Trang chủ / Công bố tài liệu / Từ đấu tranh Hiệp thương thống nhất đến Cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam

Từ đấu tranh Hiệp thương thống nhất đến Cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam

Kết thúc chiến tranh, thống nhất hai miền Nam Bắc là nguyện vọng của cả dân tộc và cũng là chân lý ngàn đời của người Việt Nam “sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Có được những chiến công dồn dập trong hơn 50 ngày đêm của cách mạng miền Nam là vì nó được tích lũy từ những ngày tháng gian lao trong những năm 1954-1975, từ các chiến công vang dội của các sự kiện 1965, 1968, 1972…Nhưng trực tiếp nhất làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là do sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, toàn diện, đầy đủ của cách mạng miền Nam trong 2 năm 1973-1974. Trong 2 năm bản lề chuẩn bị cho trận quyết chiến cuối cùng diễn ra trong năm 1975, có sự góp mặt của cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao – đấu tranh đòi thực thi các điều khoản của Hiệp định Paris. Một trong những khía cạnh đấu tranh của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là vấn đề hiệp thương thống nhất các bên miền Nam Việt Nam.

Hội nghị Hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam được quy định tại Điều 9 và Điều 12, Chương IV của Hiệp định Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (sau đây gọi tắt là Hiệp định Paris về Việt Nam). Theo khoản b Điều 9: “Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế”. và Điều 12: “…2 bên miền Nam Việt Nam sẽ Hiệp thương để tiến tới tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký kết một Hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt”[i].

hiep thuong

Tại Paris, ngay trong ngày Hiệp định Paris được ký kết, 27/1/1973, hai bên miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đã mở cuộc tiếp xúc đầu tiên về vấn đề Hiệp thương thống nhất miền Nam. Sau đó, từ 5/2/1973 đến 8/3/1973, diễn ra cuộc thảo luận giữa đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ông Đinh Bá Thi và Nguyễn Phương Hiệp – đại diện chính quyền Sài Gòn ấn định về thủ tục Hội nghị hai bên miền Nam Việt Nam. Đại diện hai chính quyền ở miền Nam đã bàn tới địa điểm tổ chức Hội nghị Hiệp thương hai miền, ban đầu, các bên đồng ý về lý là cuộc Hiệp thương nên diễn ra ở miền Nam Việt Nam. Khi đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam yêu cầu phái đoàn đại diện của Chính phủ phải được hưởng quy chế như phái đoàn của chính quyền Sài Gòn, thì chính quyền Nguyễn Văn Thiệu phủ nhận vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và không đồng ý cho phái đoàn Chính phủ được hưởng quy chế như tinh thần Hiệp định Paris về Việt Nam quy định. Bất đồng quan điểm giữa hai phái đoàn nên dự định chọn miền Nam làm địa điểm họp Hội nghị Hiệp thương không thành. Cuối cùng, để Hội nghị Hiệp thương được diễn ra, phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đồng ý chọn địa điểm ở một thị trấn ngoài thủ đô Paris của Pháp. Và theo gợi ý của Chính phủ Pháp, hai bên thống nhật họp tại lâu đài La Selle Saint Cloud.

Ngày 16/3/1973, hai phái đoàn miền Nam Việt Nam đều có mặt tại Paris để chuẩn bị tham dự Hội nghị Hiệp thương. Gần hai tháng sau cuộc tiếp xúc đầu tiên về vấn đề Hiệp thương giữa hai bên miền Nam, Hội nghị Hiệp thương giữ hai bên miền Nam Việt Nam mới chính thức khai mạc ngày 19/3/1973. Đó là một cuộc đấu tranh căng thẳng giữa hai phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn về các vấn đề ngưng bắn, trao trả tù binh, bảo đảm tự do dân chủ, lập hội đồng tiến tới tổng tuyển cử.

Trong 13 phiên họp đầu từ ngày khai mạc cho tới 30/5/1973, phái đoàn chính quyền Thiệu ngoan cố bám vào luận điệu “miền Bắc xâm lược miền Nam” để yêu cầu miền Bắc rút quân; phủ nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; phủ nhận thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, ba lực lượng chính trị ở miền Nam; đòi giải quyết vấn đề miền Nam trong khuôn khổ Hiến pháp của chế độ Việt Nam Cộng hòa và họ đưa ra các bước thực hiện vấn đề Hiệp thương trái ngược với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Vấn đề Hiệp thương giữa các bên miền Nam thực sự là rất khó khăn, khi mà tại Hội nghị này, hai bên tham gia Hội nghị đưa ra hai quan điểm trái chiều về các bước thực hiện Hiệp thương. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra đề nghị 6 điểm trong đó điều đầu tiên là tôn trọng ngưng bắn rồi tiến tới giải quyết các vấn đề khác. Ngược lại, chính quyền Sài Gòn lại đưa ra đề nghị 5 điểm, rồi 10 điểm, hay 7 điểm theo đó đưa vấn đề tiến hành tổng tuyển cử lên trước sau đó mới đi đến giải quyết các vấn đề khác.

So sánh các đề nghị của hai bên tham gia tranh luận tại Hội nghị Hiệp thương để thấy rõ sự bất đồng quan điểm một cách rõ ràng: đề nghị 6 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam:

“1/Chấm dứt ngay tiếng súng, thực hiện triệt để ngưng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam; 2/trao trả hết nhân viên dân sự và quân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ; 3/bảo đảm ngay và đầy đủ các quyền tự do dân chủ của nhân dân; 4/nhanh chóng thành lập Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc; 5/tiến hành tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ; 6/giải quyết vấn đề các lực lượng võ trang”[ii].

Đề nghị 7 điểm của chính quyền Sài Gòn như:

“1/Hai bên miền Nam Việt Nam họp tại La Celle Saint Cloud thỏa thuận trên nguyên tắc tổng tuyển cử vào ngày 20/7/1974…; 2/hai vấn đề ngưng bắn và trao trả thuộc trách nhiệm của Ban Liên hiệp quân sự hai bên và Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát; 3/các nhóm chuyên viên bắt đầu làm việc ngay để hai bên ký kết một Hiệp định về các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam…; 4/hiệp định có tính cách toàn bộ, tất cả vấn đề chính trị, quân sự phải liên hệ và giải quyết song song cho thỏa đáng và dứt khoát trước khi vận động tranh cử bắt đầu; 5/Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc sẽ được thành lập trễ lắm vào ngày 19/4/1974..;6/ Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp dân tộc soạn thảo xong thủ tục và thể thức Tổng tuyển cử trễ lắm 60 ngày, trước ngày tổ chức Tổng tuyển cử…;7/Nếu phái đoàn Mặt trận Giải phóng không muốn thực hiện thỏa ước này dưới hình thức Hiệp định thì hai bên có thể thực hiện dưới hình thức Thông cáo chung”[iii].

Ngày 9/5/1973, trong phiên họp thứ 10, ông Nguyễn Văn Hiếu – Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên án chính quyền Sài Gòn một cách gay gắt rằng: “…bây giờ các ông nêu vấn đề là phải tiến hành tổng tuyển cử, thế thì tổng tuyển cử trong khi còn bắn nhau thì tổng tuyển cử như thế nào,…, chúng tôi cho rằng các ông như đặt cái cày trước trâu, mà bây giờ phải làm thế nào để có thể có cái chấm dứt chiến sự chớ, cái đó là cái tối thiểu phải có ngay trong Hiệp định…Thế thì chúng tôi cho rằng về phía các ông thì rõ rằng là chưa muốn tái lập hòa bình, chưa muốn chấm dứt chiến sự”[iv].

Để lãng tránh vấn đề tiên quyết là lập lại hòa bình, trong phiên họp thứ 11 ngày 17/5/1973, Trưởng phái đoàn chính quyền Thiệu – Nguyễn Lưu Viên đưa ra đề nghị lập 4 ủy ban, gồm “Ủy ban “A” có nhiệm vụ cứu xét trong chi tiết của tổ chức đại diện nhân dân miền Nam để quyết định tương lai chính trị của miền Nam; Ủy ban “B” cứu xét các vấn đề có liên quan tới ủy ban hòa giải và hòa hợp quốc gia; Ủy ban “C” cứu xét vấn đề quân lực VNCN tại miền Nam Việt Nam; Ủy ban “D” cứu xét các vấn đề tự do dân chủ”[v], để xúc tiến công việc cho sớm đạt tới một giải pháp toàn bộ thay vì bàn tới vấn đề ngưng bắn. Nguyễn Lưu Viên nhấn mạnh rằng các ủy ban này sẽ làm việc song song với nhau tất cả các vấn đề do hai bên nêu ra để cùng đi tới một giải pháp toàn bộ cho mọi vấn đề. Trong phiên họp tiếp theo, lập trường và quan điểm của hai bên không đạt được tiếng nói chung. Chính quyền Sài Gòn không chấp nhận giải pháp ngưng bắn trước mà vẫn đề nghị lập 4 ủy ban để bàn cùng một lúc các vấn đề. Vì thế, trong bản tin Hội nghị giữa hai bên miền Nam Việt Nam đã bình rằng hai bên vẫn chưa đồng thuận về chương trình nghị sự nên vẫn chưa đạt được kết quả nào.

Tháng 10/1973, Hộ nghị Trung ương Đảng họp lần thứ 21 đã ra Nghị quyết xác định vì bản chất của mình, đối phương vẫn âm mưu chia cắt lâu dài nước ta và đối phương đã và đang vi phạm Hiệp định Paris hết sức nghiêm trọng. Thực tiễn tình hình miền Nam lúc đó đang phát triển theo hai khả năng. Một là nhân dân Việt Nam từng bước buộc đối phương phải thi hành Hiệp định, hòa bình được lập lại thật sự và nhân dân miền Nam vượt qua khó khăn phức tạp để hoàn thành độc lập, dân chủ. Khả năng thứ 2 là do đối phương phá hoại Hiệp định nên “ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn”[vi]. Thực tế miền Nam là ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết, quân dân miền Nam thực hiện tinh thần Hiệp định, trong khi quân Sài Gòn thực hiện các đợt hành quân lấn chiếm lãnh thổ, vì thế, Trung ương Đảng chỉ đạo lực lượng cách mạng miền Nam “phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta”[vii].

Trên mặt trận ngoại giao, quân ta tiếp tục giữ vững lập trường đấu tranh kiên quyết đòi ngưng bắn để thực hiện Hiệp thương Thống nhất miền Nam như quy định của Hiệp định Paris. Trong phiên họp thứ 30 ngày 22/11/1973, Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam – ông Đinh Bá Thi chỉ trích thái độ đàm phán không nghiêm chỉnh của chính quyền Sài Gòn, rằng “Hội nghị Hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam đã bị gián đoạn gần một tháng nay. Nguyên nhân duy nhất như mọi người đều thấy rõ, là chính sách của chính quyền các vị điên cuồng chống lại Hiệp định Paris, được thể hiện bằng những hành động vi phạm ngưng bắn nghiêm trọng ở miền Nam và thái độ thiếu nghiêm chỉnh của các vị tại Hội nghị này”[viii]. Ngày 7/12/1973, trong phiên họp thứ 31, ông Đinh Bá Thi tiếp tục khẳng định những đề nghị của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là hợp tình hợp lý, phản bác những đề nghị vô lý của phái đoàn Sài Gòn: “chúng tôi đã liên tục đưa ra những cái đề nghị hợp tình, hợp lý và rất phù hợp với tình hình thực tế ở miền Nam Việt Nam…Tôi nghĩ rằng những cái đề nghị này là phù hợp với Hiệp định Paris, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay ở miền Nam Việt Nam, nguyện vọng mong muốn làm thế nào để tiếng súng sớm chấm dứt, hòa bình sớm được lập lại thực sự ở miền Nam Việt Nam. Những cái đề nghị của chúng tôi rõ ràng có một cái tình chất khác hẳn những cái đề nghị của các vị. Những cái đề nghị của các vị toàn là những cái nêu ra để mà không giải quyết được gì hết”[ix]. Trong khi tại bàn Hội nghị hiệp thương này, phía chính quyền Sài Gòn lặp đi lặp lại luận điệu của Mỹ vu khống “miền Bắc xâm lược miền Nam”, phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định lập trường “chừng nào các vị còn lập đi lập lại những luận điệu đó để mà che dấu cái chính sách dùng bạo lực để áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam mà chính quyền các vị là những người đã phục vụ chính sách đó thì chừng đó những cuộc thương lượng giữa hai bên miền Nam Việt Nam không thể tiến triển được và trách nhiệm thuộc về phía các vị” [x].

Vấn đề Hiệp thương, giải quyết các vấn đề miền Nam để lập lại hòa bình cho nhân dân miền Nam đang được các bên bàn thảo trên bàn Hội nghị tại La Selle Saint Cloud, trong khi ở Việt Nam, chính quyền Sài Gòn liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quyét, lấn chiếm vùng giải phóng để đảm bảo cho cái họ gọi là “an ninh lãnh thổ”. Bởi vì sự ngoan cố, và cố tình kéo dài chiến tranh hòng xoay chuyển tình thế ở miền Nam Việt Nam, các thảo luận trong 39 phiên họp không đạt được điểm chung nào giữa đại diện hai bên miền Nam Việt Nam. Trong phiên họp thứ 39 ngày 1/2/1974, phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thất vọng trả lời rằng không thể có Tổng tuyển cử thật sự tự do dân chủ được, vì Hoa Kỳ còn tiếp tục dính líu quân sự, can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam, tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn. Phía chính quyền Sài Gòn còn đeo đuổi chính sách leo thang chiến tranh, phủ nhận việc tại miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng vũ trang.

Hai bên tiếp tục tranh luận, tố cáo lẫn nhau suốt trong các phiên họp tiếp theo. Ngày 12/4/1974, phiên họp thứ 47, phái đoàn Sài Gòn bỏ họp và bốn ngày sau, họ tuyên bố đình chỉ Hội nghị Hiệp thương vô thời hạn. Ngày 15/4/1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng tuyên bố ngưng các cuộc đàm phán tại La Selle Saint Cloud.

Biện pháp hiệp thương thống nhất để kết thúc chiến tranh Việt Nam không thành bởi sự ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh của chính quyền Thiệu. Vì thế, không còn cách nào khác, Trung ương Đảng và nhân dân Việt Nam phải tiếp tục đấu tranh cách mạng. Vấn đề giải phóng miền Nam được bàn trong Hội nghị Bộ Chính trị từ ngày 30/9/1974 đến 7/10/1974 và tiếp tục được bàn trong Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng từ 18/12/1974 đến 8/1/1975. Bộ Chính trị đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm nhưng nhấn mạnh cả năm 1975 là thời cơ và chỉ rõ nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tranh thủ thời cơ thực hiện Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa, phải đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa…, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.

Trên cơ sở chỉ đạo chiến lược, vấn đề chọn chính xác phương hướng và mục tiêu chiến lược trở thành nhân tố quyết định thắng lợi. Bộ Tổng tư lệnh đã lấy chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu vì ta xác định ở chiến trường này lực lượng địch tương đối mỏng. Đó là điểm tạo thế để quân ta có khả năng phát triển về phía Nam, chia cắt miền Trung. Trên cơ sở xác định hướng tiến công chiến lược, quân dân ta chọn đòn điểm huyệt đánh vào Ban Mê Thuột làm cho đối phương hoàn toàn bất ngờ về chiến lược và chiến dịch. Vì thế, quân dân miền Nam giành thắng lợi nhanh chóng. Chiến thắng này tạo bước ngoặt chiến tranh. Nhận rõ tình hình mới này, Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trước mùa mưa 1975. Để hoàn thành nhiệm vụ to lớn là giải phóng Sài Gòn – Gia Định – sào huyệt cuối cùng của đối phương, nhiệm vụ đặt ra trước mắt là phải tiến hành chiến dịch đánh chiếm Huế – Đà Nẵng, tiêu diệt Quân đoàn I của quân đội Thiệu và lực lượng cơ động chiến lược của chính quyền Sài Gòn ngăn sự co cụm về Sài Gòn của họ. Thắng lợi chiến dịch Huế – Đà Nẵng góp phần làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng chiến lược, mở ra điều kiện để tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Trên đà thắng lợi, chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn – Gia Định được Bộ Chính trị phê duyệt. Chỉ từ 26/4/1975 đến 30/4/1975, quân và dân miền Nam đã tiêu diệt hoàn toàn trung tâm đầu não của chính quyền Sài Gòn, bắt gọn bộ sậu lãnh đạo, xóa sổ hoàn toàn âm mưu chia cắt đất nước ta.

Như vậy, những cố gắng để kết thúc cuộc chiến tranh bằng giải pháp Hiệp thương Thống nhất như quy định của Hiệp định Paris đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thực hiện. Trong suốt 47 phiên họp kéo dài từ ngày 19/3/1973 đến 15/4/1974 tại La Selle Saint Cloud, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tranh luận, đấu trí với đối phương nhằm thực hiện điều khoản ngưng bắn và Hiệp thương Thống nhất không thành công vì vấp phải bản chất ngoan cố và âm mưu chia cắt Việt Nam lâu dài của chính quyền Thiệu. Cho nên, để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Nam – Bắc một nhà, không còn con đường nào khác là phải tiếp tục thực hiện chiến tranh cách mạng. Quyết định Tổng tiến công và nổi dậy của Trung ương Đảng đúng đắn đưa đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, chấm dứt hoàn toàn âm mưu kéo dài chiến tranh, chia đôi đất nước; là bàn đạp để Việt Nam tiến lên thống nhất, hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Trần Thị Vui

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[i] Hồ sơ 1235, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[ii] Hồ sơ 1310, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[iii] Hồ sơ 1318, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[iv] Hồ sơ 1247, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[v] Hồ sơ 1242, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[vi] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập tập 34 (1973), Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004, tr.227.

[vii] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập tập 34 (1973), Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004, tr.237.

[viii] Hồ sơ 1250, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[ix] Hồ sơ 1250, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[x] Hồ sơ 1250, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *