Trang chủ / Báo cáo thực tập | Tiểu luận / Tiểu luận cao học: Triết học sau đại học

Tiểu luận cao học: Triết học sau đại học

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.. 1

I. VÀI NÉT VỀ KHỔNG TỬ.. 2

II. TƯ TƯỞNG CAI TRỊ CỦA KHỔNG TỬ.. 3

  1. Dưỡng dân. 3
  2. Giáo dân. 6
  3. Chính hình. 15
  4. Võ bị 16
  5. Ngoại giao. 17
  6. Dùng người 19

III. KẾT LUẬN.. 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 24

 


MỞ ĐẦU

Là nhà triết học nhà chính trị và giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc cổ đại, sống trong thời đại “vương đạo” suy vi, “bá đạo”  nổi lên, chế độ tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi, Khổng Tử muốn đem tài sức của mình ra giúp vua, chủ trương lập lại lễ nghĩa nhà Chu, với nội dung được cải biên cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Nhưng không được vua Lỗ trọng dụng, ông rời đến các nước chư hầu, nhưng cũng đều không thành công. Cuối đời ông về nước Lỗ mở trường dạy học và viết sách. Ông san định Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ… soạn kinh Xuân Thu. Ông hệ thống hoá những tri thức, tư tưởng đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức – chính trị nổi tiếng, gọi là Nho giáo.

Nho giáo ra đời đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống dân tộc ta cũng như các dân tộc Á Đông khác. Ở Việt Nam, từ rất sớm, Nho giáo ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tư tưởng đạo đức, tôn giáo của biết bao thế hệ người Việt.

Để hiểu rõ hơn về Nho giáo, cũng là góp phần hiểu biết hơn về đời sống tinh thần, tư tưởng của dân tộc Việt, việc nghiên cứu về Khổng Tử và tư tưởng của ông là điều cần thiết. Xuất phát từ mục tiêu đó, tiểu luận khái quát nội dung, đặc điểm tư tưởng của Khổng Tử và nêu lên một vài ý nghĩa lịch sử của nó.

Tìm hiểu các vấn đề đặt ra, tiểu luận vận dụng những quan điểm của triết học Mác – Lênin, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử và những phương pháp nghiên cứu như phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, thống nhất giữa lô gíc và lịch sử, đối chiếu và so sánh….

I. VÀI NÉT VỀ KHỔNG TỬ

Khổng Tử tự là Trọng Ni, sinh ở ấp Trâu và mất ở nước Lỗ. Là chính trị gia, nhà triết học và giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc cổ đại. Song, do nhiều nguyên nhân, những ghi chép về thân thế và sự nghiệp của Khổng Tử vẫn chưa thật sự đầy đủ. Phần lớn sử liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử đều rựa vào sử ký của Tư Mã Thiên. Tuy nhiên, phần ghi chép của Tư Mã Thiên về Khổng Tử còn rất nhiều điều hồ nghi.

Theo ghi chép của Tư Mã Thiên, Không Tử là người nổi tiếng tự học. Năm 15 tuổi đã học hết chương trình quan học để thành “nho sinh” và bắt đầu tự học về đạo, hoặc nghiên cứu về  “lễ”. Mười bảy tuổi Khổng Tử đã có học trò.

Năm Khổng Tử 25 tuổi, Công Sơn Phất Nhiễu cho mời nhưng ông không đi. Ít lâu sau Định Công mời ông làm Trung Đô Tế, coi ấp Trung Đô, kinh đô nước Lỗ. Năm sau ông lên chức Tư không (thượng thư bộ công), rồi lãnh chức Đại Tư Khấu (như thượng Thư Bộ Hình). Đồng thời ba môn sinh của ông cũng ra làm quan. Năm 500 TCN, Khổng Tử làm tướng quốc thứ nhì, uy tín của ông vang xa một vùng và nước Lỗ cũng ngày càng thịnh trị, dân các nơi đến làm ăn ngày một nhiều.

Nhưng sau đó ông bỏ nước Lỗ đi vì hết loạn và vua chúa các nước bắt đầu tranh giành ảnh hưởng với nhau. Lúc này ông đã 56 tuổi, đã tham chính được 6 năm. Tâm trạng ra đi rất não nùng. Ong nói: “ta chầm chậm mà đi thôi”. Ong tin rằng trời giao cho ông sứ mạng phục hồi đạo Chu công, lập lại trật tự trong thiên hạ. Sáu năm thi hành đạo của mình ông thấy có kết quả, ông lại càng tin có thể lập được sự nghiệp như Chu Công và đi chu du thiên hạ thuyết giảng.

Khổng Tử là người đầu tiên mở trường tư học cho mọi người và đã đào tạo nhiều người có lễ, nghĩa, nhân, trí, tín, dũng cảm làm quan giúp nước. Ông cũng là người đầu tiên mở phong trào đi du thuyết khắp các nước để tìm một ông vua biết dùng thầy trò ông.

Trong bốn năm lưu lạc, ông qua các nước Vệ, Bồ, Tào, Tống, Trịnh, Trần, vì Tấn và Sở tranh nhau ngôi bá nên ông quay lại đất Bồ, Vệ. Năm 484, Khổng Tử trở về Lỗ làm cố vấn và các học trò của ông tham chính. Ông cho rằng đâu phải tham gia chính sự mới là tòng chính. Những năm cuối đời, Khổng Tử để tâm vào viết sách, sắp đặt các tài liệu về lễ, sử. Theo Tư Mã Thiên, ông đề tựa Kinh Thư. Có lẽ ông đã san định Kinh Nhạc, nhưng kinh này đã bị thất lạc. Ngày nay chúng ta còn lại Kinh Xuân Thu của ông, một bộ sử biên niên của Lỗ từ năm thứ nhất đời Lỗ An công đến năm thứ 14 đời Lỗ Ai Công. Năm 16 đời vua Lỗ Ai công, Khổng Tự tạ thế, thọ 73 tuổi.

 II. TƯ TƯỞNG CAI TRỊ CỦA KHỔNG TỬ

  1. Dưỡng dân

Bất kỳ chính thể nào nhà cầm quyền nào cũng cho việc dưỡng dân là nhiệm vụ quan trọng nhất: nếu khéo nuôi dân thì nước trị mà nhà cầm quyền được dân tin, ngược lại thì nước loạn. Dân sẽ bỏ đi nước khác (thời Khổng Tử, việc đó rất dễ dàng không sao ngăn cấm được) hoặc sẽ nổi loạn, chính quyền sớm muộn gì cũng bị lật đổ. Ngày nay tư tưởng này vẫn còn giá trị của nó khi mà Đảng ta đã đề ra chủ trương: (lấy dân làm gốc).

Khổng Tử cho rằng việc “bác thi tế chúng” (thi ân rộng rãi để cứu giúp dân chúng) là sự nghiệp của thánh vương, và nhà cầm quyền nào biết thi ân cho dân cũng đều đuợc ông khen, như trong chương V. 15, ông bảo: Tử Sản có bốn điều hợp với đạo người quân tử: giữ mình thì nghiêm cung, thờ vua thì kính cẩn, nuôi dân thì có ân huệ (kì dưỡng dân dã huệ), sai dân thì hợp nghĩa (hợp tình hợp lí) . Bài XIV.9 ông nhắc lại: Tử Sản là người nhân từ, yêu dân (huệ nhân). Ở các chế độ dân chủ sau này, người cầm quyền là do dân bầu lên hay còn gọi là đầy tớ của dân. Do đó họ phải có trách nhiệm lo cho đời sống tinh thần và vật chất cho người dân. Dân giàu nước mới mạnh và chế độ mói bền vững được. Cho nên ông không nhận Nhiễm Cầu là học trò của mình nữa, vì Nhiễm  Cầu thu thuế quá nặng, làm cho dân nghèo (XI.16).

Và theo Khổng Tử thì nuôi dân thì phải:

1.1. Làm sao cho dân no đủ, giàu:

Bài XII.7, ông bảo Tử Cống rằng phép trị dân phải làm cho dân “túc thực” đã rồi mới “túc binh”.

Bài XII.9 khi tới nước Vệ, ông khen là đông dân, Nhiễm Hữu hỏi dân đã đông rồi cón làm gì nữa. Ong đáp là phải dạy dân. Như vậy ông đã coi trọng việc dưỡng dân hơn việc bảo vệ xã tắc, hơn cả việc dạy dân nữa. Dân gian đã có câu “có thực mới vực được đạo” có lẽ cũng xuất phát từ tư tưởng này. Tuy nhiên, ta nên nhớ Khổng Tử chỉ là một triết gia về chính trị đưa ra nguyên tắc, vạch ra đường lối thôi, chứ không phải là một nhà kinh tế, một chính trị gia thuần tuý. Vì vậy ông không cho rằng phải dùng những biện pháp kinh tế nào như Mạnh Tử bàn về phép tĩnh điền với Đằng Văn Công chẳng hạn (xem Mạnh Tử của Nguyễn Hiến Lêm, Cảo Thơm- 1975- chương VI). Và khi Phàn Trì muốn học làm ruộng ông đáp ông không bằng một lão nông (XIII4). Đây là một lời đáp chân thật mang tính triết lí chứ không phải là sự khiêm tốn của Khổng Tử.

1.2.  Đánh thuế nhẹ dân.

Ta hãy xem tư tưởng này trong bài XII.9.

Lỗ Ai Công hỏi Hữu Nhược:

  • Năm nay mất mùa, thuế không đủ tiêu, làm sao bây giờ?

Hữu Nhược đáp:

– Sao không thu thuế theo phép triệt (tức mười phần thu một) ?

Ai Công bảo:

  • Muời phần thu hai còn không dủ tiêu, huống hồ là thu theo phép triệt?

Hữu Nhược đáp:

– Trăm họ đủ thì làm sao vua thiếu được? Trăm họ thiếu thốn thì làm sao đủ được?

– Nghĩa là vua phải “tiết dụng ái nhân” (không lãng phí mà yên dân- bài I.5), cái gì không có lợi cho dân thì đừng tiêu. Như vậy nói theo kiểu ngày nay thì bộ máy cầm quyền phải biết tiết kiệm của công, hay mở rộng ra hơn là cũng không được tham nhũng.

1.3. Khiến dân làm việc phải hợp thời (sử dân dĩ thời – 1.5) trong khi dân rãnh việc nông.

Bắt dân làm xâu để thu thuế, có khi rất nặng là bất công vì thứ thuế đó chỉ đánh vào đầu dân đen. Nhưng không có cách nào khác nên thời đó nước nào cũng áp dụng, hoặc vì dân dễ chấp nhận hơn là góp tiền, góp lúa. Đến đời Tống (thế kỷ XI), Vương An Thạch mới đặt ra thứ tiền miễn dịch, người nào không làm xâu thì tuỳ giàu hay nghèo mà nộp tiền nhiều hay ít để nhà nước lấy tiền đó mướn người khác làm thay, điều đó tạo thêm công ăn việc làm cho một số người thất nghiệp, nhưng biện pháp của Vương bị phe thủ cựu phản đối, rồi cũng phải bỏ. Tai hại nhất của chính sách bắt dân làm xâu là mỗi khi triều đình có việc gấp thì dân phải bỏ hết công việc đi làm xâu cho triều đình. Cho nên Khổng Tử bảo “sử dân dĩ thời” là một bổn phận của người trị dân, sau này cũng vậy khi ông bảo: “nếu không làm trái thời tiết của kẻ làm ruộng thì lúa thóc ăn không hết”. Chính sách của Khổng Tử là ít can thiệp vào đời sống của dân, tạo sự tự do tối đa cho dân (cư giản VI.1)- tất nhiên là tự do theo kiểu phong kiến, sai khiến dân phải làm sao cho dân không oán (lao nhi bất oán XX.2). Nghĩa là mọi chính sách của nhà nước phải phù hợp với nguyện vọng của người dân, không áp bức dân.

1.4  Sau cùng, quan trọng nhầt là phân phối quân bình thì dân mới không bị bóc lột mà được no đủ.

Khi Nhiễm Hữu bảo họ Quí mà ông ta là gia thần, phải đánh nước phụ dung của Lỗ là Chuyên Du, ở gần ấp Phí của Quí Thị để trừ hậu hoạ về sau, Khổng Tử mắng Nhiễm Hữu viện lẽ để biện hộ cho chủ rồi bảo: “Khâu dã văn hữu quốc gia giả, bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, bất hoạn bần nhi hoạn bất an. Cái quân vô thần, hoà vô quả, an vô khuynh”. Nhiều tác giả cho rằng hai chữ quả (là ít) và bần (là nghèo) trong câu trên phải đổi chỗ cho nhau: bất hoạn bần nhi hoạn bất quân, bất hoạn quả nhi hoạn bất an, có như vậy thì mới hợp với quân vô bần.

Sửa như vậy thì nghĩa như sau: “Khâu này nghe nói người có nước (tức vua), có nhà (tức các đại phu, chủ các ấp phong) không lo nghèo thiếu mà lo sự phân phối  không quân bình, không lo ít dân mà lo xã tắc không yên. Phân phối quân bình thì dân không nghèo, hoà thuận (vì không có sự bóc lột, tranh giành, không có người giàu quá, kẻ nghèo quá) thì dân sẽ không ít (vì dân vui vẻ sống, nước trị thì dân ở các nước khác quy tụ lại), như vậy xã tắc sẽ yên ổn, chính quyền không nghiêng đổ”. Vì vậy chữ “quân” ở đây là quân bình.

Đời Hán, Trần Bình lúc còn hàn vi ông ta phải cắt thịt chia phần vông việc thời đó cho là hèn. Ở nước ta trước năm 1945  ngoài Bắc giao cho người “mõ”. Ông ta chia phần thịt rất khéo, rất quân bình, không ai phàn nàn, các phụ lão đều khen ngợi. Trần Bình nói: “Than ôi Bình này được trị thiên hạ, thì cũng khéo như chia thịt đó”. Sau ông ta được trị thiên hạ thật làm đến chức tể tướng.

Hiện nay khắp thế giới, đâu đâu cũng chỉ mong đạt được sự phân phối quân bình như  vậy thôi. Người làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, nhiều ít ra sao còn tuỳ thuộc tiêu chuẩn trong mỗi xã hội, tuỳ thời tuỳ tổng lượng sản xuất nữa, có nơi giám đốc lương gấp năm gấp mười lần thợ làng nghề hay thư kí, có nơi chỉ bằng hai bằng ba… nhưng ai cũng có phần cả. Như vậy là quân bình đúng hơn là công bình. Hiểu như thế thì tư tưởng của Khổng Tử không có gì là cách mạng, chỉ là nhân đạo thực tế rất nhiều lương thức và ba chữ  “quân vô bần” (tức bất loạn bần nhi hoạn bất quân) quả là bất hủ, làm châm ngôn cho tất cả các nhà trị dân trong hai ngàn rưỡi năm nay. Và Quang Phong – Lâm Duật Thời trong một cuốn bàn về Khổng Tử (Nhà xuất bản Sự Thật- Hà Nội 1963) cho rằng bài đó Khổng Tử chỉ chống Quí Thị đánh Chuyên Du, chứ không có tư tưởng xã hội, rất ghét sự “tụ liễm”, làm giàu thêm cho kẻ giàu.

Khổng Tử bảo: Anh Xích (Tử Hoa) đi sang Tề, cưỡi ngựa mập, mặc áo cừu nhẹ (ý nói: giàu sang). Ta nghe nói người quân tử cung cấp cho kẻ nghèo chứ không làm giàu thêm cho người giàu. Nhưng Nguyên Tư một môn sinh khác vốn nghèo và thanh liêm làm gia thần cho ông, ông cứ chiếu theo lệ của nhà nước mà phát lương cho chín trăm (đấu), Nguyên Tư cho rằng nhiều quá từ chối . Ong bảo: “Đừng nếu thấy dư sao không đem cấp cho những người nghèo trong làng xóm láng giềng”. Cách xử sự của ông thật nhân ái công bằng, hợp tình hợp lý, không làm giàu thêm cho kẻ đã giàu rồi có dư thì giúp người nghèo, nhưng trả lương thì cứ theo phép nước, tuỳ theo đẳng cấp. Tăng Lữ diễn lại đúng ý đó của Khổng Tử trong câu: “tài liễn tắc dân tán, tài tán tắc dân tụ”.

  1. Giáo dân

Trong các triết gia thời Tiên Tần không ai trọng giáo hoá dân bằng Khổng Tử, và chính ông cũng bỏ gần hết đời vào việc đó.

Mặc Tử cũng chủ trương dạy dân nhưng ông chỉ chỉ cho mọi người dân phải học những điều thiên tử cho là thiện.Mặc Tử không nhận công dụng giáo hoá của lễ, nhạc cũng lại là thiếu sót.

Pháp gia lại thấp hơn một bậc nữa, chỉ dạy dân biết pháp luật thôi để đừng làm trái phép nước, và chỉ các viên lại mới được dạy dân, các tư học đều bị cấm ngặt, do đó mới có chuyện “phần dư khanh nho” đời Tần Thuỷ Hoàng.

Còn Lão Tử thì “tuyệt khánh khí trí” cho sự giáo dục chỉ làm cho dân tinh khôn, ham muốn nhiều, hại rất lớn cứ mặc cho dân ăn no rồi vỗ bụng đi chơi sống một cách tự nhiên thì nước lại trị, dân lại sung sướng hơn cả.

Chỉ có Khổng Tử là cho việc dạy dân quan trọng gần ngang với việc nuôi dân. Vì hai lẽ:

– Dạy dân là một cách yêu dân: mình muốn tự lập thì cũng thành lập cho người, mình muốn thành công thì cũng muốn cho người thành công (Kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân- VI.28)- như vậy là thành nhân chi mĩ, một niềm vui lớn của người có đức nhân.

– Dân dược giáo hoá thì dễ sai bảo dễ trị, công việc chính hình sẽ nhẹ đi nhiều, nếu kết quả của sự giáo hoá cực tốt thì nhà cầm quyền chẳng cần phải làm gì cả mà nước cũng trị (vô vi nhi trị)(VI.19).

Ông tin rằng đại đa số dân chúng có thể cải hoá đuợc, vì “ính tương cận, tập tương viên” (XVII.2), Nhưng ông cung lạc quanvừa thôi vì ông cũng nhận ra rằng có một số “hạ ngu” không thay đổi được. Tư chất cũng có nhiều hạng, hạng từ bậc trung trở lên thì có thể giảng đạo lí cao còn từ bậc trung trở xuống không thể giảng đạo lí cao xa đuợc.

Thời nào cũng vậy, hạng trung nhân trở xuống chiếm đông hơn cả, mà thời ông hạng đó không được học nên ông thấy rằng nhiều khi chỉ có thể khiến họ làm theo mình mà không thể giảng cho họ hiểu tại sao (VII.9). Tuy nhiên ông mở trường dạy cho mọi hạng người, là có ý mở mang dân trí để dân dần dần hiểu đuợc cái lẽ tại sao đó, và khi nào hiểu được họ có thể theo đuờng chính. Bảo rằng “dân khả sử do tri, bất khả sử tri chi” là chủ trương “ngu dân” thì không có gì oan cho ông hơn, chẳng hiểu gì về đời sống và tư tưởng của ông cả. Chủ trương ngu dân, chính là bọn pháp gia Lý Tư, Hàn Phi kia.

Nhà cầm quyền có hai cách để giao hoá dân :

2.1.  Làm gương cho dân.

Người làm chính trị tự nhiên phải tu dưỡng mình về nhiều phương diện mới có một thể ứng phó được với các sự vụ phức tạp. Điều này bộc lộ qua tư tưởng Đức trị của ông. Muốn cầm quyền thì phải có những đức quan trong sau: chính, kính, tín lễ, nhân.

Đức chính rất cần thiết cho khí tượng ông vua. Trong các môn sinh, Khổng Tử khen Nhiễm Ung có thể làm vua được, nghĩa là có khí tượng vua vì Nhiễm Ung nghiêm trang mà ung dung. Một lần Nhiễm Ung hỏi ông : “Tử Trang Bá tử là người ra sao?”. Ong đáp : “Cũng khá giản dị”. Nhiễm Ung góp ý: “Tự mình thì cung kín mà giản dị trong việc trị dân (cư kính, hành giản), chẳng là tốt ư ? nếu tự mình giản dị, mà giản cả trong việc trị dân, chẳng phải là giản dị thái quá sao?”. Khổng tử khen: “Anh nói phải đó”. Bốn chữ “cư kính hành giản” tóm tắt tư cách của ông vua và chính sách trị dân của Khổng Tử.

Nếu chỉ thiếu đức kính thôi, mà vẫn biết yêu dân, lo cho dân thì cũng chẳng sao, chỉ thiếu cái uy nghi của ông vua thôi. Trái lại, thiếu đức tín ( giữ lời vơi dân để cho dân tin mình ) thì không có chính quyền đứng vững được.

Bài XII.7, Tử Cống hỏi về phép trị dân . Khổng Tử đáp:

– Lương thực cho đủ, binh bị cho đủ, dân tin chính quyền.

Tử Cống hỏi thêm:

– Trong ba điều đó, nếu bất đắc dĩ phải bỏ một thì phải bỏ điều nào trước?

– Bỏ binh bị trước.

Tử Cống lại hỏi:

– Trong hai điều còn lại nếu bất đắc dĩ phải bỏ một điều nữa thì phải bỏ điều nào trươc?.

– Bỏ lương thực. Từ xưa vẫn có người chết, nếu dân không tin chính quyền thì chính quyền đổ (dân vô tín bất lập ).

Ở bài II. 22, Khổng Tử lại nói:

“Người mà không có đức thì không hiểu sao thành người được. Cũng như xe lớn không có đòn (đòn ngang để buộc trâu), xe nhỏ không đòn “ngột” (đòn cong để buộc ngựa), làm sao mà đi đuợc?”

Ông giảng về tín nhiều gần bằng về lễ. Theo bài ông dạy học trò bốn môn thì trong  đó có  hai điều hành và tín. Muốn tín thì phải thành thực. Cho nên ông ghét hạng “xảo ngôn lệch sắc” cho họ là không có lòng nhân, làm loại đức. Muốn cho người khác tin mình thì phải thận trọng lời nó, lòi nói phải hợp với hành động; “Người xưa thận trọng lời nói , sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được”. Cho nên người quân tử “chậm chạp về lời nói mà mau mắn về việc làm”; “thẹn rằng nói nhiều mà làm ít” ; tốt nhất là “làm trước điều mình mốn nói rồi hãy nói sau”. Hai đức tín và hành ông thường cho đi kèm với nhau, như trong bài dưới đây:

Tử Lương hỏi làm cách nào để đi đâu cũng lọt. Khổng Tử đáp: “lời nói phải trung thực đáng tin, hành vi phải thân thiết, kính cẩn, như vậy dù có đi tới nước Man, nước Mạch, cũng trót lọt. Lời nói không trung thực đáng tin, hành vi không thân thiết, kính cẩn thì ở trong làng trong châu của mình cũng làm sao trót lọt được? ..”.

Trong các môn sinh ông chỉ khen Tử Cống có đức tín rất cao, hứa điều gì thì làm ngay, do đó cảm hoá đuợc mọi người. Không ai nói dối Tử Cống cả, hễ khai với Tử Cống điều gì thì tất đúng, nhờ vậy trong mọi việc kiện tụng Tử Cống chỉ cần nghe lời một bên là đủ biết ai trái ai phải, không cần hỏi thêm bên kia nữa.Được người ta tin và tin người ta như vậy thật là hiếm có.

Tuy nhiên, Khổng Tử cũng khuyên cứ theo chính nghĩa mà làm chứ không nhất thiết giữ mọi điều tin nhỏ nhặt, mà hoá ra cố chấp, có hại cho nghĩa. Có thể vậy nên ông thề với người Bồ sẽ không qua Vệ, mà rồi ông cũng qua Vệ, như Tư Mã Thiên chép trong Sử Ký Tư Mã Thiên. Hai đức quan trọng của người quân tử là trang trọng và trung tín tức là hạng người trị dân mà có tư cách. Hai đức mà Khổng Tử nhắc đến nhiều nhất là đức nhân và đức lễ. Nhà cầm quyền phải trọng lễ hơn ai hết. “thoạt kỳ thuỷ”, lễ chỉ có nghĩa là cúng tế. Từ thời thượng cổ, người Trung Hoa đã cúng tế thần linh đã làm các việc gọi là lễ. Lễ trở thành thông dụng ở Trung Hoa thì hình như mới từ thời Tây Chu. Căn cứ vào kinh tịch cổ, nghi thức và lễ do Chu Công chế tác, mấy chữ lễ xuất hiện lần đầu trong thiên Lạc cáo (kinh thư) viết vào thời Chu Công nhiếp chánh đều có nghĩa là cúng tế. Có điều việc cúng tế ở thời này không còn tích chất tôn giáo nũa. Chu Công chế định lễ, mục đích là duy trỉ trật tự giai cấp trong xã hội “tông pháp” của Tây Chu. Lễ từ đây mang nhiều ý nghĩa chính trị.

Chẳng hạn khi Chu Công chế định rằng chỉ có thiên tử mới được dùng vũ “bát dật”, chư hầu chỉ được dùng vũ “lục dật”, đại phu chỉ được dùng vũ “tứ dật”, hoặc khi ông chế định rằng chỉ có vua Lỗ mới đuợc làm lễ tế “lũ” ở núi Thái Sơn (trên đất Lỗ), đại phu không được làm tế đó. Quy định đó là quy định một trật tự xã hội, nó là một pháp điển. Việc quy định các tước công, hầu, bá, tử, nam, quy định số dặm đất họ được phong, số binh xa họ được có, cũng để phân biệt sự tôn ti trong thiên hạ, thuộc về pháp điển, và cũng gọi là lễ, kẻ nào kgông tho quy định đó là việt vị, là tiếm lễ, không biết lễ. Trong việc chôn cất cũng vậy, có những quy định nghiêm ngặt, thiên tử thì tang lễ phải ra sao, vua chư hầu ra sao, đại phu thì quan quách dùng bao nhiêu, thường dân thì dày bao nhiêu… đó cũng là lễ nữa.

Vậy tới đời Chu Công lễ đã có hai nghĩa:

– Nghĩa cũ là tế lễ, có tính cách tôn giáo.

– Nghĩa mới là pháp điển  phong kiến do Chu Công chế định, có tính cách chính trị để duy trì trật tự xã hội. Rồi ý nghĩa của lễ dần mở rộng ra, chỉ cả phong tục tập quán. Qua đời Đông Chu, nhất là Khổng Tử nó có một nội dung mới, nội dung luân lí, chỉ sự kỷ luật về tinh thần: người có lễ là người biết tự chủ, khắc kỉ. Khổng Tử chủ trương tòng chu, giữ pháp điển, lễ nhạc…của Chu Công tất nhiên trọng lễ và buộc vua chúa phỉa trọng lễ. Nếu vua không trọng lễ thì còn bắt ai trọng nó đuợc nữa? Thời Khổng Tử trọng lễ cũng cần thiết như đời sau trọng pháp luật, hiến pháp, có phần hơn nữa. Vì vậy mà Khổng Tử giữ lễ rất nghiêm chỉnh. Khi vua lâm triều thì ông cung kính có vẻ như không yên tâm, mà không mất vẻ uy nghi…mục đích của ông là duy trì chế đô tôn ti của Chu Công, ông cho như vậy mới là hợp lẽ, chứ không phải sợ vua chúa tới mức đó, ông đã là đại phu, trong đời tiếp xúc với nhiều vua chư hầu, đối đáp với họ rất tự nhiên; hơn nữa trong thâm tâm ông cũng khinh đa số vua chư hầu thời ông, thì đâu ông có sợ gì họ. Ong trọng là trọng cái ngôi của họ. Như ngày nay ta trọng cái áo của ông toà vậy thôi, nghĩa là ông chỉ trọng cái lễ, cái điển pháp, chế độ phong kiến của Chu Công, mà bất kỳ chính quyền nào dù quân chủ, dân chủ, xã hội…, cũng dùng những hình thức lễ như vậy, bắt dân phải theo, chỉ khác mỗi thời, hình thức thay đổi thôi. Mà sự tôn ti trong xã hội cho tới nay có dân tộc nào bỏ đuợc đâu, có những quốc gia tự cho là bình đẳng nhất mà quy định tiêu chuẩn cho từng lớp người trong xã hội còn chặt chẽ hơn thời Khổng Tử nữa.

Có nhớ điều đó chúng ta mới hiểu tại sao ông vốn chủ trương tiết kiệm cho dân, mà chê lời đề nghị thực tế, có thể nói là hợp thời nữa của Tử Cống.

Dù đời Chu có lệ vào thu hay đông mỗi năm, thiên tử ban lịch năm sau cho chư hầu, vua chư hầu cất vào tổ miếu rồi năm sau mới mở ra coi, và cứ mỗi ngày sóc (mùng một) mỗi tháng, mổ một con cừu để cúng tổ tiên. Lễ đó gọi là cáo sóc. Lễ  xong rồi vua mới hợp về triều. Vua Lỗ đã bỏ lễ đó từ lâu, ngày sóc không những không cúng tổ tiên mà có khi cũng không hợp triều nữa mà người ta vẫn giết một con cừu để dâng ở tổ miếu.

Tử Cống thấy vậy là vô ích, đề nghị bỏ hình thức đó đi. Không Tử trách Tử Cống là tiếc con cừu. Ong không muốn bỏ vì tiếc một cuộc lễ. Dù nó chỉ là hình thức thì ông cũng không muốn nhà cầm qyuền bỏ hẳn, mà đôi khi nhớ đến bổn phận của mình: trọng thiên tử nhà Chu, trọng tổ tiên và trọng cái bổn phạn họp triều. Thâm ý của ông là như vậy.

Ông ghét những kẻ tiếm lễ vì họ phá hoại trật tự xã hội, bất chấp luật pháp, có thể gây loạn.. Ông mắng Quí Thị dùng lễ “bát dật”, chê cả ba họ Mạnh,Thúc, Quí cho hát tư Ung trong nhà họ khi dẹp đồ tế lễ, vì như vậy là tiếm lễ của thiên tử nhà Chu. Ông khen Quản Trọng là một tướng quốc giỏi, cvó công với dân tộc nhưng lại vô lễ vì không biết giữ phận một đại phu mà dùng “tắc môn”, dùng phản điếm như vua Tề.Khổng Tử trọng lễ, ngoài mục đích lập lại trật tự xã hội, mục đích trị dân, còn có mục đích giáo hoá dân chúng nữa, để cho đức của dân thuần hậu.

Ta xét đức nhân về phương diện chính trị:

Nếu Khổng Tử chỉ tòng Chu, tái lập chế độ phong kiến của nhà Chu bằng thuyết chính danh khá mới mẻ, khá can đảm của ông. Theo lời Tiêu Công Quyền nói trong cuốn Trung Quốc triết học tư tưởng sử, tập I, trang 58, ông cũng chỉ là “một lính hậu vệ phong kiến”, “một đảng viên trung thành của phe thủ cựu”, chứ sao có được tiếng khen là “hiền hơn Nghiêu Thuấn”.

Ông được đời sau mang ơn vì: tuy thừa nhận chính quyền của vua đương thời nhưng rất bất mãn về hiện trạng, nên phát quan niệm nhân để mong cải tạo xã hội. Khổng Tử rất trọng lễ, nhưnh ông cón trọng nhân hơn nữa vì ông cho lễ chị là ngọn còn nhân là gốc, lễ là chính sách, nhân mới là tinh thần.

Ở bài III.3 ông bảo: “người không có đức nhân thì lẽ mà làm gì?”. Câu đó là một trong những câu quan trọng nhất trong luận ngữ. Không có lòng nhân thì lễ chỉ là hình thức. Nhà cầm quyền không có đức nhân thì càng trọng lễ, càng thủ cựu, càng dễ hoá ra độc tài. Pháp điển mà không lập theo tình nhân thì dễ hoá ra tàn khốc. Lễ là để giữ sự tôn ti, phân biệt trên dưới, giai cấp, nhạc là để điều hoá, hoà hợp, phân biệt mà không hoà hợp thì là cách biệt. Nhân gồm chữ nhị là hai và nhân là người, là tình người này đối với người khác. Không có tình người thì làm sao hoà hợp nhau được, người này người khác, giai cấp này giai cấp khác chỉ coi nhau là kẻ thù, người trên ức hiếp người dưới, người dưới chống đối người trên. Người Trung Hoa có từ ngữ “mội thánh ngoại vương”. Nguyễn Hiến Lê cũng theo từ ngữ đó mà cho nhân là thể, lễ là dụng, và gọi là ội nhân ngoại lễ, trong phải có lòng nhân thì ngôn hành ở ngoài mới hợp lễ được.

Theo Tiêu Công Quyền thì các sách cổ chép chính trị đời Chu trước Khổng Tử, rất ít nói đến nhân nghĩa. Như phần Nhã, phần Tụng trong Kinh thi khen đức của các tiên vương, tuyệt nhiên không có chữ nhân, bản cổ văn chỉ thấy dăm ba chữ dùng chữ đó. Còn các đời Hạ, Thương trở về trước, sách cổ thiếu chỉ lưu truyền rằng các vua thời đó trọng chính sách khoan, giản (vừa khoan vừa giản dị), chứ không nói đến nhân.Vậy thì có thể Khổng Tử đã đặt ra từ “nhân” ý nghĩa của nó rộng hơn chữ “khoan”. Chúng ta chưa có chứng cứ gì để tin hẳn điều đó, nhưng dù sao thì từ Khổng Tử trở đi, chữ nhân mới từ trường học của ông mà phổ biến, và “nhân” với “lễ” thành một hệ thống cả thể lẫn dụng. Theo Luận ngữ thì nhân có ý nghĩa phức tạp, nhưng đứng về phương diện chính trị mà xét thì Khổng Tử cho nhân là:

– Yêu người.

– Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác.

– Và cái gì mình thích thì làm cho người: “mình muốn tự lập thì cũng thành lập cho người, mình muốn thành công thì cũng giúp cho người thành công”. Nghĩa là biết “từ bụng ta suy ra bụng người”.

Như vậy, theo Khổng Tử, nhân chủ yếu là giúp người; giúp người hàm cái ý yêu người rồi, nếu chỉ có yêu suông mà không giúp thì không gọi là nhân được.

Đức nhân cần cho mọi người, nhưng người thường mà nhân thì chỉ giúp được một số ít người thôi, hạng vua chúa mà nhân thì giúp được cho cả nước, cả thiên hạ. Cho nên nhân phải là đức căn bản của vua, có như vậy mới làm tròn sứ mạng trời giao phó cho họ.

Khi Tử Trương đứng về phương diện trị dân, hỏi về đạo nhân, Khổng Tử đáp: “Làm được năm đức này trong thiên hạ gọi là nhân: cung, khoan, tiến, mẫn, huệ. Cung kính thì không bị khinh nhờn, khoan hậu được gọi là lòng người, thành tín thì được người ta tín nhiệm, cần mẫn thì thành công, từ huệ thì sử dụng được người”.

Chúng ta thấy trong năm đức đó, ông chú trọng đến đức yêu và giúp dân; khoan hậu là yêu dân, cần mẫn là giúp dân, từ huệ là thương dân, ban ơn cho dân.

Các chính trị gia thời đó được ông khen là nhân đều giúp ích nhiều cho dân. Không có các vị Thánh Nghêu, Thuấn, Hạ Vũ, ngay đến Quản Trọng của pháp gia, không có chủ trương đức trị như ông, mà cũng được ông khen hai lần là nhân, chỉ vì Quản Trọng có công với dân tộc Trung Hoa.

Lần đầu Tử Lộ chê Quản Trọng là bất nhân vì không chết theo chủ là công tử cũ, mà sau lại thờ người giết chủ mình, tức Tề Hoan công tử nữa. Khổng Tử bảo: “Hoàn công chín lần họp chư hầu mà không dùng võ lực uy hiếp họ, đó là nhờ tài sức của Quản Trọng. Nhân đức của ông ở chỗ đó”.

Lần sau cũng chê Quản Trọng như vậy. Khổng Tử bảo: “Quản Trọng giúp Hoàn Công, khiến Hoàn Công là bá các chư hầu, thiên hạ đã qui về một mối, nhân dân đến nay còn mang ơn ông. Nếu không có ông thì ngày nay dân đã phải gióc tóc,   mặc áo có vạch bên trái rồi, ông ấy há như bọn thất phu thất phụ giữ đức tín tầm thường, tự treo cổ nơi ngoài rãnh mà chẳng ai biết tời ư?”. Khổng Tử trong hai bài đó quả là một chính trị gia sáng suốt, khoáng đạt. Tuy ông tôn quân nhưng vẫn coi sự giúp ích cho dân, cho nước quan trọng hơn sự tử tiết một cách vô ích. Ong không nói ra, nhưng có lẽ ông cũng nghĩ như Mạnh Tử sau này: dân vi quý, dân vi khinh.

Một nhận xét nữa: Ông khen Quản Trọng là nhân mặc dầu ông vẫn chê là không biết lễ, như vậy cơ hồ ông cho rằng có nhân thì cho dù không có lễ cũng không đáng trách bằng có lễ mà không có nhân, đúng là ông trọng nhân hơn lễ, coi nhân là gốc lễ là ngọn.

2.2. Dạy dỗ

Trước hết phải dạy dỗ con cháu trong nhà phải hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính bâc lớn tuổi, thận trọng lời nói mà hành thực, yêu khắp mọi người mà gần gũi người nhân đức, làm được như vậy rồi mà vẫn còn sức thì sẽ học văn. (I.6).

Hiếu, lễ, trung, tín, nhân nghĩa, đó là những điều ông nhắc đi nhắc lại trong khi dạy học. Theo ông ai cũng phải học và hành, còn dư giờ dư sức thì mới học những khác tức lục nghệ. Hạng người thông minh, có dư sức, ông đào tạo thành kẻ sĩ (như kỹ thuật gia ngày nay) để giúp nước, tư cách cao hơn nữa ông sẽ đạo tạo thành quân tử, là những nhà trị dân đủ tài đủ đức. Ở đây ta chỉ xét lễ về lĩnh vực tinh thần, cần cho sự tu thân. Lễ có hai công dụng: tích cực và tiêu cực.

Tích cực là phát dương, hàm dưỡng tính tình cho đôn hậu. Ai nhận thấy tâm trạng ra sao thì cử chỉ ngôn ngữ hành động như vậy.

Các nghi thức trong các việc cúng giỗ tổ tiên, cưới hỏi, ma chay, lễ tang… mà ngày nay chúng ta cho là phiền phức, chính là có mục đích phát dương những tình cảm đôn hậu của ta. Cho nên Khổng Tử rất thành kính việc tế lễ. Ở bài III.12, ông bảo: “Tế tổ tiên như tổ tiên ở trước mặt, và khi nào vì lẽ gì ông không đích thân đứng tế được mà mượn người thay thế đấy, ông vẫn ân hận như chưa tế. Ong mắng thậm tệ Tể Ngã, gọi là đứa bất nhân, vì không nhớ công cha mẹ bồng bế  ba năm, mà muốn rút thời gian để tang xuống còn ba năm “ (XVII.21). Ngày nay chúng ta bỏ nhiều nghi thức thời xưa, nhưng cúng ta đặt thêm nhiều nghi thức mới, chung quy cũng kgông bỏ lễ được chỉ thay đổi đối tượng, mục đích hoặc hình thức thôi. Nếu tính cảm phát ra mạnh quá, thì ta phải dùng lễ để tiết chế lại cho hợp với “trung”.

Ở bài VII.2 Khổng Tử bảo:

“Cung kính mà không biết lễ thì khó nhọc, cẩn thận mà không biết lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết lẽ thì loạn động, ngay thẳng mà klhông biết thì gắt gao, mất lòng người”. Hai chữ “biết lễ” có nghĩa là biết tiết chế sao cho thích hợp, vừa phải. Đây là mặt tiêu cực của lễ.

Dù tích cực hay tiêu cực, lễ cũng tập cho ta biết “khắc kĩ” để tu nhân. Dân tộc nào trọng lễ thì ttrọng sự khắc kĩ, hễ khắc kĩ thì tinh thần hi sinh cao mà nước đó dễ hùng cường, như dân tộc trứơc thế chiến vừa rồi. Vì lễ rất cần thiết cho sự tu thân, nê Khổng Tử bảo “vô học lễ vô dĩ lập”- (không học lễ thì không biết lập thân- hoặc không biết cách cư xử- XVI.13. Ở bài VIII.8 ông lại bảo học lễ để lập chí lập ư lễ). Theo ông người quân tử học rộng về văn (thi, thư) rồi thì phải ước thúc bằng lễ, như vậy mới không trái với đạo lí (VI.25).

Nhạc cũng có công cụ hàm dưỡng tính tình, mà còn cũng có thêm công cụ để “hòa”. “Hoà” ở đây cũng có hai nghĩa:

  1. Hoà hợp các giai cấp, người sang kẻ hèn, người lớn kẻ nhỏ. Nếu chỉ dùng lễ thôi thì sẽ quá cách biệt, mà dân không đoàn kết, không vui.
  2. Điều hoà tình cảm, vui mà không quá đến lưu đãng, buồn mà không thương tổn, nghĩa là vui buồn đều vừa phải (lạc bất nhi dâm, ai nhi bất thương – III.29)

Muốn vậy nhạc phải “thiện và mĩ” như nhạc thiều, hoặc ít nhất cũng như nhạc Võ, chứ không thể như thứ nhạc phóng đảng nước trịnh được.Lễ và nhạc cải hoá được dân nên Tử Du một nôn sinh của Khổng Tử khi là quan tể đất Võ Thành, dùng lễ và nhạc để dạy dân ông nhận là phải. (XVII. 4). Tuy nhiên lễ nhạc cốt ở tinh thần chứ không phải ở hình thức mà thời ấy ông hạn thấy ngươi cầm quyền không hiểu điều ấy, nên phàn nàn: “Nói về lễ, về lễ, đâu chỉ có ngọc và lụa. Nói về nhạc, về nhạc,đâu phãi chỉ có chuông và trống”. (XVII.11), rồi nhắc nhở họ rằng: “lễ mà quá xa xỉ thì kiệm ước còn hơn, tang mà quá chú trọng nghi tiết thì thương xót  còn hơn”.(III.4).

Nếu người ta nghe ông thì Mặc Tử khỏi phải viết những thiên Tiết táng và Phi nhạc, mà đạo Khổng cũng khỏi bị mắng oan là làm cho nước suy nhược. Mặc Tử cũng như những người chỉ trích đạo Khổng Tử từ xưa đến nay thật ra chỉ trích những người áp dụng sai đạo Khổng Tử, chứ không phải chỉ trích học thuyết của Khổng Tử. Tinh thần lễ, nhạc ở cả trong đức nhân. Phải có lòng nhân, yêu người trọng người rồi sau mới trọng lễ nhạc (hội sự hậu tố bài III.8). thiếu lòng nhân thì lễ nhạc chỉ là giả dối, lễ mà làm gì, nhạc mà làm gì? (III.3), càng khéo nói, càng niềm nở càng khả ố, mà nhạc càng mĩ càng hay, lôi cuốn bao nhiêu nếu không “thiện” (tốt lành) thì chỉ gây nên sự chia rẽ, căm thù hoặ dâm loạn.Nhưng chúng ta cũng nên nhớ “lễ” ngược lại cũng giúp cho đức nhân, cử chỉ, ngôn ngữ tác động ngược lại với tâm lí. Chưa có đức nhân mà muốn có đức nhân thì ta cứ khắc kỉ (chế thằng tư dục), cố gắng có những cử chỉ, ngôn ngữ hành vi khả ái với người khác rồi thì ta cũng có được đức nhân,. Đó là ý nghĩa câu “khắc kỉ phục lễ vi nhân” trong bài XII.!.

  1. Chính hình

Danh từ chính rút trong bài II.3. Chính là chính lệnh, hình là hình pháp. Chính hình chỉ tất cả điển chương pháp lệnh do các vua đầu tiên đời Chu ra để trị dân. Khổng Tử chủ trương đức trị, cho nên không thích dùng chính hình để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội, nhưng không biết hổ thẹn. Dùng đạo đức để dắt dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân biết hổ thẽn mà theo đường chính.

Ở bài XII.13, ông nói:

“Xử kiện thì ta cũng như người khác thôi, phải làm sao (dạy dân biết nghĩa vụ, nhường nhịn) cho dân  khỏi kiện nhau thì mới hơn chứ?” (tất giả, sử vô tụng hồ?). Nhưng ông đã bảo có hạng người hạ ngu, không giáo hoá không được, cho nên bất đắc dĩ phải dùng chính hình, không thể bỏ pháp lệnh, thưởng phạt được. Thưởng phạt khéo dùng thì có thể giúp cho sự giáo hoá cũng như cần chính hình.

Đời Chu, hình phạt rất nghiêm khắc. Theo Etiemble, có tới 200 tội bị xử, 300 tội bị thiến, 500 tội bị chặt chân, cả ngàn tội bị cắt mũi. Khổng Tử muốn sửa cái thói đa sát đó, cho nên Quý Khang Tử muốn giết kẻ vô đạo để cho người khác thành hữu đạo, ông bảo trị dân cần gì dùng biện pháp giết người, người trên muốn thiện thì dân sẽ hoá thiện.(XII.19).

Tuy nhiên muốn giữ chế độ phong kiến, tôn quyền, muốn mọi quyền phải về vua, (XVI.12), nên Khổng Tử rất ghét thí quân, phản loạn, tiếm lễ như trên tôi đã nói: ông cương quyết đòi phá ba thành của họ Mạnh Tử, Qúi, Thúc, và xin Lỗ Ai Công, khiến chúng ta nghi ngờ rằng hành động của ông mâu thuẫn với lí thuyết: không hiếu sát, ghét vũ lực.(VII.20).

Vậy mà khi Phất Nhiễu, một kẻ phản loạn ở Lỗ mời ông hợp tác, ông muốn tới; rồi sau một kẽ phản loạn khác ở sở, Bật Hật mời ông, ông cũng muốn đi. Con người ông thật khó hiểu, có lẽ vì ông chủ trương “vô khả, vô bất khả”? ông khác xa Mạnh ô4

  1. Võ bị

Ong không thích chiến tranh, cho nên trong nhạc Thiều hơn nhạc Võ, cho đức vua Thuấn cao hơn đức Võ Vương, vì Võ Vương phải dùng vũ lực diệt một bạo chúa rồi mớ làm vua thiên hạ.

Và khi Vệ Linh Công hỏi ông về việc chiến trận, ông tự cho la xúc phạm, đáp: “Việc tế tự, lễ khí thì tôi từng được nghe, còn việc quân lữ thì tôi chưa được học”, rồi hôm sau ông bỏ nước Vệ mà qua nước Trần.

Tuy nhiên ông cũng nhì nhận rằng võ bị không thể thiếu được, cho nên trong bài XII.7, ông bảo Tử Cống rằng phép trị dân thì phải lo lương thực cho đủ binh bị cho đủ (túc thực, túc binh).

Có điều đáng để ý là ông cho rằng phải dạy dổ dân rồi mới bắt dân đánh giặc, nếu không tức là bỏ dân (XIII.30); và theo ông, một nhà cầm quyền tốt phải dạy dân bảy năm rồi mới có thể dùng vào việc chiến đấu được(XIII.29).

Dạy dân bảy năm rồi mới đưa dân ra trận, tôi chưa thấy một chính trị gia nào chủ trương như vậy, và khắp cổ kim, cũng không nhà cầm quyền theo chính sách đó. Chắc Khổng Tử nghĩ rằng không những dạy dân về chiến thuật, canh nông (thời đó lúc nào cũng ngụ binh ư nông: thời bình, dânvừa dạy học về quân sự, vừa cày ruộng để tự túc) mà còn phải giáo hoá về đạo đức: biết yêu người thân, biết hi sinh cho người trênv..v… rồi họ mới hăng hái chiến đấu chăng ? Nhưng nếu vậy thì thanh niên nào cũng phải dạy trong bảy năm, giáo dục bị cưỡng bách trong bảy năm? Ở thời ông khó tưởng tượng được điều dó.

  1. Ngoại giao

Thời Tây Chu, dân tộc Trung Hoa sống cách biệt hẳn với thế giới, và khu vực họ chỉ gồm lưu vực sông Hoàng Hà và lưu vực sông chưa đến bờ Dương Tử, phía đông là biển, còn ba phía kia có những dân tộc còn bán khai mà họ gọi chung là Di, Địch; còn chính họ tự xưng là Hạ hay Hoa Hạ, có nghĩa là dân tộc lớn, văn minh. Chúng ta thấy sự phân biệt trong bài III.5: “Di Địch dù có vua cũng không bằng Hoa Hạ không có vua( vì Hoa Hạ có lễ nghi)”.

Hoa Hạ theo chế độ phong kiến, chế độ này có thể coi là một tổ chức quốc tế khá tinh vi. Trong thế giới đó, Chu làm chủ, làm thiên tử, còn các nước khác làm chư hầu tự trị có đai riêng, chính quyền riêng, võ bị riêng. Theo nguyên tắc, chư hầu phải tuân điển chế, chính lệch của Chu. Tề và Sở chẳng hạn nếu có chuyện xích mích với nhau về một vấn đề gì như vấn đề biên giới, vấn đề chứa chấp kẻ phản loạn… thì không được tự tiện giải quyết với nhau bằng vũ lực, mà phải để cho thiên tử nhà chu xử: hoặc hoà giải hai bên, hoặc trừng phạt kẻ có tội bằng quân đội của nhà Chu kết hợp với quân đội của một vài chư  hầu khác.

Chu còn có bổn phận:

Giúp các nước bị ức hiếp, cứu các nước bị mất mùa mà đói, có thể dẹp loạn cho các chư hầu, nối lại một dòng vua, nghĩa là tìm trong tôn thất một người xứng đáng đặt lên ngôi(nếu vua trước không có người nối dõi) để giử xã tắc và trông nom việc tế tự tổ tiên.

Cứ vài năm, theo đúng kì hạn, thiên tử tuần thú xem chính sách trị dân của chư hầu có tốt không, dân có ta thán không …

Chư hầu cũng đúng kì hạn lại chầu thiên tử, dâng đồ cống, báo cáo tình hình nước mình, nhận chỉ thị của thiên tử. Mỗi lần vua trước chết, vua sau lên thay đều phải được thiên tử chấp nhận.

Sự giao thiệp giữa các chư hầu với nhau đều theo những minh ước cả( như trong cuộc họp giữa Tề và Lỗ ở Giáp Cốc mà Khổng Tử đã dự).

Một tổ chức như vậy có phần nhân đạo nếu không hữu hiệu hơn Liên hợp Quốc ngày nay. Nó khác Liên Hợp Quốc là các nước chư hầu mới đầu do Chu Phong cho, cấp đất , định số quân đội (tức chiến xa) cho cả.

Muốn cho tổ chức đó vững thì cần: nước Chu phải mạnh, các chư hầu đều kính nể, và các chư hầu phải dữ vững chữ tín với nhau. Sở dĩ Khổng Tử đề cao đức tín vì xã hội phong kiến phải cần có đức đó mới giữ vững được.

Đối với dân tộc Di, Địch, Khổng Tử không có tinh thần phân biệt chủng tộc, mà chỉ phân biệt về văn hoá như khi ông nói không nhờ công của Quản Trọng thì dân tộc Hoa Hạ đã phải gióc tóc, mặc áo có vạt bên trái (như người Di Địch) rồi.

Không phân biệt chủng tộc vì người Di Đích cũng “da vàng tóc đen như người Hoa Hạ” và tuy ở khác nơi nhưng tâm lí cũng như người Hoa Hạ, cũng trọng đức trung tín, kính cẩn như bài dẫn dưới đậy: Phàn Trì hỏi về đức nhân. Ong đáp: “khi nhàn cư phải khiêm cung, khi làm việc phải nghiêm trang, cẩn thận, khi giao thiệp với ai phải trung thực. Dù tới nước Di Địch cũng không thể bỏ qua ba điểm ấy”. Ong cũng khuyên Tử Trương như vậy, dù đi tới nước Man, nước Mạch. Ong cũng tin có thể cải hoá được các dân tộc khác, cho nên khi chán ngán, muốn qua ở với cửu di, có người bảo các nơi đó bỉ lậu, làm sao ở được, người quân tử lại ở, “giáo hoá họ” thì còn gì bỉ lậu nữa.

Vả lại chính Chu trước kia cũng là một rợ ở phương tây, văn hoá kém nhà An, mà Chu Văn Vương chỉ là một tây bá, cầm đầu các rợ ở phương tây, Ngô ,Việt là rợ ở phương nam mà một khi đã theo văn hóa Hoa Hạ cũng được coi là những chư hầu ngang với Vệ, Trần Thái.

Chúng ta đã biết ông tiếp khách nước ngoài lễ độ ra sao, khi đi sứ nước ngoài ông vừa cung kính vừa ôn hoà. Ong khen nước Trịnh thận trọng về ngoại giao: Một viên quan khởi thảo, viên thứ nhì luận thêm, góp ý kiến, rồi viên coi việc đi sứ sữa chữa, sau cùng thì tướng quốc Tử Sản nhuận sắc lại. Chính ông đào tạo được vài nhà ngoại giao như Công Tây Xích, Tử Cống… Nếu Tư Mã Thiên chép đúng thì ông cũng nghiêm khắc, cương quyết khi giữ thể thống cho quốc gia trong cuộc hội nghị giữa Tề và Sở ở Giấp Cốc, ông buộc vua  Tề phải chặt chân tay bọn con hát của Tề vì họ đã hát những khúc thô tục, có ý để làm nhục Lỗ. Tóm lại chính sách ngoại giao của Khổng Tử có thể tóm tắt trong những điều sau: thủ tín, nhã nhặn nhưng trọng quốc thể, làm cho người nghe phục mình  vể văn đức mà quy phục và giáo hoá các dân tộc lạc hậu.

  1. Dùng người

Thời Hạ ngôi vua không truyền hiền nữa mà truyền tử, ông vua đầu tiên được ngôi theo cách truyền tử. Qua đời thương ngôi vua truyền cho em, hết em rồi mới truyền lại cho con, (tưc chú truyền cho cháu).

Đời Chu bỏ hẳn lệ đó, ngôi vua truyền cho con, mà con dòng lớn thôi, con chết trước thì truyền cho cháu cũng dòng lớn (đích tôn). Chế độ đó gọi là “tôn pháp”. Ngoài ra bao nhiêu chức lớn đều do họ nhà vua nắm cả. Non sông xã tắc thành tài sản riêng của một nhà, như vậy gọi là “thân nhân”. Cho nên Chu Công (em Võ vương) dặn con là Bá Cần khi phong Bá Cần làm Lỗ Công (tức vua chư hầu ở Lỗ): “đừng bỏ người thân, không để cho đại thần oán vì không được trọng dụng”.

Tuy nhiên thời nào cũng vậy, nếu trong tôn thất không có đủ người giỏi thì dùng một số người ngoài có tài đức trong bình dân, mà Trung Hoa gọi là người hiền, tuy thân nhân nhưng cũng phải trọng hiền. Ong vua đáng khen nhất trong việc dùng hiền tài là Tề Hoàn Công, các đại thần của ông như Quản Trọng, coi Quản Trọng như cha chú. Có thể nói trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc nước nào mạnh lên cũng nhờ công của bọn hiền thần xuất thân từ giới bình dân, hoặc tân địa chủ cũ. Hạng quý tộc cũng có người giỏi như Tử Sản nước Trịnh nhưng hiếm. Vậy tinh thần tôn hiền đó đã có trước Khổng Tử từ lâu, ông có công đào tạo hạng bình dân có tài đức, để cử họ và đưa sự truyền hiền lên làm chính sách..

Khi Trịnh Cung (học trò của ông) làm một quan tể cho họ Quí hỏi ông về phép trị dân, ông đáp: “phải đích thân thông suốt các viên hữu ti (dưới quyền mình), tha lỗi nhỏ cho họ, đề bạt những người hiền tài”.

Trọng Cung hỏi làm sao biết đuợc ngưởi hiền tài mà đề bạt. Ong đáp: “cứ hãy đề bạt những người mà anh biết, còn những người anh không biết thì lẽ nào người khác lại bỏ mà không giới thiệu”.

Khi Phàn Trì hỏi về đức trí ông đáp: trí là biết người “tiên tiến” về lễ nhạc, tức hạng học lễ nhạc rồi mói ra làm quan (hạng bình dân), hơn là người “hậu tiến”, tức những người làm quan rồi mới học lễ nhạc (hạng qíu tộc). Đó chỉ là một thuyết, tuy có lí nhưng chưa hẳn là đúng.

Điều chắc chắn là những người có tài đức thì cha mẹ hèn hạ, dù có làm việc ác đi nữa, ông cũng vẫn mến và dùng. Vậy là ông không có chút thành kiến về giai cấp, lí lịch của ai cả, mà còn bênh vực cho giai cấp bình dân, cho họ bình đẳng với giai cấp quí tộc về phương diệbn tài đức để xoá lần lần sự bất bình đẳng về huyết thống. Như vậy đời sau người ta cấm con nhà ca xướngkhông đuợc đi thi là trái với tinh thần của ông.

Mặc Tử còn tiến xa hơn ông trong Thiên Thượng Hiền – Trung, kịch liệt đã kích thói không dùng người hiền mà dùng kẻ thân thích, cố cựu, giàu sang (quí tộc), mặt mũi tốt đẹp để trị nước “cho họ trị nước là cho bọn ngu dốt trị nước, như vậy nước sẽ loạn là điều biết chắc được rồi”. Có thể nói cả thời Chiến Quốc là lịch sử của sự tranh giành địa vị giữa giai cấp quí tộc và giai cấp tân địa chủ. Thời Xuân Thu giai cấp quí tộc còn mạnh mà Khổng Tử là một thành trong giai cấp đó, nên còn giữ thái độ ôn hoà, không dứt khoát khuyên nên “thân nhân” hơn hay “tôn quyền” hơn.

Đọc bài VIII.2: “người quân tử (tức nhà cầm quyền) giữ trọn đạo với người thân thì dặn phát khởi lòng nhân ái”, ta chỉ thấy ông khuyên nhà cầm quyền phải tu thân để làm gương cho dân, mà đạo tu thân phải lấy hiếu để làm gốc, chứ chưa kết luận rằng vua chúa phải thân thân, nghĩa là giao trọng trách cho người thân hơn là người hiền. Qua đời Tử Tư sinh sau ông khoảng 60 năm và trước Mặc Tử khoảng 10 năm, hình như chủ trương đã dứt khoát: tôn hiền quan trọng hơn thân thân. Sách  Trung dung chương XX có đoạn: “trị thiên hạ và quốc gia, có chín phép quan trọng là: sửa mình trọng người hiền, yêu người thân, kính các đại thần.. Sửa mình thì đạo thành, tôn trọng người hiền thì khỏi lầm lạc….Tu thân tắc đạo lập, tôn hiền tắc bất hoặc, thân thân tắc chư phụ côn đệ bất oán, kính đại thần tắc bất huyễn..”.

Tử Tư đã đặt tôn hiền trước thân thân.Vậy từ Khổng Tử tới Tử Tư, Mặc Tử, Ngô Khởi, Thương Ưởng chủ trương tôn hiền ngày càng thắng thế, giai cấp bình dân, tân địa chủ ngày một lên, đó là xu hướng tự nhiên của thời đại.

Khổng Tử phân biệt ba hạng bề tôi: hạng đại thần có tài đức, hạng “cụ thần”, bề tôi thường (cho đủ số để làm việc) và hạng đấu sao, khí độ nhỏ nhen như cái đấu, cái sao không đáng kể. Gọi là đại thần cứ theo đạo lì mà thờ vua, kh6ong thi hành đạo lí đuợc thì từ chức, như ông hoặc như Cừ Bá Ngọc bạn thân của ông.

Trong bài VIII.13 ông bảo: “thiên hạ có đạo (vua tốt, chính trị tốt) thì ra làm quan, vô đạo thì ở ẩn…nước nhà vô đạo mà mình phú quí (ra làm quan lớn thì đáng xấu hổ)”.

Cách thờ vua là phải kính vua, trung với vua nhưng không ngại can gián vua. Ong chê hai môn sinh thân tín của ông: Trọng Do và Nhiễm Cầu không đáng là đại thần, chỉ là cự thần thôi, nhưng họ còn đủ tư cách không giết cha, giết vua. Quan niệm trung quân của ông không cố chấp, hủ lậu như đời sau, chết theo một hôn quân.

Bề tôi trung với vua nhưng vua cũng phải giữ lễ với bề tôi. Nước trị có đạo là nhờ có trật tự, trên dưới đều làm việc hất bổn phạn của mình…, nhà cầm quyền săn sóc cho dân đủ ăn đủ mặc, giáo hoá cho dân cò lễ nghĩa, muốn vậy vua phải có đức.

Nhưng Khổng Tử nhận rằng nếu vua biết dùng bề tôi hiền thì dù có nhiều tật xấu như hiếu sắc, dâm loạn vẫn có thể giữ ngôi đuợc. Khi Quí Khang Tử hỏi ông Vệ Linh Công vô đạo mê nàng  Nam Tử sao không mất ngôi, ông đáp: “Có Trọng Thúc Ngữ coi việc ngoại giao, Chúc Đà coi việc tế tự, Vương Tôn Giả coi việc quân. Dùng người như vậy làm sao mất ngôi đuợc?”.

Trường hợp Tề Hoàn Công cũng vậy. Về lí thuyết Khổng Tử đòi ông vua phải có đức làm gương cho dân, nhưng trong thực tế ông chỉ mong họ đừng bỏ bê việc nước mà biết trọng người hiền thôi. Nếu một người biết dùng ông thì ông tin rằng chỉ một năm kỉ cương đã khá, ba năm sẽ thành công. Nhưng sự thành công chỉ có nghĩa nước sẽ trị, không loạn lạc, dân đủ ăn, biết lễ nghĩa một chút.

Công việc giáo hoá dân thì phải lâu hơn, vua vào bậc thánh nhân thì cũng phải mất trọn một đời thì dân mới có nhân đạo, còn hạng vua không phải là thánh, chỉ là thiện thôi, thì phải thay nhau trị nước liên tục một trăm năm mới khiến cho kẻ tàn bạo thuần phục, bỏ đuợc hình phạt chém giết. Vậy khổng Tử nhận sự cải hoá bản tính con người rất khó, chứ không mau và dễ được

 III. KẾT LUẬN

Nói chung thời Xuân Thu và đầu thời Chiến Quốc, không có triết gia nào có ý viết sách để trình bày tư tưởng của mình một cách hệ thống. Nhưng những lời họ dạy môn sinh hay đối đáp với người ngoài mặc dù tản mạn, cũng liên  hệ với nhau vì có chủ trương rõ rệt. Ít nhất là về đại cương, đọc thì thấy một hệ thống trong tư tưởng của họ. Sau khi phân tích tư tưởng chính trị của Khổng Tử chúng ta đã có một ý niệm về xã hội lí tưởng của ông. Đó là xã hội phong kiến theo điển chế của Chu rất trật tự, tôn ti, từ thiên tử tới các chư hầu lớn nhỏ, quí tộc bình dân ai có phận nấy, có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà thuận với nhau, ai cũng phải tu thân nhất là hạng vua chúa vì ngoài bổn phạn dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, làm gương cho họ bằng lễ nhạc, văn đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở. Không thấy Khổng Tử bênh vực phụ nữ dó là khiếm khuyết của chế độ phụ quyền, ai nấy đều trọng tình cảm và công bằng, không ai nghèo quá mà không ai giàu quá. Có thể một nhà nho nào đó ở cuối thời Chiến Quốc đã tả xã hội đó, gọi là đời tiểu khang, rồi thác là lời Khổng Tử cho vào thiên lễ vận trong thiên Kinh Lễ:

Ngày nay đại đạo đã bỏ, người ta lấy thiên hạ làm của riêng, ai nấy đều riêng thân cha mẹ mình, đều riêng yêu con mình, cho của cải và sức lực là của riêng mình, vua quan thì chatruyền con nối….”

Tác giả đó đã nắm đuợc điểm chính của đạo Khổng. Còn quốc gia lý tưởng của Mặc Tử, Lão Tử, và Pháp gia như sau:

+ Mặc Tử muốn có một quốc gia thống nhất, quyền hành tập trung vào một người tài đức do họ cử lên, không có đảng phái, tư tưởng từ trên xuống dưới nhất lọat như nhau, ai cũng lo lợi chung cho đồng bào, xã hội

+ Lão Tử có phác hoạ một quốc gia lí tưởng trong chương 80 cuốn Đạo đức kinh: “nước nhỏ dân ít. Dù có khí cụ gấp chục gấp trăm sức người cũng không dùng đến. Ai nấy cũng coi sự chết là hệ trọng nên không đi đâu xa. Có thuyền xe mà không người ngồi, có binh khí mà không bày… Các nước gần gũi có thể nhìn thấy nhau, nuớc này nghe được tiếng gà tiếng chó của nước kia mà nhân dân các nước ấy đến già chết cũng qua lại với nhau”.

+ Còn Pháp gia, Thương Ưởng và Hàn Phi, muốn có một quốc gia thống nhất (như Mặc Tử) quyền hành tập trung vào một người gọi là vua, kinh tế phải khuyếch trương để cho nước giàu và  mạnh mà chiến thắng được những nước khác, không cần văn hoá cho cao, chỉ cần nông phẩm và binh khí cho nhiều, vua không cần ân huệ, cứ ngồi trên mà điều khiển guồng máy bằng cách áp dụng pháp luật một cách nghiêm khắc và công bằng, lí tưởng đó là lí tưởng quốc cường quân tôn.

Chỉ so sánh bốn quốc gia lí tưởng chúng ta đã hiểu được tại sao từ đời Hán trở đi, suốt trên hai ngàn năm đạo Khổng Tử được độc tôn, vua chúa đời nào cũng cố gắng áp dụng nó, mặc dù không đúng. Nó thực tế hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia, trọng văn hoá hơn cả ba phái kia, hợp tình hợp lí. Tóm lại nếu chỉ dùng leo6 thì chính sách chỉ lễ trị, không khác pháp trị bao nhiêu, phải có nhân thì mới thành đức trị mà thuyết chính danh mới cơ sở vững, thiếu đức nhân thì vua không xứng là vua.

Vậy đức trị là nhân trị, trị dân bằng đức nhân, mà cũng gọi là nhân trị, trọng tư cách, đạo đức của người trị dân hơn pháp điển, chế độ. Người trị dân tốt thì chế đô xấu sẽ sữa đổi cho tốt còn chế độ tốt mà người trị dân xấu thì nó vẫn xấu. Như chúng ta nói ngày nay yếu tố người quan trọng hơn cả mặc dù không thể bỏ qua được pháp chế, vì không có một chế độ nào không xây dựng trên một pháp chế, dù pháp chế đó sơ sài đến đâu dù không thành văn chỉ là những tục lệ, bỏ nó cũng thiếu những đức chính, tín lễ rồi thì không gọi là đức trị được. Có người nói rằng Khổng Tử chủ trương đức trị là gây cơ sở cho chuyên chính, cho độc tài cá nhân. Thật ra ngược lại mới đúng chính là để ngăn ngừa bọn độc tài như Kiêt, Trụ mà Khổng Tử đề cao đức trị đưa ra thuyết chính danh. Chúng ta chỉ trách ông  không cho ta biết những ông vua không xứng đáng với cái danh của họ thì ta làm cach nào để thay thế họ. Qui kết tự nhiên của thuyết chính danh ở thời ông là làm cách mạng để lật đổ bọn cầm quyền tàn bạo mà ông lại không ưa cách mạng cho nó là phản loạn, ông khen Bá Di, Thúc Tề là người nhân, vì đã chống việc diệt Trụ của Võ Vương. Ông cũng thấy chế độ tuyển hiền như thời Nghiêu Thuấn tốt hơn chế độ truyền tử như thời Chu, hợp với thuyết chính danh hơn cho nên ông thích nhạc Thiều hơn nhạc Võ nhưnh ông không dám đã động gì tới chế độ “tôn pháp” của Chu Công, thành thử thuyết chính danh của ông có vẻ lưng chừng, không triệt để chỉ là một lí thuyết suông. Phải một thế kỷ sau Mạnh Tử mới sửa đuợc một phần khuyết điểm đó, cho hạng “thiên lại” tức hạng có đức được “thế thiên hành đạo” diệt những ông vua bạo ngược như Kiệt, Trụ, nghĩa là cho họ quyền làm cách mạng bằng võ lực. Rồi phải đợi thêm 2000 năm nữa tôn văn đưa ra “ngũ quyền hiến pháp” thì vấn đề tạm dược giải quyết nhưng cũng chỉ là trên lí thuyết thôi. Cho đến nay nhân loại cũng chưa có cách nào diệt được bọn độc tài, khi dân trí dân đức còn kém. Khi chưa có truyền thống dân chủ  thì pháp trị không ngăn nỗi bọ độc tài, nhất là trong thời đại ngày nay khi khoa học kĩ thuật thành những khí giới kinh khủng trong tay kẻ cầm quyền. Biết bao bi kịch của nhân loại từ thời Tần Thuỷ Hoàng tới Hitler, Mussolini…đủ cho ta thấy điều ấy.

Như vậy ta thấy Khổng Tử chủ trương muốn cho xã hội khỏi loạn thì: Mọi người phải trọng pháp điển, có tôn ti, không ai được việt vị (lễ). Người trên phải làm tròn nhiệm vụ, yêu dân (nhân), có đức tín thì mới có chính danh đáng cho dân trọng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ giáo dục và đào tạo,1996, Triết học, Nxb Chính trị quốc gia. Tập I.
  2. Hồ Sĩ Hiệp, 1996, Luận ngữ, thánh kinh của người Trung Hoa, Nxb Tp Hồ Chí Minh.
  3. Nguyễn Hiến Lê,1978, Khổng Tử, Nxb Văn Hoá.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *