Trang chủ / Công bố tài liệu / Lịch sử Bình Phước qua các thời kỳ: kỳ 1 – Vùng đất Bình Phước trong thời kỳ phong kiến

Lịch sử Bình Phước qua các thời kỳ: kỳ 1 – Vùng đất Bình Phước trong thời kỳ phong kiến

VÙNG ĐẤT BÌNH PHƯỚC TRONG THỜI KỲ PHONG KIẾN

Nằm trong vùng cao nguyên thuộc đoạn cuối của dãy Trường Sơn, ít chịu tác động của các đợt biển tiến – biển thoái trong thời kỳ Toàn tân, lại có tài nguyên đất mầu mỡ với các loại đất chất lượng cao (đất đỏ bazan, đất đen, phù sa) chiếm trên 61% diện tích, nên từ rất sớm Bình Phước đã trở thành địa bàn quần tụ của các cộng đồng dân cư và nơi giao lưu của các nền văn hóa nội địa Đông Nam á. Dấu vết sinh hoạt của cư dân cổ trên vùng đất này đã xuất hiện từ hàng nghìn năm trước. Tại các di chỉ khảo cổ ở xã Lộc Thắng, Lộc Khánh (Lộc Ninh), các nhà Khảo cổ học đã phát hiện dấu vết cư trú của các nhóm cư dân cổ thuộc chủng Indonésien.

Từ thập niên 30 của thế kỷ XX, sau phát hiện di chỉ thành đất đắp tròn thời tiền sử của nhà khảo cổ học người Pháp L.Malleret, khảo cổ học Bình Phước đã phát hiện 26 di chỉ đồng loại. Đặc biệt tại các di chỉ này, các nhà khảo cổ lần đầu tiên khai quật được nhiều di vật gốm và đá, từ đó đi đến đoán định đây là các di chỉ cư trú có phòng ngự của các cộng đồng cư dân cổ ở Bình Phước.

Năm 1996, khảo cổ học Bình Phước đạt được kết quả to lớn với việc phát hiện 2 hai bộ Đàn đá Lộc Hòa I và II, cũng hàng ngàn di vật đá – di vật gốm cổ trong tầng văn hóa chứa đựng hai bộ đàn đá, tại di chỉ xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước. Ngoài di chỉ Lộc Hòa, Đàn đá tiền sử còn được phát hiện tại nhiều địa điểm khác trên địa bàn tỉnh như: xã Tân Lợi, huyện Hớn Quản; xã Lộc Khánh, xã Lộc Điền, huyện Lộc Ninh; xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng. Đồng thời, trong quá trình khai quật các di chỉ “Thành đất tròn” cũng tìm thấy các mảnh vỡ của Đàn đá có cùng chất liệu và hình dáng với hai bộ Đàn đá Lộc Hòa I và II. Việc phát hiện nguyên bộ Đàn đá tiền sử – là thành quả của một quy trình kỹ thuật chế tác hoàn chỉnh và tinh xảo, ở Bình Phước có ý nghĩa khoa học rất lớn. Cùng với Đàn đá là các di vật đá – gốm, mà qua xác định niên đại bằng phương pháp C14 cho kết quả hơn 3.000 năm cách ngày nay, đã khẳng định bề dày, sự phát triển rực rỡ của phức hệ văn hóa tiền sử trên địa bàn Bình Phước. Để từ đó, các nhà khảo cổ học khẳng định tính chất bản địa của cư dân cổ nằm trong tiểu vùng văn hóa Đồng Nai mà sau trở thành nguồn gốc bản địa của văn hóa Óc Eo – Vương quốc Phù Nam.

Tuy nhiên, đến giai đoạn phát triển tiếp theo, kết quả nghiên cứu còn khiêm tốn của ngành khảo cổ học chưa giúp định hình tiến trình phát triển của cư dân trên địa bàn Bình Phước trong phức hệ văn hóa Óc Eo – Vương quốc Phù Nam. Trong một số sử sách biên soạn dưới triều Nguyễn cũng chỉ ghi chép một đôi dòng mang tính chất phỏng đoán về thời kỳ văn hóa Óc Eo – Vương quốc Phù Nam trên địa bàn Bình Phước. Đại Nam nhất thống chí, phần về tỉnh Biên Hòa (bao gồm cả địa bàn Bình Phước), chép rằng “Biên Hòa nguyên xưa là nước Bà Lỵ, sau Chân Lạp chiếm làm đất Bà Rịa, Đồng Nai. (Đường thư: Nước Bà Lỵ ở phía đông nam nước Chiêm Thành, phía nam có nước Chu Nại, đến niên hiệu Vĩnh Huy (Đường Cao Tôn 650-655) bị Chân Lạp chiếm. Gia Định thông chí: Bà Rịa có lẽ là nước Bà Lỵ, còn tiếng Chu Nại gần hệt tiếng Đồng Nai, hoặc là đất Sài Gòn ngày nay)”[1]. Những ghi chép của Đại Nam nhất thống chí dù còn mang tính phỏng đoàn, nhưng cơ bản phù hợp với tiến trình phát triển và suy vong của nền Văn hóa Óc Eo – Vương quốc Phù Nam, trong đó Bà Lỵ là một tiểu quốc của đế chế Phù Nam hùng mạnh. Đến thế kỷ VII-VIII sau công nguyên, nhân vương quốc Phù Nam suy yếu, Chân Lạp mang quân chiếm đóng, nhưng cũng chỉ thiết lập được ảnh hưởng trong phạm vi hẹp. Vì vậy, ở vùng đất miền Đông Nam bộ và Bình Phước nói riêng, từ thế kỷ VIII sau công nguyên, dần trở thành vùng đất hoang sơ, rải rác trên những giồng đất cao là nơi cư trú của các cư dân bản địa Mạ, Stiêng. Tình trạng trên kéo dài cho đến đầu thế kỷ XVII, khi những lưu dân Việt đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Mà như ghi chép của Lê Quý Đôn vào giữa thế kỷ XVIII: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp (Soài Rạp), Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm”[2]

Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, cuộc chiến tương tàn giữa hai thế lực phong kiến Trịnh Nguyễn đẩy đất nước vào cảnh phân ly, chiến tranh loạn lạc, khiến đời sống của nhân dân trở nên cơ cực, lầm than. Nhiều nông dân nghèo ở vùng Thuận Quảng, không cam chịu sự bóc lột của cường hào, hay vì trốn sưu cao, thuế nặng,… đã xuôi thuyền vào Nam khai khẩn vùng đất mới, tìm kế sinh nhai. Đầu tiên, họ chọn nơi đất cao, gần sông biển thuận lợi cho việc kiếm kế sinh nhai, làm nơi cư trú, rồi nhanh chóng khai khẩn đất đai, di chuyển xuống các khu vực miền Đông Nam bộ.

Vào năm Kỷ Mùi (1679), lực lượng phản Thanh phục Minh của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên sau khi bại trận chạy sang hải phận nước Nam cầu cứu, xin làm dân Việt được chúa Nguyễn Hiển Vương cho vào Nam lập nghiệp. Lực lượng của Trần Thượng Xuyên theo thuyền vào cửa Cần Giờ, ngược dòng Đồng Nai một số cư ngụ ở đất Ban Lân (Biên Hòa), một số ngụ tại Đông Phố (Gia Định) ([3]), chuyên nghề thương mại và canh nông.

Trước sự phát triển trù phú của vùng đất phía Nam, năm 1698, Minh Vương Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, chính thức xác lập đơn vị hành chính của Đại Việt tại vùng đất mới. Trên cơ sở các vùng đất do lưu dân Việt khai phá, Nguyễn Hữu Cảnh “đem xứ Đồng Nai (người Thanh gọi Nông Nại) đặt làm huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên (khi đầu khai quốc những chỗ địa đầu biên giới gọi là Trấn Biên thuộc tỉnh Gia Định), mộ lưu dân từ Quảng Bình trở vô đến ở, chia đặt thôn ấp, người Thanh lưu ngụ cũng liệt kê vào hộ tịch”([4]).

Đối với vùng đất đỏ miền Đông, trong buổi đầu dân cư còn thưa thớt, Nguyễn Hữu Cảnh cho đặt huyện Phước Long, thuộc dinh Trấn Biên lãnh 4 tổng Tân Chánh, Bình An, Long Thành và Phước An[5]. Riêng với người Hoa, ông cho tập trung vào 2 xã: Thanh Hà ở huyện Phước Long (Đồng Nai – Biên Hòa); Minh Hương ở huyện Tân Bình (Sài Gòn Bến Nghé). Sau đó, đẩy mạnh công cuộc khai hoang, Nguyễn Hữu Cảnh chiêu mộ những lưu tán ở châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) vào khai phá vùng đất hoang sơ trải dài từ cửa biển cho đến miền trung du phía Tây miền Đông Nam bộ. Đồng thời, ông cho thiết lập làng xã, khóm ấp; lập sổ đinh, sổ điền; định mức tượng trưng về thuế tô, thuế dung;… tạo thành hệ thống quản lý hành chính chặt chẽ.

Theo sự tổ chức của Nguyễn Hữu Cảnh, vùng đất Bình Phước nằm ở phần đất phía trên của tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên, phủ Gia Định. Vốn là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, Bình Phước cũng như vùng miền Đông Nam bộ thu hút được đông đảo các lưu dân Việt đến sinh cơ lập nghiệp, biến nơi đây thành vùng đất trù phú.

Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, chia xứ Đàng Trong làm 12 dinh, phần đất phía Nam gồm 3 dinh là Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh, Long Hồ dinh và Hà Tiên trấn.

Năm 1788, nhân nhà Tây Sơn lục đục, quân Thanh lăm le bờ cõi, Nguyễn Anh dấy quân thu phục vùng đất phía Nam, gọi là Gia Định([6]) và chia ra làm bốn dinh: dinh Phiên Trấn, dinh Trấn Biên, dinh Trấn Vĩnh, dinh Trấn Định.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ triều Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, niên hiệu Gia Long, lấy quốc hiệu là Việt Nam, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế). Năm 1806, vua Gia Long tổ chức lại nền hành chính, phân chia lãnh thổ Việt Nam làm 4 doanh, 23 trấn. Từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định thành, gồm 5 trấn, 4 phủ và 15 huyện, thêm trấn Hà Tiên có 2 đạo và 2 huyện([7]). Trong đó, trấn Biên Hòa (bao gồm địa bàn tỉnh Bình Phước ngày nay) lãnh huyện Phước Long với 4 thuộc tổng.

Năm 1808, sau khi giao Lê Văn Chất cai quản, hoàn thành sửa chữa con đường quan lộ từ Quảng Nam đến Biên Hòa, Gia Long tiến hành cải tổ hành chính ở cấp địa phương. Nhà vua chỉ dụ “xét đất rộng hẹp, dân nhiều ít, cứ theo địa thế liên lạc nhau mà chia đều, lại đặt thêm tổng đều lập giới hạn”[8]. Theo đó, huyện Phước Long được thăng làm phủ, 4 thuộc tổng (Phước Chánh – trước là tổng Tân Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An) thăng làm huyện[9]. Huyện Bình An gồm 2 tổng Bình Chánh, An Thủy với 119 xã, thôn, phường, ấp, điểm[10].

 

1 Phiên An trấn Phủ Tân Bình

4 huyện:

– Bình Dương

– Tân Long

– Phước Lộc

– Thuận An

2 Biên Hòa trấn

 

Phủ Phước Long

4 huyện:

– Phước Chánh

– Bình An (địa bàn Bình Phước ngày nay)

– Long Thành

– Phước An

3 Vĩnh Tường trấn Phủ Kiến An

3 huyện:

– Kiến Đăng

– Kiến Hưng

– Kiến Hòa

4 Vĩnh Thanh trấn Phủ Định Viễn

4 huyện:

– Vĩnh Bình

– Vĩnh An

– Tân An

– Vĩnh Định

5 Hà Tiên trấn 2 đạo, 2 huyện:

Đạo Long Xuyên

Huyện Long xuyên

Đạo Kiên Giang

Huyện Kiên Giang

 

Về tổ chức hành chính, vua Gia Long đặt Gia Định thành dưới quyền cai trị của một Tổng trấn. Tháng 7-1812, nhà vua sai Tả quân Lê Văn Duyệt làm quan tổng trấn Gia Định thành, kiêm cai trị Bình Thuận trấn. Ở 5 trấn thuộc hạt thì đặt các quan Lưu trấn hay quan Trấn thủ, dưới có Cai bạ và Ký lục coi việc cai trị dân chúng. Dưới trấn là các phủ, huyện có các quan Tri phủ và Tri huyện. Tuy nhiên, đối với vùng đất đỏ miền Đông, nhất là vùng các đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới xa xôi, về cơ bản, triều Gia Long mới hình thành được hệ thống đồn ải để quản lý, kiểm soát dân cư mà chưa thiết lập được tổ chức hành chính quy củ.

Đến triều Minh Mạng, bằng cuộc cải cách hành chính trên toàn lãnh thổ Việt Nam, cơ cấu hành chính của triều đình phong kiến Việt Nam ở vùng đất biên cương của đất nước mới dần được tổ chức hoàn thiện. Năm 1832, sau khi Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng bãi bỏ chức quan tổng trấn và đổi trấn làm tỉnh, chia Nam kỳ ra thành sáu tỉnh (gọi là Nam kỳ lục tỉnh): Gia Định, Biên Hòa, Định Tưởng, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên gồm 18 phủ, 43 huyện([11]).

Về tổ chức bộ máy chính quyền, cấp tỉnh, nhà vua đặt các chức quan Tổng đốc, Tuần phủ, Bồ chính sử, Án sát xứ và Lãnh binh lo việc cai trị dân. Trong đó, quan Tống đốc và Tuần phủ do triều đình cắt cử xuống, còn lại là các quan địa phương. Đối với tỉnh nhỏ, triều đình cắt cử quan Tuần phủ với tranh nhiệm cai quản địa phương về chính trị, giáo dục và giữ gìn phong tục. Dưới cấp tỉnh, nhà Nguyễn phân thành các cấp Phủ – Huyện – Tổng – Làng. Tương ứng có các chức quan cai trị Tri phủ – Tri huyện – Cai tổng (chánh tổng). Bộ máy chính quyền làng – đơn vị hành chính cơ bản, do một Thôn trưởng cai quản dưới sự phụ tá Hội đồng Hương thôn với một số trùm, trưởng, phó lý tùy vào cấp độ làng. Hội đồng Hương thôn chia làm hai hạng hương chức. Hương chức lớn gồm: Hương cả, Hương chủ, hương sư, hương trưởng, tham trưởng, hương bảo, hương nhứt, hương nhì, hướng chánh, hương lễ, hương văn, hương quan, hương ấm, hương thân, hương hào, hương bộ, thủ chỉ, thủ bốn, thủ khoán, câu đương, cai đinh, thôn trưởng. Hương chức nhỏ: Lý trưởng, ấp trưởng, trùm dịch, cai thị, cai binh, cai thôn.

Ở vùng đất đỏ miền Đông, trong đó có Bình Phước nằm trong địa phận tỉnh Biên Hòa – một tỉnh rộng lớn có địa giới: “Từ đông đến tây cách 228 dặm, từ nam đến bắc cách 124 dặm. Từ lỉnh lỵ qua phía đông đến giới hạn tỉnh Bình Thuận 148 dặm, phía tây đến giới hạn tỉnh Gia Định 80 dặm. Phía man giáp biển và giới hạn tỉnh Gia Định 37 dặm; phía đông giáp sơn man và giới hạn tỉnh Bình Thuận 87 dặm; phía đông nam đến giới hạn tỉnh Gia Định 120 dặm; phía tây nam đến giới hạn tỉnh Bình Thuận 160 dặm; phía đông bắc đến giới hạn tỉnh Bình Thuận 110 dặm. Từ tỉnh lỵ ra phía bắc đến kinh đô 1740 dặm”[12].

Tổ chức hành chính các cấp của tỉnh Biên Hòa được vua Minh Mạng giữ nguyên như dưới thời Gia Long, gồm phủ Phước Long với 4 huyện trực thuộc, do một Tuần vũ kiêm Bố chính cai quản, đặt thuộc 2 ty Tổng đốc, Án sát ở An Biên.

Đến năm 1837, sau khi dẹp yên cuộc binh biến Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng lập thêm phủ Phước Tuy gồm các huyện Phước An, Long Thành (phủ Phước Long) và Long Khánh (mới lập); và lập thêm huyện Nghĩa An đặt thuộc phủ Phước Long.

Sang đến đời vua Tự Đức, triều đình nhà Nguyễn tiếp tục có sự cải tổ nền hành chính ở Nam kỳ. Năm 1851, đời vua Tự Đức thứ 5, nhà vua phong Nguyễn Tri Phước làm Nam kỳ Kinh lược chánh sứ và Phan Thanh Giản làm Phó sứ, sai vào cai quản đất Nam kỳ. Sau đó, tiếp tục sai Trinh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu và Hoàng Minh Khánh vào trấn an, mở mang việc khuyến nông, khuyến khích nhân dân khai hoang lập nghiệp. Về địa giới hành chính cấp tỉnh, triều đình nhà Nguyễn vẫn duy trì sự phân chia cũ, nhưng toàn Nam kỳ được chia thành ba quận do quan Tổng đốc cai trị.

ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH NAM KỲ NĂM 1859[13]

Quận

Tỉnh

Phủ

Huyện

Định Biên Gia Định Tân Bình Bình Dương

Bình Long

Tân Long

Tân An Cửu An

Phước Lộc

Hòa Thanh Tân Hòa

Tân Thành

Tây Ninh Tân Ninh

Quang Hóa

Biên Hòa Phước Long Phước Chánh

Bình An

Nghĩa An

Phước Bình

Phước Tuy Phước An

Long Thành

Long Khánh

Long Tường Định Tường Kiến An Kiến Hưng

Kiến Hòa

Kiến Tường Kiến Phong

Kiến Đăng

Vĩnh Long Định Viễn Vĩnh Bình

Vĩnh Trị

Hoằng An Tân Minh

Duy Minh

Hoằng Trị Bảo An

Bảo Trị

Lạc Hóa Tuần Nghĩa

Phong Phú

An Hạ An Giang Tuy Biên Tây Xuyên

Phong Phú

Tân Thành Vĩnh An

Đông Xuyên

An Xuyên

Ba Xuyên Phong Nhiêu

Phong Thạnh

Vĩnh Định

Hà Tiên Quảng Biên Khai Biên

Vĩnh Trường

An Biên Hà Châu

Long Xuyên

Kiên Giang

Tịnh Biên Hà Dương

Hà Âm

Riêng tỉnh Biên Hòa, nhà vua cho 2 huyện Phước Bình và Long Khánh giao về cho phủ Phước Long và Phước Tuy kiêm nhiếp; sát nhập huyện Nghĩa An vào huyện Bình An, phủ Phước Long. Đến đây, tỉnh Biên Hòa gồm 2 phủ: Phước Long có các huyện Phước Chính, Bình An, Phước Bình, Nghĩa An; Phước Tuy có các huyện Phước An, Long Thành, Long Khánh.

Theo đó, địa bàn Bình Phước ngày nay thuộc địa phận huyện Phước Bình và huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa. Về địa giới, phủ Phước Long nằm ở phía tây bắc tỉnh thành Biên Hòa, có diện tích “đông đến tây cách 205 dặm, nam đến bắc cách 134 dặm. Từ phủ lỵ qua đông đến Sơn Man 165 dặm; tây đến giới hạn Bình Giang tỉnh Gia Định 40 dặm; nam đến giới hạn huyện Long Thành phủ Phước Tuy 49 dặm; bắc đến Sơn Man 85 dặm”[14].

Huyện Phước Bình “ở đông bắc phủ 29 dặm, đông đến tây cách 159 dặm, năm đến bắc cách 72 dặm. Từ huyện lý qua phía đông đến Sơn man tỉnh Bình Thuận 118 dặm; phía nam đến giới huyện Phước Chính 8 dặm; phía bắc đến Bình Thuận và giới hạn man sách tân phụ 64 dặm”[15].

Huyện Bình An “ở xiên phía tây nam phủ 30 dặm, đông đến tây cách 21 dặm, nam đến bắc cách 49 dặm. Từ huyện lỵ qua phía đông đến giới huyện Nghĩa An 19 dặm; tây đến giới sông Bình Giang tỉnh Gia Định 2 dặm; nam đến giới sông Bình Giang tỉnh Gia Định 7 dặm; bắc đến lâm phận huyện Phước Bình 42 dặm”[16].

Về tổ chức hành chính, huyện Phước Bình được lập năm 1838 trên cơ sở lấy tổng Chính Mỹ của huyện Phước Chính và 3 thủ man sách là Bình Lợi, Định Quán, Phước Vĩnh, chia thành 4 tổng: Phước Thành, Bình Sơn, Bình Tuy, Bình Cách. Đến năm 1859, huyện Phước Bình gồm 5 tổng, 60 xã, thôn, phường.

Huyện Bình An trước là tổng Bình An. Năm 1808, theo sự cải tổ hành chính của vua Gia Long, được nâng lên làm huyện. Năm Minh Mạng 18 (1837), nhà vua đem các sắc tộc thiểu số ở phủ An Lợi, cùng một số dân người Hoa trong huyện chia đặt làm 5 tổng. Năm 1846, vua Thiệu Trị đổi tên tổng Bình Thổ thành tổng Bình Lâm, giao thuộc huyện Bình An. Từ đó, tổ chức hành chính huyện Bình An gồm “6 tổng, 58 xã, thôn, ấp, 2 bang người Tàu, 5 huyện kiêm nhiếp[17].

Trong những năm đầu, xác định tầm quan trọng của miền biên viễn đối với vấn đề an ninh lãnh thổ, triều Nguyễn đã có nhiều chính sách khuyến dụ nhân dân khai phá vùng đất Bình Phước. Vì vậy, trong những thập niên đầu thế kỷ XIX, trong khi cả tỉnh Biên Hòa vẫn thuộc diện đất rộng người thưa, nhưng huyện Bình An (địa bàn Bình Phước ngày nay) với phần lớn diện tích canh tác là đất đỏ bazan thích hợp với các loại cây công nghiệp nhưng không phù hợp với trình độ sản xuất của các cư dân Việt thời điểm đó, lại là huyện có số diện tích thực canh lớn nhất trong 4 huyện của tỉnh Biên Hòa. Theo địa bạ triều Nguyễn, diện tích thực canh của huyện Bình An chiếm trên 90% diện tích đo đạc (6119m6s14th4t/6723m1s5th6t) và chiếm tới 49,46% diện tích làm ruộng của tỉnh Biên Hòa[18].

Số liệu về diện tích đất ở của huyện Bình An sau cuộc đạc điền năm 1836, lên tới 543 mẫu 9 sào 2 thước 3 tấc, chiếm 79,26% tổng số đất ở của tỉnh Biên Hòa, đã minh chứng nơi đây có sự tập trung dân cư cao nhất toàn tỉnh.

Sự kiện năm 1840 vua Minh Mạng đặt thêm 4 thủ Tân Bình, Tân Định, Tân Lợi, Tân Thuận để cai quản 81 sách Sơn Ma ở miền biên viễn phía Tây phủ Phước Long cũng cho thấy trình độ phát triển nhất định của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn Bình Phước[19].

Tuy nhiên, từ cuối triều Minh Mạng, thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng trầm trọng, những chính sách của triều Nguyễn đã không đủ sức giữ gìn sự ổn định và phát triển của vùng biên cương xa xôi, giặc giã thường xuyên quấy nhiễu, khiến dân cư ngày một thưa dần. Vì vậy, cho đến những năm đầu thế kỷ XX, trước khi thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, Bình Phước vẫn chủ yếu là vùng rừng núi bạt ngàn, hoang sơ. Người Kinh, người Hoa sống tập trung tại các phủ lỵ. Đồng bào các dân tộc Stiêng, Mạ sống rải rác thành từng sóc tại các vùng rừng núi Bà Rá, Bù Đốp, Bù Đăng,… như những bộ lạc biệt lập.

Trong khi đó, từ thế kỷ XVII, sự phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thực dân hóa, kéo theo nhu cầu tìm kiếm thuộc địa, mở rộng thị trường của các nước tư bản phương Tây. Trong xu thế hướng tới phương Đông, chủ nghĩa thực dân phương Tây, nổi trội là tư bản Pháp, đẩy mạnh thâm nhập vào Việt Nam mà trước hết là thông qua con đường tôn giáo và giao thương. Nhưng sau hơn một thế kỷ không thể xâm chiếm Việt Nam bằng con đường hòa bình, ngày 1-9-1958, thực dân Pháp nổ súng vào bán đảo Sơn Trà, mở đầu quá trình xâm lược Việt Nam.

[1] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.2.

[2] Sở Văn hóa Thông tin Bình Dương, Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu, Nxb Văn nghệ Tp. HCM, 1999, tr.51.

[3] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.17

[4] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.2.

[5] Sở Văn hóa Thông tin Bình Dương, Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu, Nxb Văn nghệ Tp. HCM, 1999, tr.52.

[6] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.22

[7] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.23

[8] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập trung và tập hạ, Sài Gòn 1972.

[9] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.3.

[10] Sở Văn hóa Thông tin Bình Dương, Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu, Nxb Văn nghệ Tp. HCM, 1999, tr.53.

[11] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.24

[12] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.2.

[13] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.27-29

[14] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.3.

[15] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.5

[16] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.4.

[17] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.4.

[18] Sở Văn hóa Thông tin Bình Dương, Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu, Nxb Văn nghệ Tp. HCM, 1999, tr.54.

[19] Dỉnh giả Tu trai Nguyễn Tạo, Đại Nam nhất thống chí lục tỉnh Nam Việt – tập thượng Biên Hòa, Gia Định, Sài Gòn 1973, tr.4

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *