FESTIVAL Huế môi trường số hóa

FESTIVAL Huế môi trường số hóa

NGUYỄN HIỀN

Giám đốc Trung tâm Festival Huế


Festival là hiện tượng văn hóa gắn với bối cảnh đương đại, được tổ chức rất khác so với các lễ hội truyên thống. Đó là sản phẩm nhắm đến một đối tượng khách hàng mục tiêu, bằng một công nghệ tổ chức đặc thù, gôm các hoạt động xác định nhu cầu thị trường, quảng bá, tiếp thị, tìm kiếm nguôn tài trợ, tổ chức sự kiện trên cơ sở các nguôn lực và điều kiện cơ sở hạ tầng và kỹ thuật xác định. Đây là các lễ hội đương đại, sự kiện lớn và đặc trưng về văn hóa nghệ thuật đô thị hơn là các nghi lễ, gắn với các tôn giáo – tín ngưỡng ở các xã hội nông thôn truyền thống.

Năm 1992 Liên hoan Gặp gỡ Huế giữa TP Huế và Codev Việt Pháp được tổ chức thành công. Từ cuộc liên hoan có tính thăm dò này, tỉnh TT Huế đã sớm hình thành ý tưởng tổ chức một Fes­tival với qui mô lớn hơn, chất lượng cao hơn. Ý tưởng ấy đã được sự đồng tình của nhiêu bộ, ngành Trung ương và đặc biệt của Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam; Pháp là đất nước có nhiêu kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến trong tổ chức Festival quốc tế. Tháng 10 năm 1998, Chính phủ quyết định cho phép tính Thừa Thiên Huế phối hợp với Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức Festival Huế 2000 theo hướng là một sự kiện văn hóa lớn của Việt Nam, vừa có quy mô quốc gia và có tính quốc tế, thu hút sự tham gia của các vùng văn hóa tiêu biểu ở Việt Nam và tiếp cận với nghệ thuật đương đại của Pháp, gắn mở rộng giao lưu văn hóa với phát triển kinh tế du lịch, từng bước tiếp thu công nghệ Festival quốc tế. Sự thành công của các kỳ Festival góp phần cho quyết tâm xây dựng Huế thành một thành phố Festival đặc trưng. Bởi Huế hội tụ các yếu tố và điều kiện để xây dựng một thành phố festival mẫu mực. Xây dựng Huế thành thành phố Festival của Việt Nam mang tầm quốc tế chính là phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử và vị trí đặc thù của Huế.

Với độ dày về văn hóa, lịch sử của quá trình hình thành và phát triển, Huế đã xác lập cho mình một bản sắc riêng. “Bản sắc Huế” cùng với những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của Huế đã tạo ra sức hấp dẫn, thu hút và thuyết phục sâu rộng đối với trong nước và cả quốc tế. Các Festival quốc tế, các hội thảo hội nghị, các gặp gỡ tại Huế và bản thân di sản văn hóa cố đô cũng là di sản văn hóa nhân loại, đã là môi trường đầy sức sống cho giao lưu và phát triển văn hóa.

Qua 5 kỳ Festival, Huế đã từng bước thu hút hàng trăm chương trình nghệ thuật của các quốc gia ở năm châu lục có mặt, trở thành điểm hẹn của di sản văn hóa và nghệ thuật đương đại của Huế, Việt Nam và nhiêu nền văn hóa khác trên thế giới. Có thể nói Festival Huế là “Lễ hội bảo tồn – phát triền” của Huế. Festival đã góp phân đáng kể vê một cách nhìn mới vê di sản Huế của chính người Huế, của những người có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với Huế. Festival là nơi qui tụ, gặp gở đặc sắc của nhiều chương trình nghệ thuật, đại diện và mang dấu ấn của nhiêu nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Và vốn “đối ứng” xứng tầm của Huế vẫn là nghệ thuật đặc trưng và những lễ hội tái hiện mang đậm dấu ấn văn hóa Việt. Những dự án từ Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế liên quan đến di sản văn hóa Phi vật thể được triển khai và đạt kết qủa, như dự án thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia nhằm bảo vệ Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam (với hàng loạt các hoạt động liên quan đến đào tạo phương pháp luận và kỹ năng nghiên cứu, đào tạo nhạc công trẻ và bôi dưỡng kỹ năng biểu diễn, phỏng vấn lập hô sơ nghệ nhân, sưu tầm lưu trữ tư liệu, phục dựng bài bản Nhã nhạc, phục chế trang phục và nhạc cụ biểu diên, quảng bá và phát huy giá trị Nhã nhạc qua giao lưu biểu diễn, tổ chức nói chuyện và hoạt động truyền thông), các đề tài nghiên cứu phục dựng hàng chục bài bản Nhã nhạc, Múa, Tuồng cung đình, chương trình nghiên cứu khoa học vẻ các bộ sưu tập cổ vật, trưng bày hiện vật; tổ chức nghiên cứu, biên soạn, xây dựng kịch bản nhiêu lễ hội cung đình, tổ chức thành công các lễ tế Nam Giao, lễ Truyền lô, lễ tế Đàn Xã Tác, lễ hội thi TS vổ, Đêm Hoàng Cung, Huyên thoại sông Hương gây dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn bè quốc tế và trong nước. Ngành Văn hoá Huế và các địa phương ở TT Huế, cùng với việc tổ chức Festival, đã góp công sức để các lễ hội cung đình, lễ hội dân gian, lễ hội mới, các loại hình nghệ thuật, cả nghệ thuật sống, được dày công tôn tạo, gìn giữ và xây dựng mới. Festival quảng bá cho Huế, cho di sản độc đáo của Huế, tất yếu góp phần rất đáng kể tác động tốt cho thương hiệu Huế. Doanh thu trực tiếp từ các khu di tích Huẽ năm 1996 đến 2008 là 427,8 tỷ. Nguôn thu từ tham quan khám phá di sàn Huề đã góp phân rất quan trọng đế tái đâu tư cho hoạt động bảo tồn Di sản. Việc khai thác và phát huy giá trị Di sản cũng đã thúc đẩy phục hồi các ngành nghề thủ công, các nghi lễ và nghệ thuật truyên thống đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Cố vấn Tổng Giám đốc UNESCO tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Richard Enghenhart đã từng nói: Lễ hội VH Huế được tồ chức chính là một minh chứng cho sự thành công mà Huế đã đạt được trong việc phục hỏi lại các công trình kiến trúc của quá khứ cùng với việc làm sống lại các truyền thống VH trước đây…. Di sản văn hóa Huế không còn là những di tích của quá khứ, nó sẽ là những cơ sở sống động cho sự phát triển trong tương lai của nhân dân và của tỉnh TT Huế.

Hơn mười năm qua, hoạt động Festival đã nối kết giữa Huế trong lịch sử và Huế hiện tại để khắng định một Huế tương lai. Festival cũng đã nối kết giữa Huế, Việt Nam và thế giới. Từ khí có Festival đầu tiên 1992, Nhã nhạc cung đình, Múa cung đình, Ca Huế, Diều Huế, Lân Huế, Nón Huế, Ao dài, Nghệ thuật Huế, hình ảnh Huế… hàng năm liên tục đến với các sự kiện chính trị quan trọng, liên hoan nghệ thuật và Festival quốc tế ở các nước. Những sứ giả của di sản văn hóa và nghệ thuật Huế đã có mặt một cách đường hoàng trên các diễn đàn nghệ thuật lớn của thế giới. Cùng với Festival, Huế đã trớ thành điểm thu hút, hội tụ và lan tỏa các giá trị văn hóa. Festival Huế là lê hội đầu tiên ở Việt Nam được phát triển trên khái niệm mới về lễ hội, lấy mô hình Festival của các thành phố nổi tiếng trên thế giới làm hình mẫu tổ chức. Tháng 8/2007, Chính phủ Việt Nam đã có quyết định cho phép xây dựng Huế trở thành thành phố Festival, trong bối cảnh mới này, đòi hỏi Festival Huế, thành phố Huế cần được nâng cấp theo một định hướng phát triến mới.

Việt Nam là một quốc gia có nhiêu lễ hội và nghi lễ truyền thống. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thế thao và Du lịch, hiện nay, cả nước có 7.966 lễ hội, trong đó lễ hội dân gian có 7.039 (chiếm 88.36%); lễ hội tôn giáo có 544 (chiếm 6.82%), lễ hội lịch sử cách mạng có 332 (chiếm 4.16%); lễ hội có nguôn gốc nước ngoài là 10 (chiếm 0.12%); lê hội khác có 40 (chiếm 0.5%). Có 8 lễ hội do Bộ quản lý, cấp tính thành quản lý 327 lễ hội. (Thống kê lễ hội Việt Nam. Tl. Hà Nội, 2008). Thừa Thiên Huế nguyên là cố đô trong 143 năm (1802 – 1945), là một trong ba trung tâm văn hóa và du lịch lớn, cũng là nơi tập trung nhiêu lễ hội, nhu cầu sinh hoạt văn hóa đã trở thành truyên thống của người dân Huế. Có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”, một số lễ hội cung đình được tổ chức tái hiện qua các kỳ Festival Huế như đã nêu ở trên.

Lễ hội ở các làng quê theo tục lệ, câu an theo mùa vụ: Tục hát sác bùa ngày Tết ớ Phò Trạch; lễ Rước hến; lễ Thu tế ớ An Truyền, các lễ hội này gán với xã hội nông thôn, được tổ chức bởi các cộng đông làng, theo mô hình tổ chức theo nguyên tác tự quản, nhằm mục đích cầu “mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, người yên, vật thịnh”. Đó là các nghi lễ gắn với vòng sinh trưởng của cây trông, biểu dương sức mạnh cộng đông, khẳng định bản sắc văn hóa, được tổ chức theo hai mùa Xuân – Thu, lê hội vào mùa Hè và Đông là rất hiếm xảy ra. Có thể kể đến một số lễ hội tiêu biểu như sau: Lễ hội Cầu ngư được tổ chức 3 năm một lần, cử hành trong 2 ngày: với các nghi thức cổ truyền và Lễ trình nghê đầu năm. Có làng làm ngày 04, có làng làm ngày 9,10 hoặc 11,12 âm lịch. Lê hội Vật là một sinh hoạt truyền thống mang tính thượng võ của người dân Huế trong nhiều thế kỷ qua. Làng Thủ Lễ tổ chức ngày 06/1 âm lịch. Làng Sình diên ra trong ngày: 09-10/1 âm lịch. Hội mùá xuân của một số làng: Đu tiên, Đua ghe. Đại lễ Thu tế vào mùa thu mà hầu hết chí có lê ít có hội. Lễ hội Điện Huệ Nam (điện Hòn chén – Ngọc Trản) tháng ba và tháng bày thu hút hàng vạn người có tín ngưỡng thờ mẫu trên cả nước với nhiêu hoạt đọng lễ và hội đây sác màu độc đáo. Ngoài ra còn có nhiêu lễ hội tưởng niệm các vị đã khai sinh các ngành nghê truyền thống; lé hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng được diễn ra trong các làng xã. Trong những dịp tẽ lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyên, kéo co, đáu vật… được tổ chức và thu hút rất đông người xem.

Ở miền núi cũng không ít lễ hội dân gian phong phú. Hằng năm tộc người Tà ôi (Ta oih), Cơ tu (Katu) ở các thung lũng huyện A Lưới và huyện Nam Đông Thừa Thiên Huế tổ chức các lê hội vào kỳ thu hoạch, thường là cuối tháng 12 dương lịch. Lễ hội cúng cơm mới, dâng lên thần Lúa (Yang Tro), được tổ chức tại nhà Rông của làng, đính cao của việc cúng thần là Lễ đâm trâu. Âm nhạc trống, công chiêng trối lên trong niềm hứng khởi, trước ánh lửa bập bùng, mọi người cùng nhảy múa, ca hát xưng tụng cuộc sống tót lành. Lễ cúng thần Núi và thần Đất thu hút mọi người tụ hội đông đủ với trang phục truyên thống, cử hành các Lễ đâm trâu, và nhảy múa ca hát, hưởng cỗ cúng. Lễ hội diên ra tại đây suốt hai ngày 1 đêm, sau đó cả làng bản trở về nhà Rông vui chơi, nhảy múa ca hát, với các làn điệu dân ca.

Với trên 100 chùa và niệm phật đường, trong số có nhiêu chùa là Quốc tự, Thừa Thiên Huế là nơi có nhiêu lễ hội tôn giáo lớn. Đại Lễ hội Phật đản (15/4/ AL). Lễ Vu Lan (15/7 AL) các chùa tổ chức nghi lễ Phật giáo long trọng, tôn nghiêm, có múa hát, thả đèn hoa đăng trên sông Hương, xe hoa diẻu hành trong thành phố Huế, thu hút sự tham gia của đông đào nhân dân.

Cùng với Festival Huế, các ngày hội mới được tổ chức: Ngày hội Văn hóa Thể thao các dân tộc thiểu số miên núi Thừa Thiên Huế, Hội đua ghe, trãi trên sông Hương. Đặc biệt Festival chuyên đê “Nghê thủ công truyền thống Huế được tố chức 2 năm 1 lần vào tháng 06 các năm lé (2005-2007-

  1. 2009. ) nhằm tôn vinh, biểu dương sinh động trí tuệ và tài năng của những bàn tay vàng, thiết thực

để thúc đầy phát triển di sản ngành nghê thủ công truyền thống Huế và giới thiệu các chương trình văn hóa cộng đông với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật đặc sác. Hai năm trở lại đây Lễ hội đền Huyền Trân ở núi Ngũ Phong cảnh quan hùng vĩ đã trở thành tâm điểm cho những ngày đầu tháng giêng của mọi người nhằm tri ân công lao của Công chúa Huyền Trân đối với đất nước, là lễ hội tâm linh và nhiều hoạt động văn hóa (09/1 âm lịch). Các lễ hội ở các huyện, nơi có những thắng tích được hình thành trong lòng các kỳ Festival như “Hương xưa làng cổ” ở không gian văn hóa của ngôi làng Cổ Phước. “Thuận An biến gọi” và “Sóng nước Tam Giang” mở đầu mùa biển, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của vùng sinh thái biển. “Chợ quê ngày hội” với nhiêu hoạt động mua bán và vui chơi tấp nập mang đậm nét thôn dã, mộc mạc, giản dị nhưng không kém phần hấp dẫn và mới lạ, với các món ăn dân dã đặc trưng của vùng đất cố đô Huế.

Festival và các lễ hội phong phú ở vùng đất Huế rõ ràng là môi trường đầy sự cuốn hút cho tất cả mọi người dân, kể cả du khách. Nhưng hội hè rồi cũng sẽ qua đi, cái còn lại chỉ là ký ức. Sao lưu tất cả những ký ức đẹp ấy sang định dạng số là cách lưu giữ mang tính khả thi đế chống chọi với thời gian. Công nghệ ngày càng thay đổi với tốc độ chóng mặt theo thời gian, sở hữu một bộ sưu tập với các kiểu lưu trữ khác nhau, cộng thêm dữ liệu công nghệ số theo từng giai đoạn khác nhau là mơ ước của rất nhiêu người, hôm nay và mai sau. Ở nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới, sử dụng công nghệ nhằm số hóa dữ liệu, rồi trình diễn 3D trên nền web, không còn là điêu mới mẻ. Việt Nam chắc chắn phải nám bát và làm chủ phương pháp hiệu quả và có sức ảnh hưởng rộng rãi này. Không phải mất quá nhiêu công sức và đú thứ chất liệu để lưu trữ kho sự kiện lễ hội lớn lao của vùng đất mà với sự biến đổi khí hậu khốc liệt ngày nay làm cho việc bảo quản và phạm vi sử dụng bị hạn chế. Do vậy giải pháp số hóa dữ liệu là giải pháp quá ư cần thiết cho việc lưu trữ, truy xuất, chia sẻ, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và dê dàng nhất cho thế giới ngày mai.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *