Trang chủ / Báo cáo thực tập | Tiểu luận / Tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII

Tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII

 

CHUYÊN ĐỀ: VIỆT NAM THẾ KỶ XVII-XVIII

Đề tài: TIẾP XÚC ĐÔNG – TÂY Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XVII-XVIII

 

MỤC LỤC

 DẪN NHẬP ………………………………………………………………………… 2

I. YẾU TỐ LỊCH SỬ TÁC ĐỘNG ĐẾN CUỘC TIẾP XÚC ĐÔNG – TÂY Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XVII-XVIII……………………………………. 4

  1. Bối cảnh lịch sử ………………………………………………………….. 4
  2. Điều kiện cho cuộc tiếp xúc Đông – Tây ……………………….. 5

II. CÁC KÊNH TIẾP XÚC ĐÔNG – TÂY ………………………….. 7

  1. Tôn giáo…………………………………………………………………… 7
  2. Thương mại …………………………………………………………….. 10
  3. Chính trị…………………………………………………………………… 11

 

III. KẾT LUẬN  …………………………………………………………………… 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………… 14

 

DẪN NHẬP

 

Thế kỷ XVII-XVIII có thể coi là những thế kỷ bản lề trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam. Bởi trong hai thế kể này, bản đồ đất nước Việt Nam được xác lập hoàn chỉnh, bằng công cuộc Nam tiến vĩ đại của các cư dân Việt; cũng trong thế kỷ này, cuộc tiếp xúc Đông – Tây đã thổi làn gió mới, đã tác động mạnh đến ý thức hệ tư tưởng phong kiến Viết Nam và tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp xúc gần hơn với phương Tây và văn minh phương Tây nói riêng.

Nghiên cứu về giai đoạn này trong lịch sử Việt Nam đã có rất nhiều công trình của các học giả, nhà nghiên cứu uy tín trong và ngoài nước, song kết quả đạt được chưa phải đã toàn diện. Nếu các vấn đề về công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam đã được phục dựng khá hoàn chỉnh, thì việc nghiên cứu những vấn đề của cuộc tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII còn khá hạn hẹp. Chỉ có thể tìm thấy “bóng dáng” của cuộc tiếp xúc Đông – Tây trong các ghi chép của các giáo sĩ, các thương đoàn hải ngoại phương Tây trong thế kỷ XVII-XVIII; trong các nghiên cứu hiện nay, những vấn đề của cuộc tiếp xúc Đông – Tây cũng được tìm thấy trong các tác phẩm, công trình nghiên cứu về các thương điểm của châu Âu ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, các nghiên cứu về lịch sử du nhập, phát triển của Thiên Chúa giáo,…. Đến nay, chưa có tác giả nào chọn và coi cuộc tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII là đối nghiên cứu chính của đề tài.

Vì vậy, trong thời gian học tập chuyên đề Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, học viên chọn “Tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn sưu tầm, tập hợp tư liệu để bổ khuyết kiến thức cho bản thân cũng như cung cấp thêm tư liệu cho các bạn đồng niên.

Tìm hiểu đề tài, học viên dựa trên những phương pháp cơ bản của khoa học Lịch sử. Trên cơ sở tìm hiểu, sắp xếp các sự kiện lịch sử theo lịch đại, đặt sự kiện trong bối cảnh lịch sử cụ thể mà nó diễn ra, học viên tập trung tìm hiểu các điều kiện thúc đẩy, chi phối và nội dung, cũng như tác động của cuộc tiếp xúc Đông – Tây diễn ra ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII.

Trong quá trình học, học viên nhận được sự chỉ dạy tần tình của Thầy cô và các bạn đồng niên, song do khả năng còn hạn hẹp nên đề tài chắc chắn còn có thiếu sót. Học viên kinh mong tiếp tục nhận được sự chỉ dạy của Thầy cô và các bạn.

I. YẾU TỐ LỊCH SỬ TÁC ĐỘNG ĐẾN CUỘC TIẾP XÚC ĐÔNG – TÂY Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XVII-XVIII

  1. Bối cảnh lịch sử

Phương Tây và văn hóa phương Tây nói riêng với cội nguồn, địa vực và cái nôi chính thống là châu Âu. Nơi có đời sống kinh tế – xã hội theo hướng trọng động và trình độ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh. Phương Đông và văn hóa phương Đông là khu vực rộng lớn ngoài phương Tây. Nơi có cơ tầng xã hội thiên hướng tĩnh và là cái nôi của nền văn minh cổ xưa của nhân loại. Đông – Tây hay văn hóa Đông – Tây là hai nửa của nền văn hóa nhân loại, bị khu biệt một cách tương đối về địa lý cũng như về văn hóa. Sư khu biệt ở đây thể hiện ở chỗ, trước khi diễn ra sự tiếp xúc Đông – Tây, sự nhận thức của cả phương Tây và phương Đông còn rất mở hồ và lệch lạc về vùng đất bên kia. Và vì vậy, sự tiếp xúc giữa Đông và Tây được hiểu theo tư cách là hai thực thể văn hóa khu biệt, có cơ hội tiếp xúc gần gũi và trực tiếp với nhau. Mà để có sự tiếp xúc đó, đòi hỏi phải có các yếu tố cần và đủ của sự phát triển lịch sử cả ở phương Tây và phương Đông.

Thế kỷ thứ XVII và XVIII, đặc biệt là thế kỷ thứ XVII, là thời gian hình thành của giai cấp tư sản Âu Tây. Sau các cuộc phát kiến địa lý, tìm ra những đất mới ở Mỹ, Á, Phi, tư sản Âu Tây càng phát triển mạnh mẽ. Giai cấp tư sản thành hình, lấn vào chính quyền, xây dựng chế độ quân chủ độc đoán và chuẩn bị cho cuộc cách mạng tư sản. Tùy tương quan lực lượng giữa tư sản và quý tộc bấy giờ trong mỗi nước mà phong trào tư tưởng chống Giáo hội, xây dựng một hệ thống lý tính khoa học có tính chất quyết liệt hoặc dung hòa với tư tưởng tôn giáo. Đồng thời, thế kỷ XVII-XVIII ở phương Tây cũng thừa hưởng thành quả rực rỡ của khoa học kỹ thuật sau thời kỳ trung cổ.

Trong khi đó ở phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, chế độ phong kiến bước vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng. Ở Việt Nam, sự tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến đã dẫn đến kết cuộc Nam – Bắc phân tranh. Mà kéo theo đó là chiến tranh tương tàn, nhân dân ly tán, sống trong bần cùng, khổ cực. Trong hoàn cảnh đó, ý thức hệ Nho giáo – ý thức hệ chủ đạo của chế độ phong kiến và xã hội Việt Nam thời điểm đó, đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử.

  1. Điều kiện cho cuộc tiếp xúc Đông – Tây

Đến trước các cuộc phát kiến địa lý thế kỷ XV, hai nền văn hóa Đông Tây bị khu biệt một cách tương đối. Bao quanh Phương Tây lúc đó là biển cả, phía đông bị chặn lại bởi thế giới Hồi Giáo ở Bán đảo Tiếu Á mênh mông yêu sa mạc, vì sa mạc mang lại cho họ sự tự do và nhiều thứ lợi nhuận do cướp bóc từ các thương đoàn của mạch đường tơ lụa trên đất liền. Sự nhận thức của Phương Tây về thế giới Phương Đông xa xôi rất mơ hồ.

Phải đến thế kỷ XV, khi mà nhiều cuộc phát kiến địa lý lớn diễn ra rất thành công, cơ hội tiếp xúc và giao lưu giữa Đông và Tây mới thật sự mở ra. Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, cung cấp những phương tiện cơ bản, cần thiết cho các chuyến thám hiểm, cũng như cho các thương – giáo đoàn tới phương Đông, tạo tiền đề và cơ sở vật chất quan trọng giúp cho “hai nửa” văn hóa đó xích lại gần nhau.

Trên phương diện kinh tế, ngay từ giữa thế kỷ XV, những mầm mống kinh tế tư bản đã manh nha xuất hiện trong lòng nền kinh tế phong kiến Tây Âu. Sự phát triển kinh tế hàng hóa tư bản trong giai đoạn đầu tự do cạnh tranh khiến thị trường truyền thống của các thương nhân nơi đây trở lên chật hẹp, thúc đẩy họ tìm kiếm thị trường mới ở phương Đông.

Trên phương diện tôn giáo, sự chia rẽ của đạo Ky tô, khiến Giáo hội La Mã bị mất dần vai trò ở châu Âu. Vì vậy, nhu cầu hướng ra vùng đất rộng lớn ngoài châu Âu, mong muốn tìm lại vị thế đang mất dần của mình, thúc đây các Giáo hội Âu châu tìm đến phương Đông truyền bá đức tin.

Trong khi đó, phương Đông – một vùng đất rộng lớn, có vị trí địa lý thuận lợi nằm trên con đường hàng hải thế giới, cũng với nền văn hóa hài hòa, cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc Đông – Tây diễn ra.

Riêng với Việt Nam, cơ hội và thuận lợi cho sự giao lưu tiếp xúc văn hóa càng xuất hiện rộng rãi. Việt Nam có vị trí địa lý nằm ở rìa đông bán đảo Đông Dương, là ngã tư đường giao thoa các nền văn hóa lớn, là một nhịp cầu nối chính yếu giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo… Là quốc gia ven biển, vùng đất tiếp xúc đầu tiên với các tác nhân của cuộc tiếp xúc Đông – Tây. Đồng thời, ở Việt Nam còn có yếu tố thuận lợi, xuất phát từ đặc tính văn hóa của người Việt là văn hóa mở, sẵn sàng đón nhận yếu tố mới.

Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII cũng là một nhân tố thuận lợi cho cuộc tiếp xúc Đông – Tây được diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Sự tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến Việt Nam thế kỷ XVII, thúc đẩy cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn tích cực, chủ động giao thương và thiết lập quan hệ với các giá trị của phương Tây, đặc biệt là về quân sự và khoa học kỹ thuật.

Bên cạnh cơ hội và yếu tố thuận lợi, cuộc tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam cũng gặp một số trở ngại không nhỏ.

Trước hết đó là sự khác biệt về văn hoá, chính trị, xã hội là những trở ngại sâu xa và chính yếu nhất đối với cuộc tiếp xúc Đông – Tây, đặc biệt là sự du nhập của Thiên Chúa Giáo – một kênh tiếp xúc trực tiếp của phương Tây  vào Việt Nam.

Hai là, với lịch sử hàng nghìn năm chống ngoại xâm, đã tạo cho dân tộc Việt tính tự tôn dân tộc cao, từ đó tạo ra màng lọc mang tính tự nhiên trong giao lưu, tiếp nhận các luồng văn hóa ngoại lai. Mà sự xung đột với đạo Thiên Chúa giáo là một minh chứng cụ thể.

Ba là, bối cảnh chính trị Việt Nam vừa là thuận lợi như nêu trên, song cũng là trở ngại cho cuộc tiếp xúc Đông – Tây. Sự tranh giành quyền lực của của chúa Trịnh và chúa Nguyễn, một mặt tạo điều kiện cho các đoàn thương – giáo Tây phương vào Việt Nam. Song, với mục đích lợi dụng các đoàn Tây phương nhằm tăng cường sức mạnh quân sự, nên cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều tỏ ra nghi kỵ và có những chính sách cấm đoán các đoàn này giao thương và quan hệ với phía đối phương. Vì vậy, đã tạo ra sự ngăn trở nhất định đối với cuộc tiếp xúc Đông – Tây.

II. CÁC KÊNH TIẾP XÚC ĐÔNG – TÂY

Tiếp xúc văn hóa, văn minh giữa Phương Tây và Phương Đông ở Việt Nam đã diễn ra từ rất sớm, những bằng chứng về sự tiếp xúc Đông – Tây được tìm thấy trong nền văn hóa Óc Eo tồn tài từ những năm đầu công nguyên. Đó là những đồng tiền La Mã xuất hiện ở di chỉ Ốc Eo, cho thấy các giá trị của phương Tây đã có mặt ở đây. Song sự ít ỏi của các hiện vật cũng cho thấy, sự tiếp xúc Đông – Tây thời kỳ này còn rất nhỏ giọt và bị đứt quãng và phần nhiều nghiên về khía cạnh thương mại.

Phải đến cuối thế kỷ XVI, sự tiếp xúc giữa Đông và Tây ở Việt Nam mới thực sự phát triển. Đặc biệt là từ thế kỷ XVII, nó thực sử đã trở nên trực tiếp, liên tục và thường xuyên. Đặc điểm của sự tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam giai đoạn này là sự tiếp xúc đó được trải ra trên hai “kênh” tôn giáo và thương mại. Hai kênh này cùng được tiến hành song song và tương hỗ với nhau. Mà các nhà nghiên cứu đã đúc kết cho hiện tượng này: “Các giáo sĩ và nhà buôn là những người bạn đồng hành trên cùng một chiếc thuyền, cùng một ngọn nước để đến Việt Nam”[1].

  1. Tôn giáo

Sự du nhập Thiên chúa giáo vào Việt Nam được diễn ra ngay từ thế kỷ XVI và được chia làm hai giai đoạn với nhiều thăng trầm. Trong thế kỷ XVII-XVIII, sự truyền bá đạo Thiên chúa được coi là kênh tiếp xúc trực tiếp, chủ yếu của phương Tây vào Việt Nam. Có thể chia sự truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII thành hai giai đoạn nhỏ.

Giai đoạn thứ nhất là hoạt động của các giáo sĩ dòng Tên trong thế kỷ XVII:

Trong giai đoạn này, sự truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam có vai trò quan trọng của các giáo sĩ dòng Tên ở Việt Nam, cụ thể là hai giáo sĩ Francesco Busomi và Diego Carvalho đến Đàng Trong vào năm 1615[2]. Trong đó, giáo sĩ Francesco Busomi (hoạt động ở Đàng Trong từ 1615 đến 1639) được coi là người sáng thực sự ra giáo đoàn ở Việt Nam. Trong 10 năm đầu truyền giáo ở Đàng Trong, các giáo sĩ đã nhận được sự cho phép của Sãi Vương, nên hoạt động truyền giáo được diễn ra mạnh mẽ. Trong thời gian này, có khoảng 20 giáo sĩ dòng Tên – chủ yếu là người Bồ Đào Nha, đã đến Đàng Trong truyền đạo.

Trước sự phát triển mạnh đó, năm 1625, các giáo sĩ dòng Tên quyết định mở rộng việc truyền đạo ra Đàng Ngoài. Tại đây, các giáo sĩ tiếp tục nhận được sự ủng hộ của chúa Trịnh, nên nhanh chóng thành lập được giáo đoàn vào năm 1626, do Alexandre de Rhodes đứng đầu.

Tuy nhiên, sau giai đoạn phát triển mạnh đó, hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ dòng Tên bị ngăn cản bởi các chính sách cấm đạo của cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Tử nửa sau thế kỷ XVII, mặc dù cố gắng truyền đạo Thiên chúa vào Việt Nam, song vai trò của các giáo sĩ dòng Tên ngày càng lu mờ dần. Và vai trò của đạo Thiên chúa với tư cách là một kênh trực tiếp của sự tiếp xúc Đông – Tây cũng phai nhạt.

Giai đoạn thứ hai là hoạt động của Hội truyền giáo Hải ngoại, từ nửa sau thế kỷ XVII cho đến thế kỷ XVIII:

Trong khi vai trò của các giáo sĩ dòng Tên lu mờ, thì ở phương Tây xuất hiện sự tranh gianh của các nước tư bản đối với thị trường Việt Nam. Sự tranh giành đó ảnh hướng đến cả hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ đạo Ky tô. Và đưa đến sự hình thành Hội truyền giáo Hải ngoại, với nhiệm vụ truyền đạo Thiên chúa ở phương Đông, trong đó có Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XVII. Đây có thể coi là giai đoạn thứ hai của sự du nhập đạo Thiên chúa vào Việt Nam.

Trên thực tế, hoạt động của Hội truyền giáo Hải ngoại từ nửa sau thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII không đạt được kết quả lớn như trong giai đoạn đầu Thiên chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam. Cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn ngày càng áp dụng chính sách gắt gao hơn với hoạt động truyền đạo. Đặc biệt ở Đàng Ngoài trong thế kỷ XVIII, các chúa Trịnh áp dụng chính sách cực đoàn đối với việc truyền đạo. Bên cạnh các biện pháp ngăn cấm việc giảng đạo, các vụ truy nã giáo sĩ, giáo dân ngày càng xảy ra nhiều. Ở Đàng Trong, chính sách cấm đạo của các chúa Nguyễn không diễn ra liên tục, mà tùy thuộc vào từng vị chúa. Trong những đầu thế kỷ XVIII, chính sách của các chúa Nguyễn tỏ ra khoan dung hơn, hoạt động truyền đạo được diễn ra công khai và tự do. Nhưng năm 1724, chúa Nguyễn Phúc Chu ban đạo dụ trục xuất giáo sĩ và cấm thần dân theo đạo Thiên chúa. Sau đến chùa Nguyễn Phúc Chú, hoạt động truyền đạo lại được cho phép. Từ năm 1750, dưới đời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, ông lại ban lệnh đuổi tất cả các giáo sĩ ngoại quốc[3].

Nhìn chung, trong hai thế kỷ XVII-XVIII, hoạt động truyền bá đạo Thiên chúa không diễn ra suôn sẻ, liên tục bị đứt quãng bởi các chính sách của chúa Trinh và chúa Nguyễn. Song, hoạt động truyền bá đạo Thiên chúa đã tạo ra nhiều yếu tố tích cực trong cuộc tiếp xúc giữa phương Tây và Việt Nam.

Các giáo sĩ khi truyền bá đạo Thiên Chúa tới Việt Nam, đã mang theo cả một thế giới văn minh Phương Tây khác biệt và hiện đại, giới thiệu cho người dân Việt. Những công nghệ, kỹ thuật và khoa học cũng được truyền bá cả về lý thuyết và phương tiện cụ thể. Những thành tựu của khoa học kĩ thuật Phương Tây khiến cho không chỉ dân thường theo đạo bị cuốn hút mà ngay cả các phủ chúa cũng bị mê hoặc. Rất nhiều tư liệu cho thấy việc các phủ chúa, đặc biệt là chúa Nguyễn, sử dụng các giáo sĩ như những vị cố vấn về khoa học.

Đồng thời, Thiên Chúa Giáo khi du nhập vào nước ta đã làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam, cho dù có lúc nó đã đối mặt một cách gay gắt và quyết liệt với một số tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục của dân tộc. Trong đó, có những giá trị văn hóa cụ thể, như: Chữ quốc ngữ, y học phương Tây, nhà in, nghệ thuật (kinh thánh, thánh ca…), kiến trúc.

Song, là một tôn giáo nhất thần, Thiên Chúa giáo ngay từ buổi đầu vào Việt Nam đã tỏ ra xa lạ và gặp phải những phản kháng nội thân của văn hóa bản địa. Trên con đường phát triển của đạo Ki tô, nó gạt bỏ một cách lạnh lùng những giá trị văn hoá truyền thống có tính chất là trở lực đối với sự phát triển của nó. Từ đó tạo ra các định kiến, còn kéo dài dai dẳng cho đến các thế kỷ sau – định kiến giữa Lương – Giáo. Mà Giáo sư Nguyễn Văn Trung, một trí thức Công giáo đã viết : “Chúng ta trở nên xa lạ trước đồng báo không Công giáo, vì một người Việt Nam theo đạo chẳng những phải bỏ tôn giáo cổ truyền và tổ tiên, chấp nhận đức tin Công giáo còn phải bỏ gia tài văn hoá Việt Nam”.[4]

  1. Thương mại

Kênh tiếp xúc Đông – Tây thứ hai cũng không kém phần quan trọng là kênh thương mại. Đó là hoạt động giao thương của các thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Theo các tài liệu, các thương nhân mới là những người đến Việt Nam trước nhất. Họ có mặt ở Việt Nam ngay từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, trong đó, đâu tiên là các thương nhân Bồ Đào Nha. Do mục đích giao thương, họ chủ yếu tập trung ở các đô thị, cảng thị như Phố Hiến, Kẻ Chợ, Hội An,…. Ở những nơi này, họ thiết lập các thương điếm của người châu Âu và tiến hành trao đổi hàng hóa với các thương nhân người Hoa, người Nhật,… Đồng thời, thiết lập quan hệ giao thương với cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, trong đó chủ yếu là việc mua bán vũ khí.

Trong thế kỷ XVII, việc buôn bán với các nước phương Tây không xuất phát từ yêu cầu chung của nền kinh tế mà từ lợi ích riêng biệt của chính quyền phong kiến, như về vũ khí phục vụ cho cuộc chiến, hoặc vì những lợi ích khác. Nên trong thế kỷ này, khác với các nhà truyền giáo, các thương nhân phương Tây nhận được sự chào đón của cả chúa Nguyễn và chúa Trịnh. Do mục đích về quân sự và tìm kiếm sự trợ giúp từ phương Tây, cả chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều áp dụng chính sách cởi mở với các đoàn thương nhân phương Tây. Song quan hệ giao thương của các thương nhân phương Tây với các phủ chúa giai đoạn này cũng tạo ra sự phân chia rõ rệt. Nếu ở Đàng Trong, nổi lên quan hệ giữa chúa Nguyễn và các thương nhân Bồ Đào Nha thì ở Đàng Ngoài là quan hệ giữa chúa Trịnh và các thương nhân Hà Lan. Sự phân chia này đã tạo ra sự xung đột nhất định giữa các phủ chúa với các đoàn thương nhân khác nhau, đồng thời có cả sự tranh giành thị trường giữa các đoàn thương nhân với nhau. Từ đó, đưa đến sự ngăn trở đối với cuộc tiếp xúc Đông – Tây.

Vì vậy, ở kênh tiếp xúc, sự tiếp xúc giữa Đông và Tây tỏ ra hạn chế. Bên cạnh sự giao lưu văn hóa thông qua trao đổi hàng hóa, kênh tiếp xúc thông qua giao thương cũng góp phần mang khoa học kỹ thuật của phương Tây đến Việt Nam, đặc biệt là kỹ thuật về vũ khí và quân sự.

Tuy nhiên, cũng do mục đích nhiều về quân sự, nên khi cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn tạm ngưng, chính sách của các phủ chúa với các thương nhân phương Tây cũng nhanh chóng thay đổi. Và hoạt động của các thương nhân phương Tây, cũng như các thương điếm của họ ở Việt Nam cũng mau chóng lụi tàn.  Điều này có thể nhận thấy một cách rõ nét ở thế kỷ XVIII, chiến tranh Trịnh – Nguyễn tạm ngưng, nhu cầu mua vũ khí của phương Tây giảm sút. Việc buôn bán với phương Tây cũng sa sút dần.

  1. Chính trị

Chính trị cũng là một kênh tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII. Song nó không diễn ra rõ nét và mạnh mẽ như kênh tôn giáo, thương mại và diễn ra cả từ hai phía.

Đối với các nước phương Tây, trong nửa cuối thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản đã lớn mạnh, bước vào giai đoạn tìm kiếm thị trường. Giai cấp tư sản phương Tây thâm nhập thì trường phương Đông thông qua hai con đường. Một là sự hoạt động của các công ty, như ở Việt Nam là công ty Đông Ấn. Hai là thông qua con đường truyền giáo. Trong việc truyền giáo vào Việt Nam, từ nửa sau thế kỷ XVII đã diễn ra sự tranh giành ảnh hưởng giữa Giáo hội La Mã và các nhà nước tư sản. Mà sự ra đời của Hội truyền giáo Hải ngoại Pháp ở Việt Nam là một biểu hiện cụ thể.

Trong khi đó, ở Việt Nam, các chính quyền phong kiến Trịnh – Nguyễn đều có chung ý định, thông qua các giáo sĩ, các thương đoàn phương Tây để tiếp xúc với các nước phương Tây, mong muốn dựa vào đó để tiêu diệt đối phương của mình.

Tuy không rõ nét, nhưng các yếu tố chính trị đã có tác động không nhỏ đến cuộc tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII. Đặc biệt là sự tác động từ phía các tập đoàn phong kiến Việt Nam. Trong những thời điểm, các thế lực phong kiến Việt Nam cần vũ khí, cần thế lực phương Tây để củng cố thể lực, họ có những chính sách tác động tích cực đến cuộc tiếp xúc Đông – Tây. Ngược lại, khi không còn ý định lợi dụng các giáo sĩ, các thương đoàn phương Tây, các tập đoàn phong kiến Việt Nam áp dụng các biện pháp ngăn cấm quyết liệt, làm đứt đoạn cuộc tiếp xúc.

III. KẾT LUẬN

Nhìn chung, trong thế kỷ XVII, XVIII cuộc tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ và có tính liên tục. Song cuộc tiếp xúc đó đã chịu sự tác động không nhỏ bởi các chính sách của các thế lực phong kiến Việt Nam.

Trên đại thể, cuộc tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam mang một số đặc điểm nội bật sau:

  1. Đây là cuộc tiếp xúc mang tính một chiều, mà Việt Nam nằm ở thế thụ động. Tuy nhiên, trong một thời điểm nhất định, các thế lực phong kiến Việt Nam cũng chủ động đón nhận cuộc tiếp xúc.
  2. Cuộc tiếp xúc được trải ra trên hai “kênh” tôn giáo và thương mại và hai kênh này cùng được tiến hành song song, vừa có tính độc lập vừa có tính tương hỗ với nhau.

Về hệ quả, cuộc tiếp xúc Đông – Tây ở Việt Nam thế kỷ XVII, XVIII đã đưa đến sự du nhập một tôn giáo mới vào Việt Nam – Thiên chúa giáo. Đồng thời, mang đến cho người dân Việt nhiều giá trị văn hóa, văn minh phương Tây. Trong đó, nổi trội hơn cả là tư tưởng và khoa học kỹ thuật hiện đại của phương Tây ngày càng xâm nhập mạnh vào xã hội Việt Nam. Nó chưa đủ sức tạo ra sự biến đổi căn bản hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam, song manh nha làm xuất hiện những mầm mống của tư tưởng canh tân đất nước – một trao lưu mạnh mẽ phát triển trong các tầng lớp sĩ phu Việt Nam một thế kỷ sau đó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

      1.            Tiếp xúc văn hóa Đông Tây ở Việt Nam thời cận đại, một vài nhận xét qua trường hợp của Đạo Thiên Chúa vào Việt Nam,, http://www.atheenah.com

  1. C.B. Maybon (Nguyễn Thừa Hỷ dịch), Những người châu Âu ở nước An Nam, Nxb, Thế giới, 2011.
  2. Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam, tập I Hệ ý thức Phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử.
  3. Gs. Trương Hữu Quýnh – GS. Đinh Xuân Lâm – PGS. Lê Mậu Hãn (cb), Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập, Nxb. GD, 2001
  4. Đỗ Thanh Bình – Nguyễn Thị Thu Thủy, Thương điếm của các nước Phương Tây ở Đại Việt thế kỷ XVII

[1] Tiếp xúc văn hóa Đông Tây ở Việt Nam thời cận đại, một vài nhận xét qua trường hợp của Đạo Thiên Chúa vào Việt Nam,, http://www.atheenah.com

[2] C.B. Maybon (Nguyễn Thừa Hỷ dịch), Những người châu Âu ở nước An Nam, Nxb, Thế giới, 2011, tr.16

[3] C.B. Maybon (Nguyễn Thừa Hỷ dịch), Những người châu Âu ở nước An Nam, Nxb, Thế giới, 2011, tr.16

[4] Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam, tập I Hệ ý thức Phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tr. 380

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *