Bản chuẩn bị và ủng hộ. Người ta thấy những hệ quả của nó trong những năm 1942-1943.

Cho tới thời điểm này, phong trào trấn hưng Phật giáo vẫn tiếp tục mà không có một sự thay đổi lớn. vào tháng 7/1940 toàn quyền Đông Dương mới nhậm chức, Đô đốc Decoux, đã khẳng định vai trò và nhiệm vụ của viện Phật giáo ở Kampuchia và Lào. Giờ đây nằm dưới sự quản lý của ông Pierre Dupont, Viện Phật giáo đã trở nên ít phổ biến hơn. Ông Pierre Dupont vẫn tiếp tục theo đuổi các hoạt động theo như kế hoạch đã định. Tháng 4/1942, Hem Chieu và Son Ngoc Thanh đã được đưa đến Lào từ ngày 27-30 để tham gia vào lễ khánh thành chùa Wat Phra Kéo trong vai trò là đại biểu của Tổng hội Phật giáo. Họ cũng tham gia vào các buổi thảo luận v/v nhập học vào trường Cao đảng Pali của những người đến từ Nam Kỳ và thành lập trường Sơ cấp Pali ở Nam Kỳ. Về tổ chức Tăng lữ ở địa phương, Thống Đốc Rivoal đã tỏ lòng biết ơn của mình bằng cách thống nhất quản lý Tăng lữ vào năm 1941: Thông qua các học thuyết và kỷ luật của tu viện. Tất cả đều phải chịu sự quản lý của các trưởng giáo phận Mahanicay và Thommayut được bổ nhiệm bằng một quyết định của Hoàng gia ở Pnompenh. Việc chỉ định một hoặc hai trưởng giáo phận tham gia vào Hội Phật giáo đang được xem xét. Dự án về một Giáo phận địa phương của Viện Phật giáo đã được nhắc lại một lần nữa.

 Đối với những người theo Đảng Cộng hòa và những người theo chủ nghĩa thế tục bị cáo buộc chịu trách nhiệm trước sự suy thoái về tinh thần. Decoux và chính quyền của mình đã thực hiện nhiều quy tắc của cuộc Cách Mạng Quốc Gia, đồng thời nhấn mạnh đến giá trị truyền thống, bản sắc nông thôn và đặc tính vùng. Việc cấm các hội kín hoạt động được áp dụng ở Đông Dương vào năm 1940 đã kéo theo sự đề cao giá trị của Phật giáo, Khổng giáo và tín ngưỡng làng xã, cũng như các gía trị đích thực ở vùng viễn Đông. Báo Nagaravatte, nhân dịp này đã tuyên bố vào tháng 3/1931 rằng, trường cao đẳng Bali là “một trường học dành cho quốc gia”. Sự kiện vua Sisowath băng hà vào tháng 4 đã làm sống dậy tham vọng thế tục và các cuộc tranh luận liên quan đến vương quyền. Những nhà trí thức đã lên tiếng chống lại sự La mã hóa của người Khmer, và chống lại sự ra đời của giáo lịch vào đầu năm 1942. Tinh thần và thực hành phật giáo, hơn bao giờ hết, chính là một sợi dây kết nối bảo tồn văn hóa với quốc ngữ.

Bị buộc tội tổ chức biểu tình chống Pháp, dưới tên gọi “sự nổi dậy của những cái bóng”, Hemchieu và Mundong đã bị bắt vào tháng 7/1942. Những lời buộc tội đã gây nên nhiều tranh cãi, tuy nhiên sự nghi ngờ về hành động chính trị không phải là không có cơ sở, đặc biệt là lời kêu gọi cải tổ tôn giáo và độc lập thông qua bất bạo động. Hoạt động này đã nhận được sự ủng hộ bí mật của người Nhật. Vì lợi ích của mình, họ đã huy động lực lượng tôn giáo với mục đích xây dựng một khối thịnh vượng ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương.

Trong những lần trán áp sau đó, Nhật Bản đã không can thiệp. Giới giáo chức của Trường Cao Đẳng Pali –  Bị đóng cửa cho tới cuối năm – đã hạn chế hoạt động truyền đạo. Viện Phật giáo – trực tiếp bị nghi ngờ đã phát động biểu tình – cần phải xem xét lại ngân sách và tổ chức của mình, cùng như tổ chức Phật  giáo trực thuộc khác: đó là tăng cường  kiểm soát và hành chính tập trung.

Về phía Việt Nam, một số biện pháp đã được đề ra nhằm thể chế hóa “một tôn giáo Phật giáo  thật sự”. Theo lời của ông Gautier, các biện pháp này nhằm cô lập tôn giáo và các hoạt động dân tộc chủ nghĩa thái hóa dưới sự bảo trợ của người Nhật. Các tổ chức công sản đã phải lẩn trốn từ sau thất bại của cuộc khởi nghĩa tháng 11/1940 ( Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Vào mùa hè năm 1943, sau đó năm 1944, Gautier đã thực hiện một loạt những nhiệm vụ ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Để đánh giá Chủ nghĩa Thiên niên và hoạt động của các tổ chức Phật giáo mới, được cho là tấm bình phong của các Hội kín, hay các tổ chức cách mạng.

Chính trong môi trường bạo loạn này, mà dự án thành lập một giáo phận để đào tạo tôn giáo cho người Kampuchia ở Nam Kỳ bị đặt dưới sự kiểm soát của các tham vọng chính trị. Ngày 8/2/1943, Nghị định số 912 của Toàn quyền Đông Dương đã khẳng định các dự án thiết lập giáo phận ở Paksé thay cho giáo phận ở Vientian, một trung tâm hoạt động hay “giáo phận địa phương” ở Nam Kỳ. Các đề xuất của ông Dupont về việc thống nhất tài chính và các chương trình hoạt động của Viện Phật giáo ở  toàn Đông Dương đã được thông qua. Trong thư ngày 8/3, Thống đốc Nam Kỳ đã khẳng định mong muốn, không những thành lập một trung tâm hoạt động, mà còn là một Giáo phận địa phương. Vào tháng 10/1942 một cuộc điều tra đã được thực hiện dành cho các Chủ tỉnh và các thành viên “Hội cải thiện tinh thần, trí thức và thể chất của người Kampuchia ở Nam Kỳ”. Tất cả đều ủng hộ dự án này. Mặc dù việc lựa chọn đã được tập trung chủ yếu vào tỉnh Trà Vinh, nhưng các cuộc thảo luận vẫn còn tiếp tục để đưa ra một quyết định cuối cùng. Một Hội Phật giáo được thành lập ở Sóc Trăng để quản lý kho có thể chứng minh được sự lựa chọn cuối cùng của chính quyền. Những hội tương tự cũng đã được thành lập tại các trung tâm trong các tỉnh tại Rạch Giá và Bạc Liêu cũng nằm trong chương trình thảo luận. Tuy nhiên, tỉnh Rạch Giá được xem là nơi có quá ít dân cư sinh sống và giới tăng lữ không được đào tạo tốt. Tỉnh Bạc Liêu, lại có quá đông dân Kampuchia (điều này không phù hợp với tình hình). Tỉnh Cần Thơ rất thu hút nhờ vào vai trò trung tâm và cộng đồng dân cư thưa nhưng đồng nhất. Cuối cùng là tỉnh Châu Đốc, đặc biệt là quận Tri Tôn là nơi rất đáng chú ý. Cuối cùng, Sóc Trăng đã nhận được đa số phiếu ủng hộ. Sau khi thành lập ủy ban thường trực, giáo phận Nam Kỳ của Viện Phật giáo được khánh thành vào tháng 4/1944.

Trong khi đó một nghị định mới (30/6/1943) liên quan đến tổ chức Mahanicay và Thommayut đã ra đời. Nó chỉ rõ về cơ cấu tổ chức, thể thức bổ nhiệm người đứng đầu giáo phận. 7 giáo phận Mahanicay và 1 Thommayut và đã được phân định ranh giới, trong đó có 395 chùa được phân bổ như sau:

Tỉnh Mahanikay Thommayut
Cần Thơ 38
Sóc Trăng 49
Bạc Liêu 45
Trà Vinh 111
Vĩnh Long 1
Rạch Giá 60
Châu Đốc 44 15
Long Xuyên 2 1
Hà Tiên 10
Tây Ninh 18
Thủ Dầu Một 1
  379 16

Vào năm 1944, một cuộc điều tra thứ hai liên quan đến thành lập các trường sơ cấp Pali, giống như trường sơ cấp ở Lào. Năm trước các trường này đã được thành lập ở Vientian, Savanakhet, Paksè, Ban Keun, Thakhek, Luang Prabang, Vang Vieng, Champhone và Saphay. Dự án đã được tất cả thống nhất và vấn đề  dân số cũng đủ để xác định nơi và số lượng thành lập. Song việc thành lập một nơi đào tạo như vậy có thể gây nên nhiều bất cập, vì cần phải có những người đào tạo ở bên ngoài đến để hỗ trợ cho sự thiếu hụt các giáo viên ở địa phương. Chủ tỉnh Châu Đốc có thể không nắm rõ về vấn đề này. Vào cuối 1944, một số những đề xuất được tổng hợp như sau:

Tỉnh Trường cần thành lập Trường đã thành lập
Thủ Dầu Một 1 1
Trà Vinh 11 111
Tây Ninh 1 18
Cần Thơ 5 38
Bạc Liêu 4 45
Sóc Trăng 8 49
Rạch Giá 2 60
Châu Đốc 3 59
Hà Tiên 0 10
Long Xuyên 0 3
Vĩnh Long 0 1
  35 395

Một số tư  liệu hiện có lại không tính được số lượng trường Pali đã được thành lập và không miêu tả được các hoạt động của giáo phận ở Nam Kỳ từ năm 1944. Tuy nhiên, có một số tài liệu cũng cho thấy rằng, việc đào tạo và hoạt động tôn giáo tương đối khiêm tốn cho tới khi xảy ra cuộc đảo chính của Nhật ngày 9/3/1945. Việc Thống Đốc Minoda ra văn bản ngày 8/7/1945 điều chỉnh  lại tổ chức của Ủy ban Thường trực Giáo phận đã không làm thay đổi được gì. Ngoại trừ sự thay đổi về nhân sự. Điều này đã dẫn đến sự ra đời một nhận thức mới nhanh chóng làm thay đổi chế độ quản lý viện Phật giáo.

  1. Kết luận

Khi nghiên cứu Giáo phận của Viện Phật giáo ở Nam Kỳ đã cho chúng ta thấy nhiều vấn đề và các nền tảng cơ bản trong việc thành lập các tổ chức Phật giáo hơn là các hoạt động đào tạo và truyền bá tư tưởng Phật giáo ở địa phương. Vì thiếu những quan sát thực tế liên quan đến vấn đề đa sắc tộc và đa văn hóa ở Đồng bằng Sông Cửu Long, do vậy chúng ta cần phải thêm vào các mục tiêu xây dựng của Đế quốc để hiểu rõ hơn sự miễn cưỡng ban hành các quyết định ủng hộ người dân Campuchia ở Nam kỳ. Khi phân tích toàn thể bối cảnh, người ta có thể thấy rõ rằng, việc thể chế hóa luôn đi cùng với việc tăng cường kiểm soát hành chính trong trường hợp cần thiết, cụ thể là những năm 1942-1943. Năm 1940 sự thay đổi chế độ chính trị đã định hướng lại chính sách văn hóa và tôn giáo của chính phủ toàn quyền Đông Dương. Kế đến, sự có mặt và ảnh hưởng ngày càng lớn của Nhật đối với các phong trào dân tộc Việt Nam và Kampuchia đã can thiệp vào các lĩnh vực chính trị và Tôn giáo.

Từ các nguồn tài liệu khác (lời khai, bằng chứng, công văn trao đổi giữa Viện phật giáo và giáo phận địa phương, các bài báo…) đã cho phép chúng ta hiểu rõ hơn về giáo dục, tôn giáo. Các cuộc điều tra cấp tỉnh và một số báo cáo của trường Viễn Đông Bác Cổ đã cho phép vẽ nên một bức tranh khá chính xác về các hoạt động tôn giáo của người Kampuchia ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long vào thời kỳ này. Vấn đề còn lại là cần phải xem xét và hoàn thiện hơn để xác định sự hiện diện của các chùa Campuchia tại vùng Sài Gòn Chợ Lớn và việc ra đời của Nguyên thủy Phật giáo Việt Nam.

Mặc dù xã hội thuộc địa đã vẽ nên một số khía cạnh của phong trào trấn hưng này. Việc thực hiện nghiên cứu là để thấy rõ một tôn giáo hiện đại đã bắt đầu từ rất lâu trước đây, cụ thể là ở Thái Lan vào đầu thế kỷ XIX và tiếp tục phát triển đến toàn Châu Á vào thế kỷ XX. Tiến trình này được xuất phát từ bên trong: Sự chấn hưng đến từ các sáng kiến ở địa phương. Nó ảnh hưởng không những đến các hoạt động cá nhân mà còn các nền văn hóa địa phương, cũng như việc xây dựng các quốc gia Đạo Phật ở vùng Châu Á Thái Bình Dương.

Ngoài sự khác biệt về hình thức thể chế hóa của Phật giáo (Hội Phật giáo ở Việt Nam, Viện Phật giáo ở Kampuchia). Sự hình thành và tương tác cuối cùng đã được nhấn mạnh để hiểu rõ hơn tình hình đặc biệt của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Giáo phận của Viện Phật giáo ở Nam Kỳ là một bằng chứng. Nó đã hình thành nên cơ cấu tổ chức giới Tăng lữ người Kampuchia ở Việt Nam  dưới sự quản lý của chế độ chính trị  từ lúc bắt đầu cho tới ngày hôm nay. Sau cùng, có thể nói công trình này rất xứng đáng trở thành một di sản .

Tài liệu tham khảo

Tài liệu lưu trữ của trường Viễn đông Bác cổ (AEFEO, Paris)

  • dossier « Pierre Dupont »
  • dossier « Suzanne Karpelès »
  • dossier « Institut Bouddhique »

Tài liệu của Trung tâm LTQG Kampuchia (ANC, Phnom Penh)

  • Résidence Supérieure du Cambodge, dossier n°23608 « Rapports du secrétaire de l’Institut Bouddhique sur sa tournée en Cochinchine ».

Tài liệu của Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại (ANOM, Aix-en-Provence)

  • Résidence Supérieure du Cambodge, dossier n°227 : « Cultes catholiques, bouddhistes, caodaïstes, musulmans 1929-1940 »

Tài liệu của Trung tâm LTQG II (ANVN-II, Hô Chi Minh Ville)

  • Gouvernement de Cochinchine, dossier n°2a45/182(7) : « Circonscriptions religieuses de diverses provinces, circonscriptions bouddhiques des Cambodgiens 1944.
  • Gouvernement de Cochinchine, dossier n°2a45/206(1) : « Pagodes bouddhiques »
  • Gouvernement de Cochinchine, dossier n°2a45/225(1) : rapport politique de province
  • Gouvernement de Cochinchine, dossier n°2a45/246(1) : dossier « Affaires cambodgiennes ».

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *