Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi / Hội thảo khoa học / Số hóa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển

Số hóa phục vụ công tác bảo tồn và phát triển

Võ Văn Thắng
Giám đốc Bảo tàng Điêu khăc Chăm Đà Nãng

 


  1. BẢO TÀNG ĐIÊU KHẮC CHĂM ĐÀ NẴNG

Bảo tàng Điêu khác Chăm Đà Nẵng là tên gọi chính thức hiện nay theo Quyết định hành chính. Vấn đê tên gọi tuy không quan trọng lắm, nhưng nếu có dịp để điều chỉnh tên gọi thì có thế sửa một chút thành Bảo tàng Điêu khác chăpa (thay từ “Chăm” bằng từ “Chămpa”). Từ “Chămpa” được dùng để chỉ một vương quốc đã hình thành và phát triển tại khu vực miền Trung Việt Nam từ khoảng thế kỷ 3 đến thế kỷ 15 với một nên văn hóa có nhiều nét độc đáo riêng biệt.

Di sản vật thể của nền văn hóa Chămpa còn lại không nhiều. Cách đây hơn một thế kỷ, khi những nhà khảo cổ Pháp quan tâm đến văn hóa Chămpa thì nhiều di tích đã trở thành phế tích. Vào thời kỳ ấy, những nhà khảo cổ Pháp đã kịp thời thu thập tất cả những gì họ có thể tìm thấy mang vê tập trung tại các bảo tàng đề bảo quản và nghiên cứu. Thành phố Tourane (Đà Nẵng) lúc bấy giờ cũng là trung tâm của khu vực miền Trung và đuợc chọn làm nơi tập trung các hiện vật thu thập được ở các di tích, từ Quảng Bình, Quảng Trị ở phía bác cho tới Bình Định, Kon Tum ở phía nam. Sau đó một số hiện vật đã được chuyển đến các bảo tàng ở Hà Nội, Sài Gòn, Paris, nhưng phần nhiều các hiện vật tiêu biểu vẫn còn đế lại tại Tourane, đặc biệt là các đài thờ và các tượng tròn có kích thước lớn. Sau đó một tòa nhà đã được xây dựng bên bờ sông Hàn để bảo quản, trưng bày các hiện vật này. Đó là tiền thân của Bảo tàng Điêu khác Chăm Đà Nẵng ngày nay. Sau khi các cuộc chiến tranh kết thúc vào năm 1975, công tác khai quật khảo cổ lại được tiếp tục triển khai và lúc này các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện thêm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng một số hiện vật điêu khắc Chămpa, bổ sung làm phong phú thêm cho bộ sưu tập của Bảo tàng Điêu khắc Chăm.

Ngoài nghệ thuật kiến trúc thể hiện trực tiếp qua các đền tháp, thì nghệ thuật điêu khắc là thành tựu rất quan trọng của văn hóa Chămpa, thể hiện ở các tượng thờ, đài thờ, các phù điêu đặt tại các đên tháp hoặc trong khu vực đên tháp. Bảo tàng Điêu khắc chăm Đà Nẵng hiện nay được xem là nơi lưu giữ một bộ sưu tập tương đối đầy đủ và tiêu biểu nhất cho tất cả các giai đoạn, phong cách phát triển của nghệ thuật Điêu khắc Chămpa. Các đền đài, thành quách Chămpa ở Quảng Bình, Quảng Trị hay ở Trà Kiệu, Đông Dương (Quảng Nam), Tháp Mẫm (Bình Định) đến nay không còn nhìn thấy nữa nhưng qua các đài thờ, các tượng thần, các bức phù điêu còn lại tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẫng, khách tham quan có thể hình dung được phần nào vẻ nguy nga, thâm nghiêm của các đền tháp thành quách Chămpa cổ kính đồng thời chia sẻ cảm nhận những nét tài hoa, lãng mạn trong đời sống tinh thần của cư dân Chămpa xưa.

Một nhiệm vụ quan trọng của Bảo tàng Điêu khắc Chăm hiện nay là giữ gìn, bảo quản nhằm ngăn chặn hoặc làm chậm lại quá trình hư hỏng, xuống cấp của các hiện vật đồng thời tổ chức trưng bày cho đông đảo công chúng có thế đến thưởng ngoạn và nghiên cứu. Công việc này xem ra cũng không đơn giản. Hầu hết các hiện vật đều bằng chất liệu đá. Nhưng trăm năm bia đá cùng mòn, huống hồ có nhiêu tượng đá, phù điêu Chămpa đã từng đám mình trong cả ngàn năm nắng gió. Một vài hiện vật bằng chất liệu đá sa thạch mềm đang trong tình trạng bong tróc từng lớp mỏng trên bê mặt. Các chuyên gia của Truờng Viên Đông Bác Cổ Pháp có thử nghiệm dùng hóa chất để tăng độ bền vững của bề mặt đá, nhưng chưa có sự đánh giá để áp dụng rộng rãi. Các phương pháp bảo quản còn tiếp tục được tìm tòi thảo luận bởi các nhà khoa học và các biện pháp bảo quản hiện vật đá tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng hiện nay vẫn là phương pháp thủ công, chủ yếu là làm sạch các lớp bụi đất bám trên bê mặt tượng, chống ẩm và hàn gán những chỗ rạn, nứt.

Trước đây bảo tàng này là một bộ phận trực thuộc Bảo tàng Tổng hợp Đà Nẵng, đến đầu năm 2008 mới chính thức thành lập thành một bảo tàng độc lập. Việc lập hô sơ và lưu dữ liệu về các hiện vật của Bảo tàng Điêu khắc Chăm mới chỉ ở nhũng công việc bước đâu. Hiện nay bảo tàng có sử dụng phần mềm quản lý hiện vật do Cục Di sản Văn hóa cung cấp nhiều năm trước đây, phần lưu trữ hình ảnh mới ở dạng 2 chiều. Bảo tàng Điêu khắc Chăm cũng đã xây dựng website của bảo tàng www.chammuseum.danang.vn nhưng nội dung thông tin quảng bá chưa phong phú. Ớ lĩnh vực này, dự án số hóa như đặt vấn đề tại hội thảo hôm nay có thế sẽ góp phần đẩy nhanh và nâng cao chất lượng của công tác lưu trữ cũng như quảng bá của Bảo tàng. Tuy nhiên việc này cũng còn phụ thuộc một vài yếu tố liên quan đến thẩm quyên, trách nhiệm quản lý và phạm vi cung cấp thông tin.

  1. VIỆC KHAI THÁC CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT SỐ PHỤC VỤ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN

Việc ứng dụng kỹ thuật số vào công tác lưu trữ thông tin và quảng bá đã được đặt ra từ lâu. Riêng trong ngành văn hóa – du lịch, kỹ thuật số có thể dùng cho việc xác lập và lưu trữ các bản đồ, hình ảnh và văn bản liên quan đến di tích, điểm tham quan du lịch, hiện vật bảo tàng và các sản phẩm, di sản vật thế và phi vật thể khác. Tuy nhiên trong thời gian qua có thế nhận định rằng việc ứng dụng kỹ thuật số trong lĩnh vực này chưa mang lại hiệu quả cao.

Thiết nghĩ có một số lý do sau đây:

  • Chưa có những sản phẩm phần mêm đáp ứng được yêu cầu quản lý của các bảo tàng và cơ sở văn hóa, du lịch.
  • Đội ngũ cán bộ bào tàng và quản lý văn hóa, du lịch nói chung chưa được đào tạo, trang bị kiến thức đủ để xử lý việc ứng dụng kỹ thuật số hóa cho công việc của mình.
  • Điều kiện thiết bị kỹ thuật để lưu trữ và xử lý, khai thác thông tin còn nghèo nàn, thiếu thốn.
  • Chưa có các quy chế, quy định một cách đầy đủ của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Có thể nói việc đặt vấn đề số hóa các di sản văn hóa để phục vụ bảo tồn và phát triển là một hướng đi đúng. Các mục tiêu, vai trò và lợi ích rất lớn lao của việc áp dụng kỹ thuật số trong công tác quản lý, nghiên cứu, bảo tồn di sản đã có nêu trong tài liệu Giới thiệu tổng quan dự án hệ thống thông tin điện tứ văn hóa xã hội do Ban tổ chức Hội thảo cung cấp. Mọi người dễ đồng ý rằng việc ứng dụng kỹ thuật số sẽ làm cho việc lưu trữ dữ liệu được chính xác, việc tìm kiếm dữ liệu đế nghiên cứu hoặc quảng bá sẽ được thực hiện nhanh, đáp ứng kịp thời nhiêu yêu cầu khác biệt. Ngoài ra kho dữ liệu số hóa sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho việc quản lý hiện vật, di tích, không chỉ trong việc bảo quản hiện vật hay trùng tu di tích mà kể cả việc kiểm tra đối chiếu trong trường hợp hư hỏng hoặc mất mát.

Việc triển khai chương trình số hóa có thế diễn ra ở 2 cấp độ. Một là ứng dụng cho từng cơ sở di tích, bảo tàng, điểm tham quan du lịch. Hai là tập trung ở một cơ sở quản lý hoặc một trung tâm dữ liệu vừa làm nhiệm vụ lưu trữ vừa làm nhiệm vụ quáng bá thông tin phục vụ nghiên cứu tham quan du lịch. Nhưng dù ở cấp độ nào cũng cân thống nhất xử lý được những vấn đê liên quan đến bản quyền và tính bảo mật, thẩm quyền quản lý và mức độ cung cấp thông tin liên quan đến di tích và hiện vật bảo tàng. Cụ thể là cơ quan nào có trách nhiệm quản lý các dữ liệu kể cả bản đồ, hình ảnh 3D về di tích và hiện vật bảo tàng? Nếu dùng cho việc quảng bá, giới thiệu nhằm thu hút khách tham quan du lịch thì nên giới hạn ở mức độ nào, thầm quyền và mức độ truy cập thông tin được quán lý ra sao?

Trong một số văn bản quản lý hiện nay cũng đã có đề cập vấn đề này. Ví dụ như, trong văn bản quy định về tiêu chuẩn, trách nhiệm của cán bộ và người thực hành bảo quản hiện vật bảo tàng, ban hành tại Quyết định số 47/QĐ-BVHTTDL ngày 03/7/2008 , tại Điều 6 – Những việc cán bộ bảo quản không được làm, có quy định “Không cung cấp, phổ biến các thông tin vê hiện vật bảo tàng khi không được phép của các cấp có thẩm quyền.” Nhưng cấp thẩm quyền là ai và đối tượng nào được cung cấp thông tin đến mức độ nào cũng chưa được xác định. Đó là những quy định chung chưa nói gì đến kỹ thuật số hóa và internet. Vậy khi đã áp dụng số hóa sâu rộng và liên thông qua internet thì lại càng cần phải có các quy định cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng hơn. Thiết nghĩ đây là một vấn đề cần xử lý trước hoặc ít ra là đồng thời với các nội dung khác của chương trình số hóa di sản và bảo tàng. Nếu không thì các đơn vị quản lý di tích và các bảo tàng cũng hết sức lúng túng khi triển khai chương trình số hóa.

Bên lề hội thảo cũng xuất hiện ý tưởng về việc xây dựng các trung tâm tại một số địa phương để quản lý nguôn tài nguyên đồng thời tổ chức khai thác nguôn tài nguyên thông tin này phục vụ nghiên cứu và đặc biệt là phục vụ du lịch. Hiển nhiên khi đã thu thập được các dử liệu như mong muốn thì việc thành lập các trung tâm có đủ cơ sở thiết bị và đội ngũ chuyên môn để vận hành là một việc nên làm nhằm phát huy, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đã tạo lập. Cùng với Hà Nội và thành phố Hô Chí Minh thì Đà Nẵng cũng là một vị trí xứng đáng để đặt một trung tâm quản lý, khai thác tài nguyên thông tin như vậy, làm nhiệm vụ giới thiệu ban đầu cho tất cả các du khách và nhà nghiên cứu vẻ tài nguyên văn hóa của cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên trước khi du khách chọn lựa những địa điểm cụ thế để đến.

Hy vọng qua hội thảo này những vướng mắc, khó khăn trong việc đưa công nghệ số hóa vào công tác quản lý và quảng bá di tích, bảo tàng sẽ được thảo luận, tháo gỡ và Bảo tàng Điêu khắc Chăm nói riêng cũng như thành phố Đà Nẫng và khu vực miền Trung — Tây Nguyên nói chung sẽ hưởng thụ được nhiêu lợi ích qua việc triển khai dự án này.

Nguồn: Kỷ yếu hội thảo “Số hóa và các đặc tính ơ bản của di sản”

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *