Trang chủ / Báo cáo thực tập | Tiểu luận / Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong ngành ngân hàng ở miền Nam Việt Nam (1954-1975)

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong ngành ngân hàng ở miền Nam Việt Nam (1954-1975)

CHUYÊN ĐỀ: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1975)

Đề tài: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1975)

 

MỤC LỤC

 

DẪN NHẬP ………………………………………………………………………………. 2

  1. CÁC YẾU TỐ THU HÚT TƯ BẢN NGÂN HÀNG THAM GIA VÀO HỆ THỐNG TÍN DỤNG MIỀN NAM (1955-1975)…………………………………………………… 3
  2. Sự xâm nhập chủ nghĩa thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam …… 4
  3. Chính sách kinh tế, tiền tệ của chính quyền Sài Gòn …………………….. 5
  4. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG Ở MIỀN NAM (1955-1975) ………………………………………………………………………. 7
  5. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng ở miền Nam (1955-1975) …….. 7
  6. Thành phần tư bản tham gia vào lĩnh vực ngân hàng ở miền Nam (1955-1975) 8

III. VAI TRÒ CỦA TƯ BẢN NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN

(1954-1975)……………………………………………………………………….. 10

  1. Trong lĩnh vực nông nghiệp ………………………………………………………. 10
  2. Trong lĩnh vực công – thương nghiệp…………………………………………… 11

KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………….. 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………….. 12

 

DẪN NHẬP

 

Năm 1954, thay chân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cùng với việc tăng cường bộ máy thống trị, Hoa Kỳ đẩy mạnh sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào miền Nam Việt Nam, hướng nền kinh tế miền Nam theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự xâm nhập của kinh tế tư bản làm xuất hiện và ngày càng phát triển, mở rộng của nền sản xuất hàng hóa ở miền Nam Việt Nam.

Điều này thúc đẩy sự phát triển của hình thức tín dụng tư bản chủ nghĩa, trong đó có sự phát triển nhảy vọt của hệ thống ngân hàng ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1975. Ngược lại, sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa, với vai trò then chốt của tư bản ngân hàng, không những trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất mà tạo động lực thúc đẩy sự phát triển và mở rộng của nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa ở miền Nam Việt Nam.

Song trong một nền kinh tế lệ thuộc vào viện trợ như kinh tế Sài Gòn, tư bản ngân hàng ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 cũng phát triển theo những đặc điểm riêng. Đó là sự nghiêng lệch trong cán cân đầu tư về phía các ngành công – thương nghiệp phục vụ cho quân sự; cho việc buôn bán các sản phẩm từ nguồn viện trợ của Hoa Kỳ; hay cho nhu cầu xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông nghiệp miền Nam;… mà thiếu hẳn sự đầu tư vào các ngành làm gia tăng tính tự lực của nền kinh tế. Đó còn là sự tập trung phần lớn lợi nhuận vào tư bản nước ngoài và tư sản người bản xứ người Hoa.

Bên cạnh một số đặc điểm tiêu cực, tư bản ngân hàng với sự năng động và đã dạng cũng tạo ra những yếu tố tích cực đối với kinh tế miền Nam. Nhất là vai trò thúc đẩy sự hình thành nền sản xuất hàng hóa ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

I. CÁC YẾU TỐ THU HÚT TƯ BẢN NGÂN HÀNG THAM GIA VÀO HỆ THỐNG TÍN DỤNG MIỀN NAM (1955-1975)

  1. Sự xâm nhập chủ nghĩa thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam

Sau năm 1954, thay chân Pháp, Mỹ dựng lên chính quyền Sài Gòn mệnh danh là Việt Nam cộng hòa, âm mưu thiết lập chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, đóng vai trò làm “con đê” ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống khu vực Đông Nam á.

Trong 20 năm xâm lược Việt Nam, thông qua quá trình viện trợ, Mỹ đẩy mạnh xâm nhập kinh tế thực dân mới vào miền Nam Việt Nam.

