Trang chủ / Công bố tài liệu / Hiệp định Genève Việt Nam năm 1954 và “cơ hội” cho Hoa Kỳ áp đặt chủ nghĩa thực dân ở miền Nam Việt Nam

Hiệp định Genève Việt Nam năm 1954 và “cơ hội” cho Hoa Kỳ áp đặt chủ nghĩa thực dân ở miền Nam Việt Nam

Ngày 8-5-1954, một ngày sau thắng lợi vĩ đại của quân dân Việt Nam tại Điện Biên Phủ, vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương trở thành nội dung nghị sự của Hội nghị Genève (Thụy Sĩ) – hội nghị khai mạc ngày 26-4-1954 để bàn về vấn đề đình chỉ chiến sự tại Triều Tiên. Tham dự Hội nghị Genève về Đông Dương gồm 9 phái đoàn: Phái đoàn Campuchia do Tep Phan – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, làm trưởng đoàn; Phái đoàn Lào do Phoui Sananikone – Phó Thủ tướng, trưởng đoàn; Phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn; Phái đoàn Pháp do Georges Bidault (từ tháng 6-1954 là M. Mendès-France); Phái đoàn Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Chu Ân Lai[1], làm trưởng đoàn; Phái đoàn Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết do Molotov – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, làm trưởng đoàn; Phái đoàn Vương quốc Anh do Anthony Eden – Ngoại trưởng, làm trưởng đoàn; Phái đoàn Hoa Kỳ do Bedell Smith (từ tháng 7-1954 là Alexis Johnson – Đại sứ Hoa Kỳ tại Tiệp Khắc), làm trưởng đoàn; Phái đoàn Quốc gia Việt Nam do Trần Quốc Định (từ tháng 7-1954 là Trần Văn Đỗ – Bộ trưởng Ngoại giao), làm trưởng đoàn[2].

“Đột ngột” được triệu tập sau thất bại của quân đội Pháp – đại diện cho chủ nghĩa thực dân, trước quân dân một nước xã hội chủ nghĩa non trẻ – được coi là biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc thế giới; trong thế đối địch căng thẳng giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; trong thế các cường quốc tự cho mình trách nhiệm tổng hòa quan hệ quốc tế, can thiệp trực tiếp vào nội bộ và điều chỉnh các quốc gia khác theo một quỹ đạo do họ đặt ra – mà sự phân chia hai miền Triều Tiên dường như đã trở thành một “mẫu hình”; vì vậy Hội nghị Genève về Đông Dương sớm trở thành nơi “phân chia” quyền lực và lợi ích của các cường quốc ở khu vực Đông Nam á, hơn là mục tiêu tốt đẹp như được khẳng định ngay trong tên gọi của Hội nghị – “Hội nghị Genève về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương[3].

Ở đó, các cường quốc (Hoa Kỳ, Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Anh), dù không phải là một bên tham gia chiến cuộc ở Đông Dương, nhưng lại có vai trò rất lớn, tác động đến kết quả của cuộc đàm phán giữa Pháp và ba nước Đông Dương, đặc biệt là vai trò của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ – cường quốc mới nổi sau chiến tranh thế giới lần thứ II, tự nhận có “vai trò và trách nhiệm” lãnh đạo các nước tư bản chủ nghĩa chống lại hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh mẽ ở Á, Phi, Mĩ-latinh.

Ở khu vực Đông Nam á, Việt Nam được coi là tiền đồn của chủ nghĩa xã hội và “quân cờ” then chốt trong học thuyết Domino của Hoa Kỳ. Do đó, ngay từ đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, trước nguy cơ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương, Hoa Kỳ trợ giúp quân đội Pháp duy trì cuộc chiến và từng bước can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Tháng 12-1953, giải thích về việc viện trợ cho quân đội Pháp trong cuộc chiến ở Đông Dương, Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower đã “thẳng thắn” bảy tỏ: đó là cách tốt nhất để ngăn chặn một cách rẻ tiền nhất các sự kiện có thể gây ra những hậu quả khủng khiếp đối với Hoa Kỳ. Song, những “nỗ lực” của Hoa Kỳ đã không cứu vớt được sự thất bại nặng nề của quân đội Pháp ở Đông Dương.

Đầu tháng 5-1954, thời điểm quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện những cuộc tiến công cuối cùng tiêu diệt cứ điểm Điện Biên Phủ, chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam á thông qua quân đội Pháp của Hoa Kỳ bị thất bại. Để cứu vãn, Hoa Kỳ buộc phải thay đổi sách lược, chuyển sang mưu đồ hất cẳng thực dân Pháp để trực tiếp nắm quyền cai trị miền Nam Việt Nam. Ngày 18-5-1954 tại Genève, đại diện phái đoàn Hoa Kỳ tiếp xúc với Ngô Đình Luyện – em trai Ngô Đình Diệm, thành viên phái đoàn Quốc gia Việt Nam tại Hội nghị Genève, truyền đạt ý đồ đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn lập chính quyền tay sai thực dân mới ở miền Nam Việt Nam của Washington. Ngày 24 và 25-5-1954, tại Paris, xác nhận lại lần cuối lập trường của “quân bài” mới, Đại sứ Hoa Kỳ Dillon được chỉ thị tiếp xúc với Ngô Đình Diệm. Ngày 16-6-1954, dưới áp lực của Hoa Kỳ, Bảo Đại lấy tư cách là Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam, ký Sắc lệnh số 38-QT bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng. Ba ngày sau, Bảo Đại ký tiếp Dụ số 15 trao cho Diệm toàn quyền cả về dân sự lẫn quân sự[4]. Ngày 25-6-1954, Ngô Đình Diệm về Sài Gòn và nhanh chóng thiết lập nội các tay sai chủ nghĩa thực dân mới đầu tiên ở miền Nam Việt Nam vào ngày 6-7-1954.

Song song với việc tạo dựng một chế độ tay sai ở miền Nam Việt Nam, tại Genève, phái đoàn Hoa Kỳ được chỉ thị tiếp xúc và “mặc cả” với các cường quốc phe xã hội chủ nghĩa nhằm tạo tính hợp pháp cho cái gọi là Quốc gia Việt Nam; đồng thời, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam.

Ngày 3-5-1954, tại Genève, ngoại trưởng 3 quốc gia Hoa Kỳ, Pháp, Anh và phái đoàn Quốc gia Việt Nam họp chuẩn bị cho Hội nghị Genève về Đông Dương. Báo cáo của chính quyền Quốc gia Việt Nam ngày 7-5-1954 cho thấy, đến thời điểm ngày 3-5-1954, Hoa Kỳ và các nước phương Tây đã đạt được thỏa thuận cho phái đoàn Quốc gia Việt Nam tham dự Hội nghị Genève với tư cách một bên trong cuộc chiến; đồng thời, theo sự thỏa thuận đó, Hoa Kỳ và các nước phương Tây cũng phải chấp nhận sự tham dự của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa với tư cách tương tự[5].

Tại diễn đàn Hội nghị Genève, trong khi các thành viên tham dự nhanh chóng đi đến thống nhất việc đình chỉ hoàn toàn chiến sự ở Đông Dương, thì Bedell Smith – đại diện phái đoàn Hoa Kỳ lại đặt ra điều kiện tiên quyết cho việc giải quyết vấn đề Việt Nam (ông ta cũng không ngần ngại nhấn mạnh rất rõ ràng rằng mối quan tâm hàng đầu của Hoa Kỳ tại thời điểm này là vấn đề Việt Nam[6]): 1. Tập kết lực lượng chính quy của các bên tham chiến trong một khu vực quy định; 2. Giải trừ quân bị các lực lượng vũ trang không chính quy[7]. Âm mưu của Hoa Kỳ trong việc đưa ra các điều kiện trên là nhằm buộc Quân đội nhân dân Việt Nam phải thực hiện chuyển quân, tập kết về miền Bắc và các lực lượng vũ trang cách mạng (dân quân, du kích,…) ở miền Nam Việt Nam phải giải thể, tạo lợi thế cho chính quyền Ngô Đình Diệm sau khi ký kết hiệp định đình chiến.

Đồng thời, bằng một số nhượng bộ về giải trừ vũ khí hạt nhân và quyền lợi về kinh tế, Hoa Kỳ âm mưu chia đôi lãnh thổ Việt Nam với việc “mặc cả” có được một điều khoản quy định về đường giới tuyến phân chia hai miền Nam – Bắc Việt Nam trong hiệp định; cũng như cố gắng đạt được thỏa thuận loại bỏ việc tổ chức cuộc tổng tuyển cử ở Việt Nam (quy định mà phái đoàn Hoa Kỳ dễ dàng chấp nhận đối với Lào và Campuchia).

Với âm mưu và hành động có toan tính từ trước của Hoa Kỳ, ngày 21-7-1954, Hội nghị Genève về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương bế mạc với kết quả là ba bản hiệp định (Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam; Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Lào; Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Campuchia) và bản Tuyên bố cuối cùng của các nước tham gia hội nghị.

Đối với vấn đề Việt Nam, ở chừng mực nhất định, Hoa Kỳ đã đạt được một số mục tiêu đề ra, nhất là quy định về giới tuyến quân sự và kéo dài thời hạn tổ chức tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam từ 1 năm (như quy định đối với Lào và Campuchia vào năm 1955) tới 2 năm.

Song, dù chịu sức ép từ nhiều phía, nhưng với lập trường kiên định “độc lập dân tộc, thống nhất lãnh thổ”, phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đã đạt được những thắng lợi cơ bản, góp phần đánh bại ngay từ bước đầu âm mưu áp đặc chế độ thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương ngày 21-7-1954, đã phải khẳng định rõ ràng:

Tại điều 6: Hội nghị ghi nhận Hiệp định về đình chỉ chiến sự tại Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề quân sự, chấm dứt chiến tranh và rằng, đường phân định ranh giới quân sự chỉ là tạm thời, và không được xem là ranh giới lãnh thổ hay chính trị. Hội nghị cũng chắc chắn rằng, cácc điều khoản về chính trị ở Việt Nam được nêu ra trong bản tuyên bố và Hiệp định đình chiến sẽ được thực thi trong một tương lại gần.”.

Điều 7 rằng: Hội nghị tuyên bố, việc giải quyết các vấn đề chính trị ở Việt Nam – chủ yếu là vấn đế độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ – sẽ cho phép dân tộc Việt Nam được tự do, đảm bảo thể chế dân chủ thông qua tổng tuyển cử tự do bằng hình thức bỏ phiếu kín. Để việc tái lập hòa bình được tiến triển và tập hợp được các điều kiện cần thiết nhằm thể hiện ý nguyện của quốc gia, cuộc tổng tuyển cử dự kiến diễn ra vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiêm soát của một Ủy hội quốc tế bao gồm các thành viên đại diện các quốc gia trong Ủy hội quốc tế giám sát và kiểm soát. Việc thảo luận về vấn đề tổng tuyển cử sẽ diễn ra giữa các nhà lãnh đạo, đại diện hai miền từ ngày 20-7-1955”[8].

Những quy định trên cùng với việc Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam chỉ được ký kết bởi đại diện chính phủ Pháp và đại diện chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thể hiện rõ ràng rằng, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước được khai sinh từ cuộc cách mạng đánh bại thực dân phát xít của dân tộc Việt Nam và có sự kế thừa lịch sử từ triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp duy nhất ở Việt Nam. Vì vậy, cuộc tổng tuyển cử theo quy định phải được hiểu là một cuộc bỏ phiếu dân chủ của nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp, thành phần chính trị, xã hội ở Việt Nam vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Trong đó, cái gọi là Quốc gia Việt Nam chỉ như một thành phần chính trị, xã hội và tham gia cuộc tổng tuyển cử cũng với tư cách đó.

Đó là thắng lợi to lớn của quân dân một nước nhỏ trên bàn đàm phán dưới áp lực từ nhiều phía. Nó góp phần làm phá sản bước đầu âm mưu của Hoa Kỳ nhằm tạo tính hợp pháp cho chính quyền Ngô Đình Diệm, tạo ra một quốc gia riêng biệt ở miền Nam Việt Nam sau khi Hiệp định được ký kết. Chính vì vậy, là các bên tham gia đàm phán, nhưng ngay sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Hoa Kỳ và chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên bố “không bị ràng buộc” bởi hiệp định; đồng thời, trắng trợn từ chối tổng tuyển cử thống nhất đất nước và ra sức thiết lập ở miền Nam Việt Nam một chế độ tay sai thực dân mới, hướng mũi nhọn vào đàn áp, khủng bố những phong trào cách mạng và quần chúng yêu nước miền Nam, gây nên cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc nhất và kéo dài nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh của thế kỷ XX.

Hà Kim Phương – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II

Nguồn: archives.gov.vn

Chú giải

[1] Theo Danh sách các phái đoàn tham dự Hội nghị Genève về Đông Dương ngày 14-7-1954, Trưởng phái đoàn Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là Li Ke Nung – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

[2] Danh sách các phái đoàn tham dự Hội nghị Genève về Đông Dương ngày 14-7-1954, hồ sơ F02-45, phông Phủ Thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[3]Conférence de Genève sur problème du rétablissement de la paix en Indochine”, Tuyên bố cuối cùng ngày 21-7-1954: hồ sơ F02-45, phông Phủ Thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

[4] Ordonne N0 15 du 19 juin 1954, Sa Majeste Bao Dai – Chef  de l’Etat du Vietnam, hồ sơ 3916, phông Phủ Tổng thống đệ nhất cộng hòa, Trung taâm Löu tröõ Quoác gia II.

[5] Télégramme officiel N0 66-DT/BTT, Saigon, le 7 Mai 1954 Ministere de l’Information Etat du Vietnam, sơ F02-45, phông Phủ Thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

[6] Bản văn tiếng Pháp bài phát biểu của Bedell Smith trong phiên họp ngày 25-5-1954: “Je me suis occupé exclusivement du problème du Vietnam parce que j’avais compris que nous en avions ainsi décidé” (hồ sơ F02-45, phông Phủ Thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II).

[7] Bản văn tiếng Pháp bài phát biểu của Bedell Smith trong phiên họp ngày 25-5-1954: “1. Retrait dans des zones déterminées des forces régulières au Vietnam; 2. Désarmement et dissolution des forces irrégulières” (hồ sơ F02-45, phông Phủ Thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II).

[8] hồ sơ F02-45, phông Phủ Thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *