Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi / Mấy ý kiến về: Yếu tố chính trị và khoa học trong công bố tài liệu lưu trữ dưới dạng ấn phẩm tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

Mấy ý kiến về: Yếu tố chính trị và khoa học trong công bố tài liệu lưu trữ dưới dạng ấn phẩm tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

Mấy ý kiến về:

YẾU TỐ CHÍNH TRỊ VÀ KHOA HỌC

TRONG CÔNG BỐ TÀI LIỆU LƯU TRỮ DƯỚI DẠNG ẤN PHẨM

TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA II

                                                                                   Hà Kim Phương

Tài liệu lưu trữ là di sản văn hóa đặc biệt, ẩn chứa tri thức của quốc gia, dân tộc trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh chính trị,… từ những tri thức khoa học phục vụ đời sống thường nhật cho đến những vấn đề nhạy cảm. Do đó, một trong những yêu cầu quan trọng của công tác công bố tài liệu lưu trữ là phải đảm bảo về tính chính trị. Nghĩa là công bố tài liệu phải nhằm mục đích phục vụ sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội, bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền đất nước, bảo vệ an ninh chính trị và phục vụ chính sách ngoại giao, phát triển quan hệ hợp tác quốc tế,… mà chung nhất là bảo đảm lợi ích quốc gia. Đồng thời, công tác công bố cũng phải đảm bảo yếu tố khách quan, trung thực và đáp ứng được yêu cầu khoa học.

Đặc biệt, Trung tâm II đang quản lý khối lượng lớn tài liệu có đặc thù riêng – những tài liệu được sản sinh trong quá trình hoạt động của các cơ quan trung ương thuộc chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Là tài liệu được tạo bởi phía đối phương – những người đứng trên lập trường tư tưởng của giai cấp tư sản phản cách mạng. Tài liệu được tạo ra nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp đó nên nội dung thường có luận điệu xuyên tạc sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Vì vậy, đòi hỏi phải rất thận trọng trong việc công bố tài liệu và kết quả khiêm tốt đạt được trong thời gian qua là minh chứng cụ thể.

Về cơ bản, công tác công bố tại Trung tâm chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống bằng các hình thức như: trưng bày tài liệu, xuất bản ấn phẩm lưu trữ, viết bài đăng tạp chí hoặc tham gia hội thảo khoa học,…. Trong đó, công bố ở dạng bản sao tài liệu được sử dụng cho tổ chức trưng bày. Và tóm tắt hay trích yếu nguyên văn nội dung tài liệu được sử dụng để xuất bản phẩm lưu trữ. Nội dung ấn phẩm được trình bày trên cơ sở diễn biến lịch sử và các sự kiện được miêu tả theo trình tự: giới thiệu xuất xứ, tình trạng tài liệu; tiêu đề tài liệu; địa chỉ tra tìm; nội dung tài liệu;….

Phương pháp này đạt hiệu quả cao trong việc đem tài liệu trực tiếp đến độc giả và giới thiệu khái quá được các khối tài liệu liên quan đến đề tài công bố. Như tham quan phòng trưng bày, độc giả có thể tìm thấy ngay trang tài liệu liên quan đến vấn đề đang quan tâm. Hay qua ấn phẩm, độc giả có thể nắm khái quát khối tài liệu liên quan đến đề tài nằm ở phông lưu trữ nào, tình trạng xử lý kỹ thuật, số lượng và nội dung cơ bản của tài liệu.

Tuy nhiên, phương pháp này cũng bộc lộ một số hạn chế trong công bố tài liệu dưới dạng ấn phẩm lưu trữ, đặc biệt đối với dạng tài liệu có đặc thù riêng như tại Trung tâm II.

Thứ nhất, đảm bảo yêu cầu về chính trị trong công bố:

Như trên đã trình bày, phần lớn tài liệu do Trung tâm II quản lý là tài liệu của phía đối phương, thuộc nhóm tài liệu phản diện. Do đó, trong quá trình phục dựng lại một sự kiện lịch sử của dân tộc mà chỉ dựa hoàn toàn vào tài liệu, thiếu xác minh, phân tích dễ dàng dẫn tới sự sai lạc về lịch sử và tư tưởng.

Ví dụ: khi tìm hiểu tài liệu về quá trình thi hành Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam năm 1973. Độc giả sẽ không thấy bất cứ vi phạm nào của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, khi các báo cáo quân sự từ sau ngày ký kết Hiệp định (ngày 27/1/1973) của đối phương chỉ sử dụng cụm từ “hoạt động an ninh lãnh thổ” thay cho từ “hành quân” như trước đây. Do đó, để độc giả đến gần với sự thật, người làm công tác công bố cần phải so sánh, đối chiếu hoạt động quân sự của quân đội Sài Gòn, cũng như dẫn giải các tài liệu của tổng thống hoặc thủ tướng Việt Nam Cộng hòa liên quan đến quân sự mới có thể làm sáng tỏ vấn đề. Và rõ ràng việc sử dụng phương pháp truyền thống – chỉ tóm tắt hoặc trích nguyên văn tài liệu, sẽ không đáp ứng được yêu cầu trên.

Thứ hai, đáp ứng yêu cầu khánh quan, khoa học:

Cán bộ làm công tác công bố là những người đứng trên lập trường mácxít, căn cứ vào diễn biến lịch sử Việt Nam để công bố tài liệu. Trong khi những tài liệu ở Trung tâm II lại được tạo bởi phía đối phương – những người có tư tưởng đối lập. Nên giữa người làm công tác công bố và tài liệu có sự không đồng nhất về tư tưởng. Điều này sẽ thể hiện rất rõ trong xuất bản phẩm, khi nội dung ngượng gạo kiểu “đầu ngô mình sở”, đề mục là “chiến thắng Phước Long” nhưng nội dung bên trong hoàn toàn là phát biểu của các quan chức, các kế hoạch, chính sách đối phó của chính quyền Sài Gòn và Hoa Kỳ, bình luận của báo chí,…. Sự khập khiễng này dẫn tới hệ quả là ấn phẩm lưu trữ thiếu logic, không rõ ràng về ý tưởng và độc giả cũng cảm thấy người biên soạn đang cố gắng ngượng ép tài liệu theo ý mình mà thiếu đi tính khách quan, khoa học. Từ đó, ý nghĩa làm minh chứng cho các sự kiện lịch sử của ấn phẩm lưu trữ trở nên không thuyết phục.

Thêm nữa, phương pháp trên cũng làm cho ấn phẩm dẽ trở nên rời rạc, thiếu sự kết nối khiến người đọc khó cảm nhận. Và thực tế ấn phẩm lưu trữ chỉ đáp ứng được nhu cầu của các nhà khoa học, giới nghiên cứu sử học – những người có kiến thức chuyên sâu về lịch sử Việt Nam, có đủ khả năng tự kết nối các sự kiện từ tài liệu. Do đó, mục đích công bố tài liệu nhằm phục vụ rộng rãi mọi tầng lớp công chúng bị hạn chế, làm giảm tác dụng tuyên truyền, giáo dục truyền thống.

Từ những phân tích trên đưa đến nhận định, cần thiết phải áp dụng phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử vào việc biên soạn, công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ dưới dạng ấn phẩm. Ban biên soạn bên cạnh việc xác minh, đối chiếu tài liệu, có thể sử dụng các sự kiện lịch sử đã diễn ra để dẫn giải và bố cục, sắp xếp nội dung tài liệu theo một ý tưởng nhất định. Đồng thời “mô típ cũ” trong trình bày ấn phẩm cũng cần cải tiến cho gần với ấn phẩm lịch sử hơn. Như phần địa chỉ tra cứu được thiết kế riêng (có thể sắp xếp theo loại văn bản hoặc cơ quan phát hành văn bản) ở phần sau của ấn phảm. Cũng như phần giới thiệu về nguồn gốc, tình trạng tài liệu được biên soạn thành phần riêng nằm ở đầu ấn phẩm,….

Việc sử dụng từ ngữ trong tài liệu khi công bố cũng là vấn đề vừa mang tính khoa học, vừa mang tính chính trị. Có rất nhiều từ trong tài liệu do chính quyền Sài Gòn sản sinh ra hàm nghĩa thù địch kiểu: “bọn Việt cộng”, “cộng sản Bắc Việt”,…. Mà người làm công bố không thể giữ nguyên văn từ ngữ trong tài liệu khi biên soạn và cần phải thực hiện bước chuyển ngữ song lại không làm sai lệch bản chất của sự kiện, như danh từ “Việt cộng” có thể chuyển thành “Quân giải phóng”.

Với cách làm như vậy, nội dung ấn phẩm sẽ trở nên cô đọng logic, độc giả cũng dễ cảm thụ hơn. Việc tra cứu tài liệu của độc giả cũng trở nên tập trung mà không phải lật đi, lật lại từng trang sách. Ấn phẩm lưu trữ đảm bảo được cả tính chính trị, lẫn khoa học và sẽ phục vụ được cho nhiều đối tượng, không chỉ các nhà nghiên cứu mà có thể sử dụng làm tài liệu học tập, tuyên truyền, đả phá luận điệu xuyên tạc lịch sử dân tộc của các thế lực thù địch. Giá trị tài liệu lưu trữ nhờ vậy cũng ngày càng đóng góp tốt hơn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.