Tổng viện trợ quân sự trực tiếp và viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ cho chính quyền Sài Gòn lên tới 23,6 tỷ đô la, trong đó có 7,6 tỷ đô la là viện trợ kinh tế[1]. Các khoản viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ cho miền Nam bao gồm viện trợ thương mại (nhằm hỗ trợ nhập khẩu và hỗ trợ ngân sách nhà nước), viện trợ nông phẩm (dưới hình thưc hiện vật là các lương thực và thực phẩm), viện trợ theo dự án (có thể bằng tiền hoặc hiện vật cho từng dự án cụ thể trong các lĩnh vực hành chính, xã hội, kinh tế-văn hóa). Trong đó, 80% viện trợ kinh tế là viện trợ không hoàn lại[2].

Viện trợ Hoa Kỳ có vai trò làm giảm áp lực lạm phát, nâng cao sản xuất hàng hóa, cùng với máy móc, trang thiết bị, nguyên vật liệu và hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế được xây dựng đã thúc đẩy sự phát triển mạnh của các kinh tế công – thương nghiệp, nông nghiệp phục vụ cho yêu cầu của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.

Theo từng giai đoạn, tùy vào mục đích chính trị, quân sự và cả kinh tế, chính sách thực dân mới Mỹ về kinh tế có sự điều chỉnh phù hợp. Trong giai đoạn 1955-1965, chính sách kinh tế thực dân mới Mỹ tập trung vào hất cẳng thực dân Pháp, nắm độc quyền chi phối các ngành kinh tế chủ yếu và cơ cấu kinh tế của chính quyền Sài Gòn, trước hết là chi phối toàn bộ hệ thống xuất nhập khẩu. Thông qua chương trình viện trợ, Mỹ biến miền Nam Việt Nam thành thị trường độc quyền của hàng hóa Mỹ và điều tiết cán cân xuất nhập khẩu của miền Nam. Mặc dù giai đoạn 1955-1965 được coi là thời kỳ ổn định nhất của nền kinh tế miền Nam, nhưng tình trạng nhập siêu của chính quyền Sài Gòn mỗi năm 1 tăng. Năm 1955, kim ngạch xuất khẩu của chính quyền Sài Gòn bằng 26,3% kim ngạch nhập khẩu, thì đến năm 1964 tỷ lệ này chỉ còn 16,3%[3].

Đến giai đoạn 1966-1968, sư có mặt và tham chiến của hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam đã chi phối mạnh cơ cấu kinh tế miền Nam. Kinh tế miền Nam giai đoạn này chuyển sang phục vụ chiến tranh với đặc điểm cơ bản là nông nghiệp giảm sút, doanh nghiệp phục vụ quân sự và bộ máy chiến tranh tăng lên, lĩnh vực thương mại phát triển mạnh song song với việc hàng Mỹ ồ ạt vào miền Nam. Thương mại hoạt động nhộn nhịp mà chủ yếu là trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng và các nguyên liệu phục vụ các ngành chế biên, kinh doanh…, khiến cán cân thương mại ngày càng bị thâm hụt. Năm 1968, kim ngạch nhập khẩu của chính quyền Sài Gòn đạt con số 475 triệu USD, trong khi chỉ xuất khẩu được 11,7 triệu USD[4]. Số xí nghiệp phục vụ quân sự và bộ máy chiến tranh bao gồm các xí nghiệp sản xuất đồ quân trang, quân dụng, chế biến thuốc tây; các khạch sạn, quán ăn,… phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Công nghiệp lắp ráp, xi măng, đường, vải, thuốc là, nước giải khát,… tăng nhanh chóng theo nhu cầu tiêu thụ của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ngành xây dựng cũng thu hút sự đầu tư lớn của tư bản Mỹ với sự có mặt của các tập đoàn chuyên bao thầu xây dựng các công trình phục vụ quân sự.

Qua giai đoạn 1969-1975, thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, đặt trọng tâm vào bình định nông thôn, âm mưu thực hiện chiến tranh giành dân với cách mạng, trong lĩnh vực kinh tế, chính sách thực dân mới Mỹ tập trung vào phát triển nông nghiệp và nông thôn. Mỹ đẩy mạnh sự xâm nhập kinh tế tư bản chủ nghĩa vào sản xuất nông nghiệp với việc cho nhập vào miền Nam các loại máy móc, nông cụ và phân bón, giống mới,…

Chính sách trên của Mỹ đã thúc đẩy các dòng vốn của tư bản Mỹ và tư bản mại bản cũng được đổ vào các lĩnh vực có sự đảm bảo đặc quyền của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

  1. Chính sách kinh tế, tiền tệ của chính quyền Sài Gòn

Phụ thuộc vào Mỹ, do đó theo từng thời kỳ, chính quyền Sài Gòn thực hiện các chính sách tiền tệ và kinh tế phù hợp yêu cầu của quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.

Trong lĩnh vực tiền tệ, ngay từ năm 1954, thực hiện hất cảng thực dân Pháp, chính quyền Sài Gòn nhanh chóng đưa đồng bạc miền Nam vào quỹ đạo chi phối của đồng đô la thay cho đồng franc. Ngày 31-12-1954, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập với bốn độc quyền phát hành giấy bạc và tiền kim loại tại Việt Nam. Sau đó, chính quyền Sài Gòn tiếp tục cho ra đời Viện Hối đoái và phát hành đơn vị tiền tệ mới thay cho tiền Đông Dương, ấn định tỷ giá hối đoái giữa đồng miền Nam và đô la là 35:1 – một hối suất quá cao so với giá trị thực của đồng bác miền Nam lúc bấy giờ (hối suất trợ đen là 90 đồng miền Nam 1 đô la)[5]. Với hối suất thỏa thuận như vậy, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn nhanh chóng chuyển nền kinh tế miền Nam từ khu vực chịu ảnh hưởng của Pháp sang nền kinh tế tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của Hoa Kỳ. Trong những năm tiếp theo, chính quyền Sài Gòn tiếp tục áp dụng nhiều biện pháp vừa phải phá giá đồng bạc miền Nam vừa kìm hãm tốc độ phá giá đó.

Ngoài chính sách hối suất và biện pháp phá giá đồng bạc, chính quyền Sài Gòn thực hiện hàng loạt các biện pháp kiểm soát tín dụng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng tư bản chủ nghĩa gồm một ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại và ngân hàng đấu tư.

Về chính sách kinh tế, để kêu gọi sự đầu tư của tư bản vào miền Nam, ngay từ năm 1955, chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp. Tháng 3 năm 1957, Ngô Đình Diệm kêu gọi đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước, cam kết về những quyền lợi họ và những khuyến khích đầu tư (ưu đãi về thuế thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh, thuế lợi tức). Sau đó, để khuyến khích phát triển doanh nghiệp, chính quyền Sài Gòn thành lập Trung tâm Khuếch trương Kỹ nghệ nhằm giúp đỡ các doanh nhân khởi nghiệp, giúp đỡ các doanh nghiệp về công nghệ và tín dụng, hỗ trợ công nghệ và hướng dẫn đầu tư cho doanh nghiệp. Kết quả, trong giai đoạn đệ nhất cộng hòa (1955-1963), chính quyền Diệm đã thu hút được lượng vốn lớn của tư bản đầu tư vào các ngành công nghiệp giấy, dệt may, xi măng, công nghiệp điện…. Ngành nông nghiệp cũng có sự phát triển ổn định, chủ yếu trong sản xuất lúa gạo.

Nhưng năm sau đó, mặc dù chiến tranh gia tăng, song với sự đẩy mạnh sự xâm nhập của kinh tế tư bản vào các ngành công nghiệp, thương nghiệp và đặc biệt là nông nghiệp, chính quyền Sài Gòn tiếp tục thu hút được lượng vốn lớn của tư bản trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực này.

Nhìn chung, nhằm thúc đẩy sự xâm nhập kinh tế tư bản vào miền Nam Việt Nam, trong giai đoạn 1955-1975, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều chính sách đặc quyền, đặc lợi. Thông qua viện trợ của Mỹ và các chính sách “khuyến khích” của chính quyền Sài Gòn, các dòng vốn của tư bản đã đổ vào các lĩnh vực của kinh tế thương mại, công nghiệp và nông nghiệp có sự đặc quyền của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sự tham gia đầu tư lớn của tư bản do đó cũng thúc đẩy sự tham gia của tư bản ngân hàng vào các lĩnh vực kinh tế vừa mang tính chất sản xuất vừa để kinh doanh lợi nhuận thông qua hoạt động cho vay. Mà sự phát triển nhảy vọt của hệ thống ngân hàng ở miền Nam từ năm 1964 là một trong những biểu hiện rõ nét.

II. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG Ở MIỀN NAM (1955-1975)

  1. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng ở miền Nam (1955-1975)

Ngày 31-12-1955, theo một thoả thuận giữa chính quyền Diệm và Pháp, Ngân hàng Trung ương ba nước Đông Dương được tách ra làm 3 ngân hàng quốc gia trung ương. Cùng ngày, Diệm ban hành sắc lệnh thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là ngân hàng trung ương của chính quyền Sài Gòn.

Tháng 1-1956, với 200 triều đồng vốn từ Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, chính quyền Diệm cho thành lập thêm Ngân hàng Việt Nam Thương tín, nhằm tạo nguồn vốn độc lập phục vụ cho các giao dịch thương mại. Trên danh nghĩa đây là một ngân hàng thương mại, song thực tế nó chịu sự điều tiết và chi phối của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Ngoài hai ngân hàng trên, ở miền Nam Việt Nam thời điểm này còn có một số ngân hàng của tư bản nước ngoài.

Tuy nhiên, trong giai đoạn 1954-1963, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam phát triển với tốc độ chậm. Phải sang thời kỳ 1964-1970, cùng với sự tham chiến trực tiếp của quân viễn chính và việc đổ ồ ạt hàng hóa, phương tiện của Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam, hệ thống ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại mới có sự phát triển nhảy vọt. Trong giai đoạn này có 15 ngân hàng thương mại với 56 chi nhánh được thành, nâng tổng số ngân hàng thương mại ở miền Nam lên 28 ngân hàng vào năm 1970[6].

Trong thời kỳ 1970-1975, việc Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, lấy bình định nông thôn là xương sống, đã thu hút sự tham gia đầu tư của tư bản vào lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn. Cùng với đó, hệ thống ngân hàng nông nghiệp nông thôn cũng phát triển mạnh.

Ngày 31-7-1967, chính quyền Sài Gòn cho thành lập ngân hàng nông nghiệp nông thôn đầu tiên mang tên Ngân hàng phát triển Nông nghiệp[7]. Ngân hàng này sau đó có hệ thống chi nhánh phát triển rộng khắp ở các tỉnh lý của miền Nam.

Tiếp đó, từ năm 1969, ở miền Nam Việt Nam xuất hiện hệ thống ngân hàng nông thôn do các tư nhân đứng ra thành lập và quản lý, nhằm mục đích cho nông thôn vay vốn và thu hút tiền tệ ở nông dân. Tính đến năm 1972, ở miền Nam có tất cả 35 ngân hàng nông thôn, gồm 2 ngân hàng ở Quân khu I, 4 ngân hàng ở Quân khu II, 11 ngân hàng ở Quân khu II và 18 ngân hàng ở Quân khu IV[8].

Nhìn chung, trong thời kỳ 1954-1975, trên cơ sở sự xâm nhân ngày càng tăng của kinh tế tư bản chủ nghĩa vào miền Nam Việt Nam, hệ thống ngân hàng chính quyền Sài Gòn đã có bước phát triển nhảy vọt. Tuy nhiên, sự phát triển trên cũng chịu nhiều tác động từ chính sách tiền tệ, viện trợ của Hoa Kỳ và sự thay đổi sách lược kinh tế – xã hội của chính quyền Sài Gòn.

  1. Thành phần tư bản tham gia vào lĩnh vực ngân hàng ở miền Nam (1955-1975)

Việc phát triển kinh tế nhanh đã làm tăng nhu cầu vốn của ở miền Nam giai đoạn 1955-1975. Để có vốn sản xuất, các nhà kinh doanh ở miền Nam dựa chủ yếu vào nguồn vốn tự do hoặc nguồn vốn qua ngân hàng và các tổ chức tín dụng nhà nước. Đối với nguồn vốn ngân hàng, tại miền Nam cũng xuất hiện hai hệ thống là hệ thống ngân hàng nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại của tư bản tư nhân.

Trong giai đoạn 1955-1975, ngoài ngân hàng trung ương đóng vai trò kiểm soát và điều phối thị trường, chính quyền Sài Gòn cũng thành lập một số ngân hàng có tính chất thương mại để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế thuộc lĩnh vực đặc quyền. Trong đó phải kể đến hai ngân hàng là Ngân hàng Việt Nam thương tín và Ngân hàng phát triển Nông nghiệp. Trong khi Ngân hàng Việt Nam thương tín hoạt động đầu tư vào lĩnh vực thương mại và kỹ nghệ, thì Ngân hàng phát triển Nông nghiệp tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp.

Ngoài hệ thống ngân hành nhà nước, ở miền Nam giai đoạn 1955-1975, còn có sự hiện diện của hàng chục ngân hàng của tư bản tư nhân trong và ngoài nước. Tư bản tư nhân tham gia vào các hình thức ngân hàng thương mại (ngân hàng ký thác), ngân hàng nông thôn (từ năm 1969 trở đi) hoặc các hợp tác xã và hiệp hội nông dân.

Trong giai đoạn 1954-1964, trong số 13 ngân hàng tại miền Nam có 3 ngân hàng của tư bản nước ngoài[9]. Đến giai đoạn 1965-1970, với sự gia tăng đột biến của hoạt động nhập khẩu, các ngân hàng thương mại ở miền Nam tăng vọt. Trong thời kỳ này có 15 ngân hàng thương mại với 56 chi nhánh được thành lập, nâng tổng số ngân hàng thương mại ở miền Nam lên 28 ngân hàng[10]. Trong giai đoạn này, đánh dấu sự tham gia mạnh của tư bản trong nước, năm 1970 ở miền Nam đã có đến 15 ngân hàng thương mại của các nhà tư sản trong nước[11].

Đến thời kỳ 1970-1975, hệ thống ngân hàng miền Nam có sự đổi hướng hoạt động, số ngân hàng thương mại phát triển chậm lại. Thay vào đó là sự hình thành rộng khắp mạng lưới ngân hàng nông thôn của các tư bản tư nhân kết hợp với nguồn vốn của chính quyền Sài Gòn.

Các ngân hàng nông thôn do tư nhân thành lập và quản lý, hoạt động lợi nhuận thông qua việc cho vay vốn ở nông thôn và thu hút tiền ở nông dân. Mặc dù mang tư cách tư nhân, song các ngân hàng nông thôn lại có các chế định riêng biệt, được hưởng sự ưu đãi của chính quyền và sự kiểm soát của Ngân hàng quốc gia Việt Nam. Về tài chính, ngân hàng nông thôn được chính quyền Sài Gòn hỗ trợ bằng hình thức góp vốn (với số vốn không quá 49%). Phạm vi hoạt động của các ngân hàng này nằm trong một quận hành chính và phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn.

Tóm lại, trong giai đoạn 1955-1975, hệ thống ngân hàng ở miền Nam Việt Nam có bước phát triển nhảy vọt và thu hút sự tham gia của nhiều thành phần tư bản.

III. VAI TRÒ CỦA TƯ BẢN NGÂN HÀNG TRONG NỀN KINH TẾ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN (1954-1975)

  1. Trong lĩnh vực nông nghiệp

Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực hiện các chính sách cải cách điền địa, khuyếch trương nông nghiệp, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đã du nhập vào miền Nam phương thức canh tác mới với nhiều loại giống mới, phân hóa học, thuốc trừ sâu, máy móc, nhằm đưa kinh tế nông nghiệp miền Nam vào guồng máy kinh tế sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa.

Chính sách đó đã thúc đẩy kinh tế nông nghiệp miền Nam phát triển theo hướng mới, song cũng tạo ra nhu cầu lớn về vốn trong sản xuất nông nghiệp. Thấy rõ tầm quan trọng của vốn đối với phát triển nông nghiệp, chính quyền Sài Gòn đặc biệt chú ý thiết lập các hệ thống tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, từ đó dẫn đến sự ra đời của hệ thống ngân hàng nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn từ sau năm 1967.

Bên cạnh hệ thống ngân hàng nông nghiệp của chính quyền Sài Gòn, còn có sự tham gia của tư bản ngân hàng vào lĩnh vực này và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tin dụng cho nông dân. Các hình thức đầu tư của tư bản gồm có:

Các ngân hàng ký thác. Đến trước năm 1975, ở miền Nam có hơn 30 ngân hàng ký thác. Nhưng mục đích chủ yếu của các ngân hàng này là đầu tư vốn vào các hoạt động thương mại, kỹ nên nên số lượng vốn đầu tư cho nông nghiệp rất ít (chỉ khoảng 7%)[12].

Từ năm 1969, nổi lên trong lĩnh vực nông nghiệp có sự tham gia của hệ thống ngân hàng nông thôn. Với việc hình thành hệ thống ở từng quận, hệ thống ngân hàng này đã phát triển rộng khắp và ngày càng chiếm số lượng lớn số người vay. Năm 1971 hệ thống ngân hàng này đã cho vay 8.054 người, đến năm 1973, số người vay đã tăng lên 50.981 người, với số vốn lên tới 7.430 triệu đồng[13].

  1. Trong lĩnh vực công – thương nghiệp

Trong lĩnh vực công – thương nghiệp, tư bản ngân hàng cũng ngày càng giữ vị trí quan trọng, thậm chí chi phối tư bản công thương nghiệp. Hệ thống ngân hàng thương mại vào đầu năm 1970 cung cấp khoảng 31,8% đến 47,4% tín dụng cho sản xuất công nghiệp. Trong đó phần lớn được dùng phục vụ trực tiếp cho việc phát triển thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa. Năm 1968, có tất cả 43 công tư tư bản lớn vay 14,6 tỷ tương đượng 55% tổng số tín dụng của ngân hàng thương mại trong năm. Năm 1970, con số các công ty được vay tăng lên gần gấp 2 lần, với 70 công ty lớn vay 19,5 tỷ, tương đượng 46% tổng số tín dụng trong năm[14]. Tuy nhiên, đa số những công ty được vay là các công ty của tư bản nước ngoài và tư bản người Hoa.

Ngoài việc cho vay phục vụ sản xuất, tư bản ngân hàng miền Nam còn tham gia trực tiếp vào sản xuất, bằng việc thành lập các công ty, nhà máy công nghiệp, tạo ra một hệ thống kinh doanh quan trọng.

Nhìn chung, trong giai đoạn 1955-1975, tư bản ngân hàng đã ngày càng trở nên quan trọng trong việc cung cấp vốn cho quá trình tái sản xuất, cung cấp vốn tư bản cho các xí nghiệp, công ty tồn tại.

KẾT LUẬN

Nhìn chung, cùng với sự xâm nhập ngày càng mạnh kinh tế tư bản vào miền Nam Việt Nam là sự phát triển nhảy vọt của hệ thống ngân hàng miền Nam, trong đó có sự tham gia đông đảo của tư bản trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, sự phát triển của tư bản trong ngành ngân hàng ở miền Nam trước năm 1975 cũng có một số đặc điểm riêng:

Ở miền Nam, tư bản ngân hàng không tham gia vào tất cả những hoạt động của nền kinh tế, mà chỉ tập trung vào một số lĩnh vực có sự đảm bảo, hỗ trợ của chính quyền. Mà chủ yếu là tập trung vào các nghiệp vụ thương mại, nhất là xuất nhập khẩu hơn là phát triển kỹ nghệ hoặc nông nghiệp.

Lợi nhuận kinh doanh của hệ thống ngân hàng cũng chỉ tập trung vào tay tư bản nước ngoài và tư bản người Hoa. Theo số liệu năm 1973, 14 ngần hàng của tư bản nước ngoài có vốn là 1,31 tỷ đồng miền Nam nhưng thu lời đến 2,93 tỷ, lãi 222%. Trong khi 17 ngân hàng thương mại của tư bản tư nhân Việt Nam có số vốn 3,72 tỷ đồng nhưng chỉ lời 1,38 tỷ, lãi 1,31 tỷ đồng[15]. Lý giải nguyên nhân của vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là do uy tín của ngân hàng nước ngoài cao hơn.

Tư bản ngân hàng ở miền Nam trước năm 1975 đã tham gia và ngày càng có vai trò quan trọng, chi phối vào kinh tế và có tác động quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

  1. Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005.
  2. Nguyễn Văn Hảo, Nhận định tình hình kinh tế Việt Nam (1955-1970), tập 1, Vv. 839, TTII
  3. Nguyễn Văn Nhật, Vài nét về hệ thống tín dụng nông nghiệp ở miền Nam trước ngày giải phóng.
  4. Nguyễn Đăng Hải, Tín dụng nông nghiệp trong kế hoạch phát triển quốc gia, Sài Gòn 1973
  5. Nguyễn Xuân Hoài, Chế độ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam Việt Nam (1955-1963), Luận án tiến sĩ
  6. Viện khoa học xã hội, Một số đặc điểm kinh tế của miền Nam Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, 1991
  7. Phan Đắc Lực, Vị trí của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nước ngoài trong nền kinh tế miền Nam Việt Nam, Nxb. KHXH, 1964
  8. Trần Văn Thọ (chủ biên), Kinh tế Việt Nam 1955- 2000, Tính toán mới, phân tích mới, Nxb. Thống Kê, 2000

 

[1] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 62

[2] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 62

[3] Trần Văn Thọ (chủ biên), Kinh tế Việt Nam 1955-2000 tính toán mới, phân tích mới, Nxb Thống Kê, HN-2000, tr. 123.

[4] Trần Văn Thọ (chủ biên), Kinh tế Việt Nam 1955-2000 tính toán mới, phân tích mới, Nxb Thống Kê, HN-2000, tr. 127.

[5] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 64

[6] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 185.

[7] Nguyễn Văn Nhật, Vài nét về hệ thống tín dụng nông nghiệp ở miền Nam trước ngày giải phóng.

[8] Nguyễn Đăng Hải, Tín dụng nông nghiệp trong kế hoạch phát triển quốc gia, Sài Gòn 1973, tr.29

[9] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 184.

[10] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 185.

[11] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 185.

[12] Nguyễn Văn Nhật, Vài nét về hệ thống tín dụng nông nghiệp ở miền Nam trước ngày giải phóng.

[13] Nguyễn Văn Nhật, Vài nét về hệ thống tín dụng nông nghiệp ở miền Nam trước ngày giải phóng.

[14] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 185.

[15] Võ Ven Sen, Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), Nxb ĐHQG Tp. HCM – 2005, tr. 190.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *