Độc đáo kiến trúc Tây nguyên

LINH NGA NIE KDAM
Nhạc sĩ, Nhà nghiên cứu Vãn hóa Tây Nguyên

 

 

Đến Tây Nguyên, điều đập vào mắt du khách trước tiên là những nhà Rông mái cao vút như chiếc rìu khổng lô tạc vào bầu trời xanh lông lộng. Ở vùng có người Êđê, Jrai sinh sống, nó còn là căn nhà sàn “dài bằng một tiếng chiêng ngân” mà Trường ca T sử thi Đam San đã nhắc tới. Kiến trúc nhà ở và Nhà mồ chính là nét đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa vật thể các dân tộc thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung.

I – NHỮNG ĐẶC TRƯNG CHUNG

  1. Nhà ở

Tất cả các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên đều ở nhà sàn. Có loại nhà sàn tạm bợ tranh tre, nứa lá của đa số nhóm Môn — Khơmer (do tập quán du cư). Nhưng cũng có nhà sàn kiên cố như nhà Rông của người Bâhnar, Sê Đăng, nhà dài của người Êđê, Jrai. Gầm sàn cao để có thế làm nơi nhốt trâu bò, tránh thú dữ nhảy lên vì cư trú giữa rừng. Đông bào Êđê tại buôn Kó Siêr thành phố Buôn Ma Thuột kể lại rằng: Ngôi nhà của tù trưởng Ama Thuột trước khi bị hỏa hoạn, dài tới cả trăm mét. Vì tập quán chọn nơi cư trú gần các bến sông lớn (Ayun, Srêpôk, Ya Ly, sông Ba…) nên chân cột nhà sàn của người Jrai thường cao hơn so với những tộc người cùng làm nhà sàn kiên cố khác.

Nhà thường dựng quân cư trên bãi đất rộng theo hướng Bắc – Nam, rất mát mẻ vào mùa khô, ấm áp vào mùa mưa, tránh được cái nắng nóng gay gắt của cao nguyên từ hướng Tây .

Các nhóm tộc người Môn — Khơmer (trừ người Bâhnar & Sê Đăng) hầu hết đều làm nhà sàn dạng mu rùa: hơi khum khum và chân thấp.

Mang nặng đặc tính mẫu hệ, nên mỗi khi có một cô con gái lấy chông, thêm một cặp vợ chông trẻ, nhà sàn lại được nối thêm một ngăn. Càng nhiêu con, nhà càng dài.

  1. Nhà mỒ

Người Tây Nguyên có quan niệm vòng luân hồi 7 kiếp, nên việc dựng nhà và chia của cho người chết rất được coi trọng. Khi lập buôn, bao giờ chủ làng hoặc các thày cúng cũng dành phía tây làng (phía mặt trời lặn) để làm khu Nhà mồ. Căn nhà mổ (dù là Nhà mồ tạm khi người chết vừa nằm xuống chưa được bỏ mả) phải được dựng giống như căn nhà ở thu nhỏ lại. Chí khác là bao giờ cũng dựng theo hướng Đông — Tây, có thé đón trọn ánh nắng mặt trời cả ngày, mà còn giảm bớt mùi hôi thối (nếu có) do tập quán chôn chung nhiêu người trong một ngôi mộ của người Jrai. Trước và xung quanh mộ có khắc hình những chiếc nồi đồng, gùi, ché, tượng trai gái…bằng gỗ, vừa như hình thức của cải của người đă khuất, vừa như có thêm bầu bạn nơi “làng ma – buôn atâu

Trên đầu mộ của người Êđê, Jrai thường dựng một căn nhà sàn nhỏ đặt trên một cây cột, dùng làm nhà cúng cơm. Khi làm lễ bó mả, phải phá bỏ nhà mồ cũ, dựng nhà mới, đẹp hơn, chắc hơn, khác tượng mới, để chia tay vĩnh viên.

Sự hiện diện của các vật dụng trong Nhà mồ, đối với mọi tộc người, dù là tượng gỗ hay đô dùng sinh hoạt đập vỡ đi hay làm thu nhỏ lại, ngoài ý nghĩa chia của còn là để người chết có bầu bạn và vẫn giữ được đầy đủ lối sống như trên mặt đất.

  1. Những đặc điểm riêng của kiến trúc TÂy Nguyên

Điểm đặc biệt thứ nhất: Vật liệu hoàn toàn bằng gỗ, tre, nứa, tranh.. .những loại cây cỏ hiện diện trong rừng. Không có bất cứ một vật dụng nào bằng sắt thép hay những chất kết dính không mang tính tự nhiên. Phương tiện dùng để dựng nên căn nhà cũng rất đơn giản, chỉ với những chiếc rìu (xagac)

Điểm đặc biệt thứ hai: Các cột và xà nhà nhà sàn hay nhà Rông chỉ được đặt chông lên nhau, hoặc ghép mấu (theo dạng ngàm) vào nhau rất trùng khít (nếu lỡ bị thiếu hụt độ dài cần phải nối thêm), khó có thế tìm thấy điểm nối và không hẻ đóng đinh, cũng hiếm khi phải dùng dây buộc. Nếu cần dùng đến mây, sự chằng.chéo sẽ tạo nên những đường nét tương tự một loại hình trang trí cho cột kèo thêm đẹp.

Điểm đặc biệt thứ ba: Trên thân cột gian ngoài cùng, hoặc trên toàn bộ các hệ thống cột chính, có khi bằng một cây gổ xẻ bớt chiêu rộng đé có một cây cột nhà hình hộp, người họa sỹ chân đất Jrai, Sê Đăng hay Bâhnar.. .sẽ vẽ hoặc khắc chạm lên đó những đường ký hà quen thuộc, thường xuất hiện trên thổ cầm. Còn trên xà ngang ngay cửa ra vào, hoặc cột ở gian khách, khác nổi hình những con vật quen thuộc đối với cư dân rừng núi, như chim, rùa, kỳ đà, hoặc các hình sao, hình dấu nhân…

II – KIẾN TRÚC TÂY NGUYÊN

Đặc trưng nhất của kiến trúc Tây Nguyên là nhà Rông và nhà sàn. Mỗi một tộc người đêu có kiểu cách riêng, do chính các nghệ nhân của cộng đông tự “ thiết kế”, tạo hình.

  1. Nhà Rông :

Các tộc người Bâhnar, Sê Đăng, Jrai, Triêng,.Ca Tu… thường định cư một chỗ nên có nhà sinh hoạt cộng đông, gọi chung là Rông. Ngôi nhà Rông của các cộng đông làng đêu là nhà sàn, phổ biến có hình dạng mái cao vút dáng như lưỡi rìu, vượt hẳn lên trên mái các ngôi nhà trong làng. Trên mái nhà Rông, cầu thang lên xuống, các xà ngang, cột cái trong nhà đêu được trang trí nhiêu mô típ hoa văn.

Các tộc người thuộc nhóm có tập quán chuyển cư như Mnông, K’Ho, Chil… không có nhà Rông, chỉ xử dụng nhà của tù trưởng làm nơi sinh hoạt cộng đồng.

Có nhiêu tên gọi ngôi nhà cộng đông này :

  • Kuốt, Rung, Roong là cách gọi của người Sê Đăng
  • Gươn là cách gọi chung của người Ca Tu
  • Nhà Ưng, N’Ring, Ương là tên gọi của tộc người Triêng.
  • Katrooc là tên gọi của nhóm Jẻ ở huyện Đăk Giây
  • Nhà Roong là cách gọi của người Brâu
  • Nhà Mnao là cách gọi của người Ka Dong ở Ngọc Hồi
  • Nhà Goong là tên gọi cùa nhóm Rơ măm
  • Người Bâhnar gọi Hnăm Jơng, Hnăm Roong.

          Ở đây chúng tôi tạm dùng một từ là “nhà Rông” (Roong) làm tên gọi chung cho tất cả các loại nhà cộng đông. Cũng do tính đông nhất của kiến trúc Rông, chúng tôi chọn những nét tiêu biểu của một vài tộc người làm ví dụ điển hình :

Nhà Rông của người Bâhnar và Sê Đăng có hình dạng tương tự như nhau. Tuy nhiên bề ngang mái Rông Bâhnar thường bằng chiêu ngang nhà, trong khi mái rông Sê Đăng lại thót dân lại khi lên cao hơn. Thông thường Rông xử dụng gỗ chò chỉ, hoặc cà chít đế làm cột; vách và sàn là nứa đập dập, các vì kèo bằng tre nứa và lợp tranh.

Công việc chuần bị vật liệu kéo dài nhiều ngày tháng được phân công cho từng nhóm đàn ông trong làng và cùng nhau thực hiện. Sau khi vật liệu đầy đủ, đưa tất cả vê nơi đã được lựa chọn, việc dựng Rông bắt đầu. Quan trọng nhất là trước lúc mặt trời mọc, phải đào và bỏ xuống lỗ đó một con gà để dựng và chôn chác cây cột chính của Rông, gọi là Yang Rong. Trong vòng 7 ngày phải nhanh chóng hình thành khung sàn, sau đó láp ráp toàn bộ và hoàn thành việc dựng khung nhà. Kế đến mới buộc nứa cao dần lên thành hai sườn mái. Các vì kèo được xếp rất khéo léo, cùng với dây mây buộc chéo từng nút, thành hình hoa văn như tia sáng mặt trời. Mái nhà Rông dốc, thường cao từ 10- 15m, có hai đầu hôi cũng nhỏ dần lên tận nóc.

Tranh được lợp từ trên xuống dưới, còn được vặn thành những “con cúi” to bằng bắp tay, dài suốt dọc mái nhà từ dưới lên tới đỉnh, để sau đó “dặm” vào cho kín các điểm tiếp giáp giữa hai mái nhỏ đâu hôi với mái lớn hai bên. Nóc mái nhà Rông Sê Đăng, Bâhnar có trang trí một số hình lượn sóng hoặc sổ thẳng. Mái Rông rất cao, nên những người thợ lợp phải hết sức khéo léo, nhất là thời điểm dựng nhà Rông thường đúng vào mùa khô, cũng là mùa gió mạnh ở cao nguyên.

Tại xã Văn Lem huyện Đăk Tô (Kon Tum), một nửa mái nhà Rông của người Sê Đăng lợp bằng hai lớp nứa đan cài các hoa văn hình quả trám và kỷ hà rất đẹp, nứa mái dưới và hai đầu hôi mới lợp bằng tranh

Mái nhà Rông của một số vùng người Bâhnar ở Gia Lai và Bình Định, Kbang (như tại làng Sơ Tơr của Anh Hùng Núp và một số plei Bâhnar Chăm ớ tỉnh Bình Định) cũng được lợp bằng cách đan hai lớp nứa chông lên nhau, để đảm bảo không bị mưa dột. Lớp mái ngoài cùng người ta lật một số thanh cật nứa ra ngoài, phơi khô, nhuộm đen để làm thành hai hoặc ba dải màu khác chạy suốt chiều ngang mái ở phía trên cùng hoặc phía dưới.

Sau khi đã lợp mái, người ta mới đan phên nứa để làm vách, cũng đan hai lớp (tanh pni hnam) đế tránh mưa tạt. Hình thức lợp mái hai lớp nứa này, rồ ràng có sự ảnh hưởng qua lại giữa hai tộc người Bâhnar và Sê Đăng. Sàn nhà Rông bằng cây tre lớn, chẻ đôi, chặt hết “ mắt”, đập dập làm bốn mảnh, thường cao cách mặt đất chừng hơn lm. Có 8 cây cột cái (đại thụ). Những nhà Rông lớn như của người Bâhnar Rngao ở làng Kon Rbang, thị xã Kon Tum có hệ thống cột to hơn một vòng tay ôm. Nhà Rông có cửa hai bên và một cửa phía trước mở ra một sàn hiên cũng lát tre hoặc gỗ. Tại một số nhà Rông ở huyện Đăk Đoa tỉnh Gia Lai, đầu hiên sàn Rông còn có tượng hai con chim công đậu xếp cánh. Cầu thang cửa trước thường dành cho khách và đàn ông. Cầu thang bên hông dành cho phụ nữ, trẻ em. Thang phổ biến là một hay hai ba thân gỗ tròn, đục thành bậc. Cũng có khi là một ống bương lớn chặt một nửa trên thân để thành bậc lên xuống.

Tại những vùng cận kê với tộc người Bâhnar, thường là nhóm Jrai Arap và một phần nhóm H’Dr ung, đêu có nhà sinh hoạt cộng đông, cũng có tên gọi là nhà Rông. Chỉ nhóm Jrai Chor là không có nhà Rông.

* Khác với các tộc người Sê Đăng, Bâhnar, Gươn hoặc Ưng nhà Rông của nhóm các tộc người Ca Tu, Jẻ, Triêng, Vân Kiều, Sơ Drá… cấu trúc tương tự như nhau, cũng cao lớn hơn nhà ở thông thường, mái nhà dạng ovan, hai đầu mái có hình ngọn rau Yớn (dương xi), thường chỉ cách mặt đất chừng lm. Các vì kèo phía trong được xếp thành hình vòng tròn, chụm lại ở trên nóc, xung quanh một cây cột cái chính giữa nhà, xà trang trí rất cầu kỳ bằng cách vẽ hoặc khác nổi hình các con vật như: kỳ đà, rùa, rắn, thậm chí cả hình rông. Các kèo buộc với nhau bằng dây mây trắng, thành những đường chéo rất công phu.

Cầu thang Gươn và Ưng đóng bằng nhiéu những tấm ván, chứ không phải là nguyên một hoặc hai thân gỗ tròn như nhà Rông Bâhnar hay Sê Đăng. Nhà Ưng của người Triêng, ngoài các bậc cấp ở cửa giữa, còn có hai cầu thang ở hai đâu hôi, dành cho phụ nữ mang đô ăn hoặc chuyển các ghè rượu cân khi cần tiếp khác

  1. Nhà ớ :

Có thể chia nhà ở của các tộc người Tây Nguyên làm ba loại hình dạng khác nhau :

* Nhà sàn thuộc dạng kiên cố:

Của các tộc người Sê Đăng, Bâhnar, Êđê, Jrai: các cột nhà đều là thân cây gỗ lớn. Từ mặt đất lên đến mặt sàn thường cao 1 – l,5m. Do một mối giao lưu khởi nguôn từ lâu đời, có thế do sự hướng dẫn của các cha cố người Việt từ miền xuôi lên truyền giáo, mà hình thức nhà sàn vách trát bằng đất trộn rơm, mặt xoa nhẵn thín của người Việt, đã xuất hiện phổ biến tại Kon Tum và Gia Lai. Kiểu nhà này tồn tại đã đến hàng vài chục năm. Gân đây nhiều vùng bà con học cách dùng tôn thay cho vách đất và vách nứa khó kiếm hơn.

* Nhà dạng “tạm’’ (nhà vòm) :

Của nhóm các tộc người phía nam Tây Nguyên như Mnông, Jẻ Triêng, Stieng… cũng là nhà dài nhưng do có tập quán du cư, nên đều làm dạng nhà trệt bằng vật liệu không bẻn vững, như gỗ làm cột nhà thường là loại cây chí bằng bắp tay. Mái nhà lợp tranh rủ xuống sát đất, có hai cửa ra vào hình ovan. Dưới lớp tranh, trên hệ thống các vì kèo, là một tấm phên đan thưa thành các hình vuông, hoặc quà trám rất khéo léo.Trong nhà, duy nhất chi có một sàn nứa chạy suốt dọc bề dài của căn nhà, là nơi sinh hoạt của tất cả các thế hệ trong một gia đình đang cùng chung sống. Trên gác bếp, luôn có một dàn chứa lúa, bắp giống, hoặc cất giữ các loại thịt khô, cá khô.

  • Nhà Êđê (nhóm Mã Lai — Đa đảo)

Khác với hình ảnh quen thuộc mà đa số người hình dung ở Tây Nguyên là ngôi nhà Rông, người Êđê không có nhà sinh hoạt cộng đông chung. Quần thể buôn làng Êđê gôm vài chục ngôi nhà sàn dài, có kiến trúc kiên cố (ngày nay ta gọi vật liệu gỗ là bán kiên cố). Hình dạng ngôi nhà sàn tương tự như một chiếc thuyên dài, khác hẳn với kiến trúc nhà của mọi tộc người ở Tây Nguyên. Điểm đặc biệt của kiến trúc nhà Êđê, Jrai tiêu biểu cho nhóm ngôn ngữ Nam Đảo:

Đập vào mắt du khách trước tiên là mái tranh (hlang), với hai đầu hồi nhọn nhô ra phía sàn hiên trước và sau nhà. Mái thường lợp rẫt dày, đủ sức chịu đựng vài chục năm mưa liên miên ở Tây Nguyên. Dột ớ đâu, người ta gỡ tranh tại đó ra dặm lại, khiến trên mái nhà có những khoảng tranh mới cũ khác nhau, tạo nên một ấn tượng vui mắt.

Một căn nhà sàn Eđê, Jrai có chiều dài thường từ 25-50m. Trong những ngôi nhà thông thường, hệ thống cột gôm 6 cây gỗ (ana) lớn chạy song song hai bên lòng nhà. Đông bộ với các cột (kmeh sang) là hai cây xà nhà (êyông sang) dài cũng suốt chiêu dọc của căn nhà. Chuấn bị dựng nhà, những người thợ phải tìm và chọn lựa cho được những thân gỗ rất thẳng, nguyên cây (suốt từ gốc tới tận ngọn) đé làm các hàng cột và đà này. Ngoài ra còn phải có hàng trăm cây tre hoặc lồ ô (kram, lô ô, le) để làm kèo và sàn. Chí từ sau khi người Pháp đến Tây Nguyên, mới có sàn và vách nhà làm bằng ván xẻ. Một vật liệu quan trọng không kém là mây (guôt) chẻ nhỏ dùng để buộc vì kèo và đá tàng (boh atâo) đế kê chân cột.

Người Jrai cũng ở nhà sàn dài như người Êđê, nhưng hệ thống cột không lớn và kiên cố như người Êđê. Với tập quán chọn địa điểm cư trú gần kề sông nước (sông A Yun Pa, sông Ba, sông Sa Thây…), các cột nhà Jrai thường có độ cao hơn nhà Êđê, đế sàn gần như lênh khênh trên hệ thống những cây gổ nhó hơn cột nhà dài Êđê. Ớ vùng cư trú của nhóm Jrai Hdrung nhà sàn có hình dạng nhỏ hơn. Tuy nhiên ngày nay dạng nhà này hâu như phổ biến khắp các địa bàn người Jrai. Bắt đầu từ thời kỳ Mỹ – Thiệu, người Jrai và Bâhnar ở một số vùng gần Plei Ku phát triến kiều nhà sàn nhỏ, thấp, gầm sàn chứa cúi, đặc biệt là vách thưng bằng tôn. Riêng ở những vùng như Ayun Pa, Cư Sê, Krông Pa…bà con vẫn giữ ngôi nhà sàn truyền thống, qua nhiêu năm đã hư hỏng nặng, nhưng không có cây gỗ hoặc tiền mua nguyên vật liệu sửa chữa hay xây nhà mới.

2.2 Nhà Sê Đăng (nhóm ngôn ngữ Nam Á):

Nhà ở của dân làng Măng Rương (xã Văn Lem, huyện Đăk Tô…) cũng được làm từ những nguyên liệu truyên thống vốn có sẵn ở núi rừng như: Gỗ, tranh, tre, nứa, lô ô… Toàn bộ cột kèo bằng gỗ, sàn và vách nhà được đan bằng phên lô ô đập dập, mái nhà lợp bằng cỏ tranh. Nhà sàn có độ dài hơn tùy thuộc vào số lượng thành viên trong từng gia đình, chiẻu rộng nhà từ 4 – 5m, độ cao từ mặt đất đến gầm sàn khoảng 0,5 – 0,8 m.

Mỗi ngôi nhà có hai cửa: Cửa chính và cửa phụ, có hai cầu thang, một cầu thang chính đặt ở khoảng giữa của ngôi nhà dành cho mọi người trong gia đình và khách. Trước cửa chính có làm sàn bằng ván gỗ hoặc tre nứa, không có mái che, đé khách dừng chân trước khi lén nhà và đế giã gạo; cầu thang phụ đặt ở đầu hôi phía nam dành cho trai gái đến tìm hiếu để không làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình. Cửa chính và cửa phụ đều có tấm phên lô ô đế khi cần thì đóng lại. Ngôi nhà có từ 2-3 cửa sổ, nếu vách là gố, thì cửa số cũng bằng gỗ. Nếu vách là lô ô, cửa sổ cũng bằng lô ô, loe ra phía trên.

Nếu cột nhà chỉ bằng các ngàm vuông và kèo nhà với các đầu nối hình chữ u, không dùng đến lạt, thì khi làm khung mái, người ta chuần bị rất kỹ các loại dây buộc. Vừa dùng mây, vừa dùng lạt giang bánh tẻ (không già, không non) đem luộc nước sôi cả ngày cho mêm ra, dê uốn, sau đó vót cho nhân, chuốt cho bóng. Các nút buộc đều bát chéo thành hình chữ X, mọi đầu mối sau khi rút, quấn, xỏ thành hoa văn được dấu rất kín. Do đó mà phía trong các mái nhà (dù là dạng kiên cố, bán kiên cố hay nhà tạm) đêu được trình bày nhiêu dạng hoa văn, hình thành từ các mối dây buộc rất đẹp.

Hầu như tất cả các tộc người đêu sử dụng một loại nguyên liệu làm vách nhà bằng tre, nứa. Riêng với tộc người Tà Oi (xã A Roàng) & Ca Tu (xã Hương Nguyên) còn làm vách nhà bằng vỏ cây achoong (còn có tên gọi là cây ươi bay), một loại cây chí có ở rừng miền núi vùng huyện A Lưới (Thừa Thiên – Huế), vỏ cây achoong được cát ra từng đoạn dài tùy theo cây lớn nhỏ, rồi dùng các nẹp tre hoặc những dây mây để buộc và ráp khăng khít vào nhau với những giá đỡ, dựng thành hình những tấm vách. Nếu nhà trệt sẽ có thêm những ống tre hoặc lô ô chẻ ngang lót xuống dưới như rãnh, nhằm tránh ầm ướt, giữ độ bên lâu cho vách. Nếu là vách nhà sàn thì không cần lót. Nhà cố của người Ca Tu cũng là nhà sàn dài có hai đầu hối mái tròn, nhưng không thuộc dạng kiên cố như nhà các tộc người Bâhnar, Jrai hay Eđê.

Một điêu đáng buồn là do không còn nguyên vật liệu và một phần chạy theo kiến trúc đô thị, mà ngày nay ở Tây Nguyên nhà sàn đang mỗi ngày một mất dần. Đặc biệt ở những vùng có đời sống kinh tế cao khi chuyển sang canh tác cà phê, cao su.. .nhà xây kiếu biệt thự dần thay thế gần hết các nhà sàn. Nếu có cố giữ, bà con cũng đua nhau làm nhà sàn bằng vật liệu bên vững. Ngay kể cả nhà Rông cũng đang bị “gạch hóa” . Một lúc nào đó, hình ảnh nhà sàn chi còn trong ký ức.

  1. Nhà mồ

Nhà mồ ở Tây Nguyên mô phỏng hoàn toàn hình dạng của ngôi nhà thường ngày vẫn sinh sống. Đốí với người Êđê và Jrai là hình dạng ngôi nhà sàn dài, tuy nhiên kích cở đã được thu nhỏ lại, chí vừa trùm lên và đủ che mưa nắng cho ngôi mộ. Khi có người qua đời, gia chủ phải lo việc kiếm cây, gỗ để làm căn nhà mồ tạm. Khi nào làm lễ bỏ mả (lui msát, pơthi) sẽ dựng ngôi Nhà mồ chính thức.

Nhà mồ của các tộc người Nam Đảo và Nam Á chủ yếu làm bằng vật dụng gỗ, nứa, tranh tre có sẵn trên rừng. Cột gỗ là chú yếu. Tuy nhiên Nhà mồ không có các vì kèo, mà chỉ là những cột chống và phủ mái lên. Nhà mồ tạm thì mái có thể lợp tranh, nhưng sau lễ bỏ mả phải làm mái gỗ. Ớ vùng người Ca Tu & Tà Ôi, nhà mồ được làm hoàn toàn bằng gổ.

  • Nhà mồ Êđê :

Vẫn chỉ bằng rìu, người thợ xẻ cây thành hai tấm gỗ dài, hai tấm ngán, xẻ tiếp mỗi đầu các tấm gỗ một khe hẹp để có thé lông 4 tấm nối vào nhảu thành một chiếc khung hình chữ nhật, đặt bao quanh ngôi mộ.Trên những tấm ván này, có vẽ nhiều hoa văn hình dạng thẳng, ngang và chéo, chủ yếu màu đen và đỏ. Mái cũng là những tấm ván đặt nằm ngang. Trên mái, ở hai đâu hôi có khác nổi hình vành trăng khuyết, đây là thế giới của linh hồn. Ngôi mộ đặt theo hướng Đông – Tây (khác với nhà người sống dựng theo hướng Bắc -Nam).

Xung quanh nhà mồ có hàng rào bao. Có khi là những đoạn gỗ nhỏ to bằng cườm tay, cũng có khi là đoạn tre đóng xít vào nhau, ơ 4 góc rào có các cột gơng kút, trên các cột này có thể là hình những chiếc nôi đông, ngà voi. Hai cột gơng klao cao vút nối hai đầu mộ bằng một sợi dây da trâu, hiển thị con đường đi vẻ làng trời của linh hồn. Cả gơng kút và gơng klao đêu đã tróc hết vỏ để vẽ hoặc khắc chìm các hoa văn theo chiều hình tròn cú a cột. Đâu Nhà mồ là nhà cúng cơm, tương tự một ngôi nhà sàn dài nhỏ (sang asei) bằng gỗ, đặt trên đâu một cột gỗ tròn.

  • Nhà mồ jrai :

Thường rất đô sộ. Ngoài khung gỗ hình chữ nhật úp sát lên ngôi mộ, người ta dựng bao quanh một ngôi nhà có mái cao tương tự như nhà Rông, ơ vùng Krông Pa còn có loại Nhà mồ hoàn toàn bằng gỗ nhưng mái hình chóp có 4 mặt. Trên chóp còn có một cột gưng klao mà đỉnh là tấm gỗ khoét thành hoa văn dạng sao và hình vuông kèm theo những hình vẽ đỏ đen, trắng. Cả ngôi Nhà mồ được trang trí bằng rất nhiêu hoa văn là các hình tam giác. Bốn cột gơng xung quang mộ đông thời là bốn tượng gỗ liên trụ.

Cũng có nơi người Jrai làm hẳn ngôi nhà Rông, trên mái có nhiều hình Điêu khắc dọc theo chiều ngang, chiêu cao của nóc nhà. Người ta sẽ làm 4 thanh gổ đế giằng quanh ngôi nhà mồ (kơning pơxat), mà ở các cột bốn góc (gơng kut), là 4 bức tượng gỗ. Hai cột gơng klao cũng được làm công phu và giá trị như gơng kut. Xung quanh Nhà mồ Jrai, Bâhnar là cả một không gian “ngự trị” của hệ thống các tượng mô dày đặc và đa dạng hình tượng.

  • Nhà mồ của người Bâhnar, Sê Đãng :

Mái ngôi mộ được vẻ vời rát công phu. Ngoài hình trăng khuyết là biểu tượng chung của thế giới người chết (thường buộc hoặc đặt ở hai đầu nóc Nhà mồ), người ta chú yếu lấy những hoa văn quen thuộc Với cuộc sống, như hình quả trám, hình tròn, lượn sóng, con mắt.. .để vẽ nên. Nhà mồ của người Bâh- nar đẽo gọt, tô vẽ bằng gổ ba màu gốc: Đen, đồ và tráng nguyên bản của gỗ, nứa để vẽ trên hai cột Klao trang trí hoa văn và các hiện vật thu nhỏ dựng hai đầu mộ .

Nhà mồ của người Bâhnar Rngao vùng Đăk Hà (Kon Tum) hoàn toàn khác hẳn khi làm bằng gỗ, trùm vừa đủ kín diện tích ngôi mộ,  kê trên một giá gỗ thấp lè tè sát mặt đất.

Nhà mồ của nhóm cư dân Mnông, K’Ho ở phía Nam Tây Nguyên thường đơn giản hơn, là ván xẻ mỏng đé lợp mái và ván bao quanh mộ. Trong mộ, phía trên nóc có dàn đế cất giữ các của cải chia cho người chết. Trước mộ tạc tượng chim công hoặc ngà voi, nồi đồng.

  • Nhà mồ cùa người Ca Tu, Tà Ôi

Thường dựng bằng gỗ, chạm khác rất nhiều hình rông, kỳ đà, đâu và sừng trâu trên nóc và cũng sử dụng rất nhiều màu sắc (thậm chí là loè loẹt) cho các cột Nhà mồ. Nhà mồ thường thấp, muốn vào bên trong phải cúi người xuống. Các cột Nhà mồ to tương đương cột nhà vẽ các hoa văn dày đặc. Tất cả gỗ xử dụng tại nhà mồ đêu không để ớ dạng thô mà có sự chau chuốt tỷ mỷ, mang tính mỹ thuật cao. Các nhóm tộc người Tà Oi, Vân Kiêu, Pa Cô ở Quảng Trị chỉ làm Nhà mồ bằng gỗ (piêng) cho người chết sau khi chôn từ 3 – 5 năm, vào lúc bốc mộ. Chiếc tiếu bằng gỗ đựng hài cốt, đặt trong ngôi Nhà mồ nhỏ như chiếc am thờ của người Việt, không có trang trí hoa văn gì. Trang trí nhà mồ, bên cạnh cái đẹp, sang trọng, còn nhằm mục đích tạo một chỗ ở cho người đi về thế giới bên kia, tạo nên cảm giác ám áp, cho cả người đã khuất lần người ngoài nhìn vào. Cho đến ngày nay, việc dựng Nhà mồ đẹp, trong các lễ bò mả, vẫn còn được duy trì, được mọi gia đình chuấn bị và dựng rất chu đáo. Tuy nhiên, có khác xưa. Ngày nay, việc làm nhà fnô bằng gỗ, nứa trớ nên rất khó khăn, vì không còn kiếm được nguyên liệu một cách dẻ dàng từ rừng như trước đây. Do đó cũng không còn tiến hành câu kỳ như cũ. Đa số các Nhà mồ đã chuyền sang xây bằng gạch, cát, đá, thậm chí còn được lát gạch hoa.

Nhìn chung, trong một Buôn, Bon, Kon, Plei chỉ có một vài người thợ chính biết dựng nhà sàn, Nhà mồ, những người đàn ông khác chỉ là phụ việc.

Bàn tay tài hoa của những người thợ Tây Nguyên khi dựng Rông hay nhà ở, Nhà mồ, đều thể hiện như một tác phẩm nghệ thuật qua hệ thống vì kèo sắp đặt khéo léo, với hoa văn, ở mái nhà trang trí những đường dọc, ngang khác màu, hoặc trên mái nhà mồ cũng có rất nhiều hoa văn. Vẻ đẹp độc đáo của kiến trúc nhà Rông, nhà ở, Nhà mồ Tây Nguyên, chính là một trong những nét đặc sác làm nên diện mạo riêng, là một điểm nhấn quan trọng trong “Không gian văn hóa cồng chiêng”, đã được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa của nhân loại” .

Như đã nói ở phân trên, kiến trúc độc đáo của nhà sàn ở tây Nguyên ngày nay đang lùi dân vào quá vãng. Không thể ép bà con các dân tộc thiểu số giữ mãi được những nếp nhà gỗ, tre nứa, tranh, vì nhu cầu thiết thực của cuộc sống hiện tại. chính vì vậy việc số hóa mọi kiều dáng của kiến trúc nhà ở, nhà Rông, Nhà mồ Tây Nguyên, là một điêu vô cùng cần thiết. Không chỉ đơn thuần là việc đế hậu thế có thể biết được đặc trưng văn hóa vật thể Tây Nguyên, mà còn là tư liệu để các nhà chuyên môn nghiên cứu, tìm hiếu đặc trưng kiến trúc bền vững của một dạng nguyên vật liệu vùng rừng núi, cũng như kiếu dáng. Thiết nghỉ, nếu các công trình công cộng của mỗi vùng, đều được xây dựng trên nguyên tác đặc trưng của kiến trúc cổ truyền, chắc chắn tạo nên một không gian văn hóa ở không chí độc đáo mà còn riêng biệt cho mỗi địa phương, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số.

Chúng tôi đặc biệt hy vọng ở việc làm của quý vị.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Hệ thống lễ nghi vòng đời của người Sê Đăng – Phan Văn Hoàng
  • Luận văn cao học — Hà Nội 2006
  • Đặc trung văn hóa của nguời Jrai — Rchăm Oanh — NXB VHDT 2002
  • Nghê thủ công truyền thống Tây Nguyên — Linh Nga Niê kdam 2009
  • Một số tư liệu vê Mỹ thuật dân gian Gia Lai Kon Tum – Phùng Sơn Sở VH-TT Gia Lai Kon Tum 1988
  • Vách nhà cùa người Tà Ôi, Cơ Tu – Trân Nguyễn Khánh Phong – Tạp chí VHDT tháng 7-2008

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *