Trang chủ / Báo cáo thực tập | Tiểu luận / Tổng quan nghiên cứu về ASEAN

Tổng quan nghiên cứu về ASEAN

Chuyên đề: ASEAN TRONG KHUYNH HƯỚNG KHU VỰC HÓA VÀ TOÀN CẦU HÓA

Bài giữa kỳ: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ASEAN

 

ASEAN từ một tổ chức gồm 5 nước Đông Nam á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Phillipin và Singapo) được thành lập năm 1967, với nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, trong một khu vực chịu nhiều tác động về an ninh – chính trị của các cường quốc, trở thành một tổ chức của các quốc gia Đông Nam á (10 nước). Đặc biệt từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX (từ năm 1997) đến nay, ASEAN xuất hiện như một xu hướng trong quan hệ quốc tế, một thực thể chính trị-kinh tế quan trọng ở châu Á-Thái Bình Dương và là đối tác không thể thiếu trong chính sách khu vực của các nước lớn và các trung tâm quan trọng trên thế giới.

Với những thành tựu nổi bật, ASEAN đã thu hút được đông đảo sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, giới khoa học. Trong đó có thể kể đến một số công trình, tác phẩm:

  1. Trần Khánh (2002), Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb KHXH;
  2. TS. Nguyễn Ngọc Dung (2002), Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN, Nxb ĐHQG-HCM;
  3. Nguyễn Trần Quế (cb) (2003 ), 35 năm ASEAN hợp tác và phát triển, Nxb KHXH;
  4. TS. Trần Đình Thiên (2005), Liên kết kinh tế ASEAN – vấn đề và triển vọng, Nxb Thế giới;
  5. Thomas L. Friedman (2005), Chiếc Lexus và cành ô liu, Nxb KHXH;
  6. TS. Phạm Đức Thành (2006), Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI, Nxb KHXH;
  7. Phạm Đức Thành – Trần Khánh (cb) (2006), Việt Nam trong ASEAN – nhìn lại và tương lai, Nxb KHXH;
  8. Hoàng Khắc Nam (2008), Hợp tác đa phương ASEAN+3 – vấn đề và triển vọng, Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM;

Hay một số bài viết:

  1. Nguyễn Quang Thuấn (2003), Quan hệ ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, Nghiên cứu Đông Nam Á , số 1/2003;
  2. Đinh Công Tuấn (2005), Quan hệ hợp tác toàn diện EU – ASEAN, Nghiên cứu châu Âu, số 5/2005;

Bằng việc sử dụng phương pháp tiếm cận khu vực (Regional approach), các tác giả coi Đông Nam á nói chung và ASEAN nói riêng như một đối tượng phân tích, nghiên cứu. Với phương pháp tiếp cận khu vực, các tác giả tập trung nghiên cứu các mối liên hệ rằng buộc mang tính không gian và thời gian, các mối quan hệ, liên kết của ASEAN trên trường quốc tế; và sự tác động của các xu hướng quan hệ quốc tế đến sự phát triển của ASEAN.

Tiêu biểu cho phương pháp tiếp cận này có thể kể đến Thomas L. Friedman với tác phẩm Chiếc Lexus và cành ô liu. Ông cho rằng: “Toàn cầu hoá không chỉ đơn giản là một trào lưu thời thượng mà đúng ra là một hệ thống quốc tế. Hệ thống này bây giờ đã thay thế hệ thống Chiến tranh Lạnh và cũng như hệ thống Chiến tranh Lạnh, toàn cầu hóa có quy tắc và lôgic riêng hiện đang trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến chính trị, môi trường, địa chính trị và kinh tế của hầu như mọi nước trên thế giới”[1]. Từ tư duy đó, trong tác phẩm Chiếc Lexus và cành ô liu, Thomas L. Friedman coi toàn cầu hóa là một hệ thống mới, để định nghĩa, miêu tả nó và lý giải sự chi phối của nó đối với đời sống thế giới. Ông cũng tự nhận là người: “phát hiện và lần đầu tiên giúp định nghĩa hệ thống toàn cầu hóa mới mẻ đang chi phối chúng ta”[2].

Cũng theo phương pháp tiếp cận này, ở trong nước có các tác giả: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Dung; PGS.TS. Phạm Đức Thành; Trần Khánh,…. Đặc biệt, cung cấp cho độc giả hệ thống lý luận về phương pháp tiếp cận khu vực, trong sách Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN, PGS. TS. Nguyễn Ngọc Dung đã dành chương đầu trình bày về chủ nghĩa khu vực. Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, tác giả đã đưa ra một cách có hệ thống các luận điểm khoa học.

Khái niệm về khu vực: “khu vực thoạt tiên là một khái niệm địa lý với nội hàm biến đổi theo nhận thức của con người ở mỗi thời điểm lịch sử. Tuy không có quy ước rõ ràng về không gian, nhưng khu vực hàm chứa những hệ thống khác nhau về tự nhiên, sinh thái và nhân văn. Các hệ thống đó, đến lượt mình lại chia ra các phân hệ và phần tử để tạo thành một cấu trúc khu vực. Mặc dù khu vực là một thực thể phức tạp với nhiều hệ thống đa tầng như vậy, nhưng đặc trưng quan trọng nhất của khu vực là tính lãnh thổ. Từ đây, tùy theo đối tượng nghiên cứu mà người ta có được các ngành hoặc các lĩnh vực khoa học khác nhau, như khu vực địa lý, khu vực lịch sử, khu vực văn hóa, khu vực địa – chính trị…”[3].

Chủ nghĩa quốc gia: “là một khái niệm có tính lịch sử, phản ánh những biến đổi trong sự phát triển lịch sử của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại”. “Chủ nghĩa quốc gia (dân tộc) là hệ tư tưởng và đường lối chính trị của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, đồng thời cũng là tâm lý trong vấn đề dân tộc, đối lập với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Nền tảng cơ sở của chủ nghĩa quốc gia là tư tưởng về tính vượt trội, siêu việt của một dân tộc, tính chất ngoại lệ của một hình thức cộng đồng siêu giai cấp. Chủ nghĩa quốc gia trở thành ngọn cờ của giai cấp tư sản chống chế độ phong kiến. Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, chủ nghĩa quốc gia có mối quan hệ mật thiết với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Trong chủ nghĩa quốc gia của các dân tộc bị áp bức có cả nội dung dân chủ lẫn các khía cạnh phản động. Chủ nghĩa xã hội đã tạo ra những điều kiện để vượt qua chủ nghĩa quốc gia, thủ tiêu sự áp bức và đối kháng dân tộc” [4].

Chủ nghĩa khu vực: “là một hệ thống các nguyên tắc và tiêu chí, theo đó, các quốc gia – dân tộc trong cùng một không gian địa – lịch sử, địa – văn hóa, địa – chính trị – xã hội có thể hợp tác với nhau để cùng phát triển bản thân mỗi quốc gia cũng như toàn khu vực; không phụ thuộc vào thể chế, chế độ chính trị xã hội, hệ tư tưởng, trình độ phát triển kinh tế – xã hội cũng như bản sắc văn hóa tôn giáo riêng của từng quốc gia dân tộc.” [5]

Chủ nghĩa toàn cầu hóa: “là một khuynh hướng phát triển, thể hiện ý chí, nguyện vọng hợp tác, nguyên tắc hợp tác của toàn thể các dân tộc trên thế giới, vì nền hòa bình và an ninh quốc tế, vì sự công bằng và tiến bộ xã hội, vì trách nhiệm chia sẻ những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển của xã hội loài người.” [6]

Dựa trên phương pháp tiếp cận khu vực, tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau, các tác giả đi sâu nghiên cứu về ASEAN trên hai bình diện: một là, nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của ASEAN trong xu thế phát triển của thế giới; hai là, nghiên cứu xu hướng liên kết, hội nhập khu vực thông qua các quan hệ hợp tác của ASEAN.

Tuy nhiên hai khuynh hướng này thường không tách bạch một cách rõ nét mà được triển khai tổng hợp.

Ở khuynh hướng thứ nhất, có các tác giả: Trần Khánh, Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa; Nguyễn Trần Quế (cb), 35 năm ASEAN hợp tác và phát triển;…

Các tác giả trên đã trình bày quá trình hình thành và phát triển ASEAN, từ:

Sự ra đời:

Do vị trí địa lý thuận lợi và giàu có về tài nguyên thiên nhiên, từ rất sớm, khu vực Đông Nam á trở thành nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa, đối tượng chinh phục và nô dịch thuộc địa của ngoại bang. Nhờ có sự tương đồng và gần gũi về văn hóa, truyền thống chống ngoại xâm và tinh thần hợp tác bạn bè, các dân tộc Đông Nam á không những bảo vệ được cốt lõi nền văn hóa, bảo vệ được độc lập dân tộc, đặc nền móng cho sự hợp tác và liên kết khu vực.

Sự thất bại của chủ nghĩa phát xít và sự hình thành thế giới 2 cực, sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, đưa đến các nước Đông Nam á có mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng với nhau.

Sự gia tăng đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ cũng là nhân tốc thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức mang tính khu vực.

Rõ ràng việc ra đời của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) vào năm 1967 không chỉ là kết quả lớn mạnh của ý thức tự cường, đoàn kết khu vực, mà còn là phản ứng của các nước này trước sự gia tăng của chiến tranh lạnh. Việc đó dẫn tới khu vực Đông Nam á bị phân hóa thành 2 nhóm nước với những mối nghi kỵ và quan hệ đối địch nhau.

Sự ra đời của ASEAN bước đầu đánh dấu sự thắng thế của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự cường khu vực của các quốc gia – dân tộc Đông Nam á.

Mặc dù những mục tiêu, nhiệm vụ đưa ra trong tuyên bố Băng Cốc còn mập mờ, chưa cụ thể hóa, cơ cấu tổ chức còn lỏng lẻo, thiếu rõ ràng, nguyên tắc hoạt động còn chung chung, nhưng sự ra đời của ASEAN đã đặt nền móng thể chế – pháp lý cho sự hình thành và triển khai các cơ chế hợp tác cũng như mở rộng kết nạp các thành viên mới sau này.

Sự mập mờ về thái độ chính trị của ASEAN đã khiến cho các cực quyền quốc tế lúc đó e ngại hay dè dặt trong quan hệ với tổ chức này. Mỹ và nhiều nước đồng minh của Mỹ cho đến năm 1975 chưa mặn mà trong quan hệ với ASEAN. Các nước xã hội chủ nghĩa, lúc đầu cũng hoài nghi, coi ASEAN là một tổ chức trá hình, công cụ mới của chủ nghĩa đế quốc.

Các giai đoạn phát triển:

Giai đoạn 1: thời kỳ xây dựng lòng tin và học cách hóa giải (1967-1976)

Những mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên cùng với nhu cầu ổn định chính trị nội bộ và đảm bảo an ninh quốc gia của mỗi nước và tình hình biến động chính trị – quân sự quốc tế và khu vực trong 10 năm đầu đã đẩy lĩnh vực hợp tác kinh tế trở thành thứ yếu trong hợp tác ASEAN. Thực trạng này đã không phản ánh đúng mục tiêu hoạt động chính của ASEAN, được ghi rõ trong tuyên bố thành lập Hiệp hội năm 1967.

Trong 10 năm đầu tồn tại, ASEAN đã thu được kết quả hết sức khiêm tốn.

Vai trò vượt trội của các yếu tố chính trị – an ninh trong việc hình thành ASEAN đã chi phối các hoạt động của Hiệp hội. Mặc dầu các văn bản của Hiệp hội trước đó không công khai nói về hợp tác chính trị – an ninh, nhưng hoạt động này trở thành động lực chính duy trì sự tồn tại và ổn định nội bộ ASEAN, đặt nền móng cho các hợp tác và liên kết khu vực tiếp theo.

10 năm đầu tồn tại và phát triển của ASEAN là thời kỳ thử thách, xây dựng lòng tin và học cách hòa giải – giai đoạn tự ý thức mình. Yếu tố chính trị – an ninh hầu như chi phối mọi hoạt động của Hiệp hội và là chất kết dính đoàn kết ASEAN trở thành một khối với tư cách là một thực thể trong hệ thống quan hệ quốc tế.

Giai đoạn 2: Giai đoạn hành động để khẳng định mình (1977-cuối 1980)

ASEAN ra đời, tồn tại và phát triển lên thành một thực thể kinh tế – chính trị tương đối thống nhất trong hệ thống quan hệ quốc tế không những là kết quả lớn mạnh của chủ nghĩa khu vực mà còn là sản phẩm của chiến tranh lạnh.

Những phối hợp hành động trên mặt trận ngoại giao, chính trị về các vấn đề an ninh của khu vực và quốc tế trong những thập niên 70-80 đã tạo nên chất kết dính, thúc đẩy các nước ASEAN đoàn kết lại với nhau. Tuy kết quả hợp tác kinh tế còn khiêm tốn, nhưng thành tựu của nó trên mặt trận chính trị – an ninh và sự gắn kết của tổ chức này với nền kinh tế các nước tư bản phát triển và công nghiệp mới đã tạo dựng tiền đề ban đầu để biến ASEAN trở thành một trung tâm quyền lực mới trong hệ thống quan hệ quốc tế.

Giai đoạn 3: Giai đoạn của những sáng kiến và thích ứng với toàn cầu hóa (đầu 1990-nay)

Trong khoảng thập niên cuối của thế kỷ XX, ASEAN đã tự lớn lên từ một tổ chức nghiêng về hợp tác chính trị – an ninh trở thành một thực thể kinh tế – chính trị tương đối hoàn chỉnh, trong đó hợp tác kinh tế trở thành yếu tố và động lực thúc đẩy sự thống nhất và liên kết khu vực.

Đầu thập niên 90 đến nay là giai đoạn trong đó ASEAN đã đưa ra hàng loạt sáng kiến mới nhằm thích ứng với sự gia tăng của toàn cầu hóa và thay đổi quyền lực trên thế giới thời hậu chiến tranh lạnh. ASEAN trở thành một trung tâm quyền lực mới ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Đến sự phát triển của ASEAN trong mối quan hệ và sự tác động của toàn cầu hóa ở hiện tại:

Cơ hội và thánh thức đối với ASEAN

Cơ hội: làm tăng nhanh cơ sở vật chất và kỹ thuật cho liên kết khu vực và hội nhập quốc tế; cải thiện môi trường pháp lý, thúc đẩy dân chủ hóa xã hội và làm tăng thêm hợp tác láng giềng thân thiện; làm tăng tính “mở” của hợp tác khu vực.

Thách thức: nền kinh tế dễ bị tổn thương; cạnh tranh không cân sức; gia tăng phần hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội;

Thích ứng của ASEAN trước toàn cầu hóa:

  • Tạo dựng các cơ chế mới, thúc đẩy hợp tác và liên kết kinh tế: khu vực mậu dịch tự do ASEAN – AFTA; Hợp tác công nghiệp ASEAN – AICO; khu vực đầu tư ASEAN – AIA;
  • Thiết lập cơ chế hợp tác an ninh đa phương – diễn đàn khu vực ASEAN – ARF
  • Mở rộng ASEAN – 6 thành ASEAN – 10
  • Phát triển quan hệ đối thoại với các nước và tổ chức quốc tế
  • Hình thành hợp tác ASEAN +3 (Hợp tác Đông á)
  • Tăng cường hợp tác tiểu vùng và thu hẹp khoảng cách phát triển

Trong khi đó, rất nhiều tác gia tập trung nghiên cứu ASEAN theo khuynh hướng thứ hai, nghiên cứu xu hướng liên kết, hội nhập của tổ chức này. Theo khuynh hướng này có thể kể đến các tác giả: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Dung, Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN; PGS.TS. Trần Đình Thiên, Liên kết kinh tế ASEAN – vấn đề và triển vọng; Phạm Đức Thành – Trần Khánh (cb), Việt Nam trong ASEAN – nhìn lại và tương lai; Hoàng Khắc Nam, Hợp tác đa phương ASEAN+3 – vấn đề và triển vọng;….

Các tác giả trên tập trung nghiên cứu ASEAN trên cơ sở sự tác động của các cường quốc và xu thế toàn cầu hóa.

Cũng đồng nhất quan điểm với các tác giả theo khuynh hướng thứ nhất về sự ra đời và các giai đoạn phát triển của ASEAN. Nhưng các tác giả theo khuynh hướng thứ hai tập trung nghiên cứu sâu hơn giai đoạn sau trong quá trình phát triển của ASEAN – giai đoạn hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh lạnh. Theo đó, luận điểm được các tác giả đưa ra tập trung vào các nội dung:

  1. Sự kết thúc của chiến tranh lạnh, sự trỗi dậy của Trung Quốc, toàn cầu hóa, các thỏa ước mậu dịch tự do, cuộc chiến chống khủng bố, và cách tiếp cận qua các thiết chế để gìn giữ hòa bình đang gây nên những sự chuyển hướng ngoạn mục trong quan hệ giữa các quốc gia Đông Á. Một kiến trúc khu vực mới ở dạng các phối trí chính trị, tài chính, và mậu dịch giữa các quốc gia Đông Á, đang được hình thành, và sẽ có tác động đáng kể đối với chính sách và quyền lợi của các cường quốc, với trọng tâm là trục Mỹ – Trung Quốc – Nhật Bản – Nga và EU.

Ở nội dung này, các tác giả đưa ra các đánh giá về thành tựu và hạn chế của ASEAN trên các bình diện liên kết:

 Về chính trị-an ninh: Đây là lĩnh vực có nhiều hoạt động hợp tác nổi trội và là nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình và ổn định ở khu vực. ASEAN chủ động đề xướng và tích cực phát huy tác dụng của nhiều cơ chế bảo đảm hòa bình và an ninh khu vực, như  Tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC) năm 2002, là bước quan trọng tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông, …

ASEAN khởi xướng lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) để tạo khuôn khổ thích hợp cho ASEAN và các đối tác bên ngoài tiến hành đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị-an ninh ở Châu Á-TBD.

Về kinh tế: là lĩnh vực có những bước tiến quan trọng và hiện là động lực đẩy nhanh tiến trình liên kết khu vực. Đến nay, ASEAN đã cơ bản hoàn tất các cam kết về hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA).

Hợp tác ASEAN cũng được đẩy mạnh và mở rộng trong nhiều lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, hải quan, thông tin viễn thông, tiêu chuẩn đo lường chất lượng…

Mặt khác, ASEAN tích cực tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại với các đối tác bên ngoài, nhất là việc đàm phán thiết lập các khu vực mậu dịch tự do (FTA) với hầu hết các nước đối thoại của ASEAN, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, ….

Về văn hóa-xã hội:  các hoạt động hợp tác chuyên ngành ngày càng được mở rộng với rất nhiều chương trình/dự án khác nhau trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học – công nghệ, môi trường, y tế, phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, HIV/AIDS, bệnh dịch…

Về quan hệ đối ngoại: ASEAN đã tạo dựng được quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều đối tác quan trọng trên thế giới, khởi xướng thành công và giữ vai trò chủ đạo trong một số khuôn khổ hợp tác khu vực ở Châu Á-TBD. Quan hệ đối ngoại thông qua các khuôn khổ hợp tác khu vực do ASEAN lập ra và giữ vai trò chủ đạo như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).

  1. Nghiên cứu về cấu trúc ASEAN với sự chống đỡ bởi hai trụ. Trụ kinh tế rất vững và đang lớn mạnh hơn. Một mạng lưới các FTA khu vực và song phương đang phát triển. Cả FTA Đông Á (gồm 13 quốc gia) lẫn FTA Á Châu (gồm 16 quốc gia) đang được thảo luận cùng lúc. Trong khi, trụ an ninh – chính trị phát triển chậm hơn. Bước tiến bộ nhất đã được thực hiện với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đóng vai trò người triệu tập các hội nghị và có dạng của Cộng đồng An ninh ASEAN (10 quốc gia Đông Nam Á) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (25 quốc gia, gồm cả Hoa Kỳ).
  2. Sự ảnh hưởng của các cường quốc đối với ASEAN. Luận điểm của các tác giả ở nội dung này tập trung chủ yếu trong mối quan hệ tam giác ASEAN – Trung Quốc – Mỹ. Với nguy cơ Trung Quốc khống chế khu vực ở Đông Á, kéo theo hướng có hại cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Mà để đối phó, một số quốc gia châu Á vận động chống thế lực của các cường quốc khác như Mỹ, Nhật, Nga, EU,… chống lại nguy cơ bị Trung Quốc khống chế. Nhưng một số nước khác lại bác bỏ một chính sách kềm chế Trung Quốc một cách lộ liễu. Mặt khác, quyền lợi của quốc gia đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của ASEAN.

Từ những phân tích trên, các tác giả nêu lên triển vọng phát triển của ASEAN trong tương lai (thế kỷ XXI):

  • ASEAN có điều kiện hơn để trở thành một cộng đồng các quốc gia độc lập, phát triển bền vững và đồng đều hơn, có mức độ liên kết chặt chẽ hơn, nhưng các thành viên không mất đi bản sắc chính trị và văn hóa riêng.
  • ASEAN tiếp tục bị sức ép ngày càng lớn của toàn cầu hóa. Sự thống nhất mang tính truyền thống của ASEAN đang bị xói mòn và đang có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện AFTA – nền tảng của sự hội nhập của nền kinh tế khu vực.

Nhìn chung, các công trình, bài viết về ASEAN rất phong phú, đa dạng cả về số lượng và chất lượng. Các công trình đã phản ánh sự vận động, thay đổi trên các bình diện an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực Đông Nam á và tổ chức ASEAN. Tuy nhiên, trước những thách thức mới của môi trường địa chính trị thế giới, ASEAN đang nảy sinh nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, nhất là những vấn đề liên quan đến cấu trúc còn lỏng lẻo; đến vai trò của tổ chức này trong các tranh chấp ở khu vực.

[1] Thomas L. Friedman (2005), Chiếc Lexus và cành ô liu, Nxb KHXH

[2] Thomas L. Friedman (2005), Chiếc Lexus và cành ô liu, Nxb KHXH

[3] PGS. TS. Nguyễn Ngọc Dung (2002), Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN, Nxb ĐHQG-HCM

[4] PGS. TS. Nguyễn Ngọc Dung (2002), Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN, Nxb ĐHQG-HCM

[5] PGS. TS. Nguyễn Ngọc Dung (2002), Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN, Nxb ĐHQG-HCM

[6] PGS. TS. Nguyễn Ngọc Dung (2002), Sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN, Nxb ĐHQG-HCM

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *