Trang chủ / Tài liệu lưu trữ / Luận văn | Luận án / Luận văn: Biến đổi kinh tế – xã hội và vấn đề nghèo đói của dân tộc thiểu tại chỗ ở Đắk Lắk trong 20 năm đổi mới (1986-2006)

Luận văn: Biến đổi kinh tế – xã hội và vấn đề nghèo đói của dân tộc thiểu tại chỗ ở Đắk Lắk trong 20 năm đổi mới (1986-2006)

1. LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI

Đắk Lắk là một trong năm tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên là địa bàn có vai trò chiến lược về kinh tế, xã hội – an ninh chính trị của cả nước; là vùng giàu tiềm năng lợi thế để phát triển kinh tế – xã hội, trong đó thế mạnh về các cây công nghiệp, chế biến lâm sản và một số khoáng sản có giá trị kinh tế cao; là mảnh đất có ¼ dân số là các DTTS tại chỗ sinh sống lâu đời, có truyền thống đoàn kết gắn bó, có ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh giải phóng dân tộc; là nơi có nền văn hóa dân tộc vừa phong phú, vừa đa dạng, mang bản sắc riêng.

Sau 20 năm đổi mới (1986-2006), kinh tế – xã hội Đắk Lắk đã có bước phát triển, bước đầu phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, mở rộng sản xuất hàng hóa, đời sống đồng bào dân tộc từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đến nay đời sống của đồng bào DTTS tại chỗ nói chung, dân tộc Ê-đê và Gia-rai nói riêng của tỉnh vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của vùng, phát triển kinh tế còn mang tính tự phát chưa theo quy hoạch; tỷ lệ đói nghèo còn cao và chưa bền vững; trình độ dân trí thấp và chưa được cải thiện; tri thức sử dụng tài nguyên rừng đang đứng trước nguy cơ mai một; cơ sở hạ tầng còn yếu kém, lạc hậu và sự hưởng lợi các chương trình phúc lợi chưa chưa cao; phân hóa giàu nghèo diễn ra gay gắt giữa thành thị và nông thôn, giữa người Kinh với các dân tộc thiểu số; văn hóa truyền thống có nguy cơ bị xói mòn mất bản sắc, gây sự hụt hẫng, đứt đoạn….

Có thể nói nghèo đói là một trong những nguyên nhân để cho các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng tuyên truyền, kích động chống phá khối đại đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, vấn đề nghèo đói lại đang đặt ra cùng với những vấn đề kinh tế – xã hội cấp bách hiện nay của DTTS tại chỗ tỉnh Đắk Lắk nói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung như: vấn đề di dân, vấn đề sở hữu và sử dụng dất đai; vấn đề tôn giáo, trong đó nổi cộm nhất là đạo Tin Lành; vấn đề quan hệ dân tộc…. Tất cả tạo nên những nguy cơ tiềm ẩn gây mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình phát triển chung của tỉnh, của vùng.

Trước tình hình trên, việc tìm hiểu “Biến đổi kinh tế – xã hội và vấn đề nghèo đói của dân tộc thiểu tại chỗ ở Đắk Lắk trong 20 năm đổi mới (1986-2006), làm đề tài luận văn, nhằm nhìn lại những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của DTTS trong 20 năm đổi mới (1986-2006), từ đó đánh giá thực trạng nghèo đói để đề xuất giải pháp giảm nghèo phù hợp và hiệu quả nhất đối với các DTTS bản địa, góp phần thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng. Như vậy, vấn đề phát triển kinh tế – xã hội và xóa đói giảm nghèo cho các DTTS là đòi hỏi mang tính cấp thiết và bức xúc đặt ra ở không chỉ ở Đăk Lăk mà cả Tây Nguyên. Bởi lẽ, không chỉ nhằm thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà còn góp phần bảo vệ môi trường sống và an ninh quốc phòng của cả nước.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là người Ê-đê và Gia-rai – DTTS tại chỗ cư trú tại 2 xã: Ea Sol và Ea Nam, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk. Nhưng luận văn không nghiên cứu chung toàn diện về 2 cộng đồng dân tộc này, mà chỉ tập trung nghiên cứu về những biến đổi kinh tế – xã hội và thực trạng nghèo đói của cộng đồng người Ê-đê, Gia-rai trong 20 năm đổi mới (1986-2006). Qua đó, tìm hiểu những thành tựu cũng như những mặt còn tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc Ê-đê và Gia-rai; tìm hiểu thực trạng đói nghèo của 2 dân tộc này để tìm ra những nguyên nhân đói nghèo, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm xóa đói giảm nghèo bền vững, đưa đời sống kinh tế – xã hội đồng bào DTTS tại chỗ nói chung, dân tộc Ê-đê, Gia-rai nói riêng ngày càng ấm no, giàu mạnh, góp phần giữ gìn an ninh quốc phòng.

2.2. Phạm vi nghiên cứu

– Thời gian nghiên cứu:

Từ năm 1986, đất nước nói chung, tỉnh Đắk Lắk nói riêng bước vào công cuộc đổi mới, đã tạo nên sự chuyển biến sâu sắc về kinh tế – xã hội. Trong suốt quá trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Đắk Lắk, DTTS tại chỗ là cộng đồng tộc người chịu sự tác động nhiều nhất. Do đó, chọn mốc thời gian qua 20 năm đổi mới (1986-2006), nhằm tìm hiểu những biến đổi kinh tế – xã hội của DTTS tại chỗ, trong đó người Ê-đê và Gia-rai.

– Không gian nghiên cứu:

Không gian nghiên cứu luận văn là huyện Ea H’leo, trong đó địa bàn khảo sát gồm 2 xã có cư trú chủ yếu của người Ê-đê tại xã Ea Nam và người Gia-rai tại xã Ea Sol.

– Các lĩnh vực thuộc phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu một vùng dân tộc cụ thể là dân tộc Ê-đê và Gia-rai ở Đắk Lắk sẽ bao gồm nhiều vấn đề, nhưng trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ tìm hiểu những biến đổi kinh tế- xã hội và thực trạng đói nghèo của 2 cộng đồng tộc người này trong thời gian 1986-2006. Do đó, chỉ đề cập đến những yếu tố trực tiếp tác động đến sự biến đổi về kinh tế – xã hội của 2 dân tộc tại chỗ như: điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, sự phân bố dân cư, thành phần dân tộc, các chính sách của Nhà nước từ bắt đầu đổi mới năm 1986 đến 2006, những kết quả về phát triển kinh tế- xã hội… từ đó tìm hiểu về thực trạng đói nghèo của DTTS tại chỗ.

3. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Vùng Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng là nơi rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước chọn địa bàn nghiên cứu từ trước năm 1975 cho đến hiện nay. Trong đó, đối tượng là các cộng đồng DTTS tại chỗ được nghiên cứu nhiều nhất trên mọi mặt về văn hóa-xã hội như tôn giáo, tín ngưỡng, quá trình lịch sử tộc người, phong tục tập quán,v.v… cũng như về phát triển kinh tế của các cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa.

Trong thời thuộc Pháp, có lẽ tác phẩm viết về DTTS tại chỗ sớm nhất của các nhà nghiên cứu Pháp như: công trình khảo cứu của nhà thám hiểm người Pháp Henri Maitre với tựa đề “Các xứ thượng ở miền Nam Đông Dương: cao nguyên Đắc Lắc”. Trong tác phẩm này, Henri Maitre đã mô tả về đời sống xã hội, kinh tế, tôn giáo, phong tục tập quán, v.v…. của hai dân tộc Êđê và M’nông. Tác phẩm này là nguồn tài liệu rất có giá trị, mô tả khá chân thực về cuộc sống của hai dân tộc này trong những năm đầu thế kỷ XX. Bên cạnh công trình của Maitre, nổi bật hơn cả là công trình bộ “Luật tục” (Bi duê) của Sabatier tiến hành sưu tập, biên soạn lại vào năm 1915 và sau đó được chính thức thông qua và sử dụng tại Toà án phong tục tỉnh Đắc Lắc trong một thời gian tương đối dài. Cùng với công trình của Maitre, Sabatier, còn có một công trình rất có giá trị khoa học và tư liệu đó là cuốn “Người Rhadê, một xã hội mẫu quyền” của nhà dân tộc học người Pháp Anna de Hauteclocque – Howe, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về xã hội mẫu hệ Êđê trong phạm vi buôn. Tuy nhiên, tất cả công trình này thường nghiên cứu về phong tục tập quán, tổ chức xã hội… của các DTTS tại chỗ trong những năm đầu thế kỷ XX.

Từ 1950 đến 1975, ở miền Nam có tương đối nhiều các công trình nghiên cứu giới thiệu về các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung và địa bàn Đắk Lắk nói riêng. Đáng chú ý nhất là các công trình của Cửu Long Giang và Toan Ánh “Cao Nguyên miền Thượng” Sài Gòn 1974, Nguyễn Trắc Dĩ  “Các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam” Sài Gòn 1970, Lâm Đình, Lê Thêm,v.v…. Tuy nhiên, tất cả các công trình này chỉ miêu tả một cách khái quát về đời sống của đồng bào các DTTS tại chỗ, không đi sâu vào từng dân tộc cụ thể.

Từ sau năm 1975, có thể nói nghiên cứu về các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên nói chung và người Ê-đê, Gia-rai nói riêng mới tiến hành một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc hơn. Trước hết phải kể đến công trình của Viện Dân tộc học “Các dân tộc ít người ở Việt Nam” các tỉnh phía Nam được NXB KHXH cho ra đời năm 1981, tiếp theo là công trình “Đại cương các dân tộc Ê-đê, M’nông ở Đắc Lắc” của nhóm các cán bộ nghiên cứu Viện Dân tộc học do giáo sư  Bế Viết Đẳng chủ biên được NXB KHXH xuất bản năm 1984, công trình “Văn hoá dân gian E-đê” (năm 1992) do giáo sư Ngô Đức Thịnh chủ biên là một chuyên khảo về văn hoá của người Ê-đê; “Gia đình và hôn nhân truyền thống các dân tộc Malayô – Pôlynêxia Trường Sơn – Tây Nguyên” (năm 1994) của Vũ Đình Lợi. Luận án tiến sỹ của Thu Nhung Mlô Duôn Du đề tài “Người phụ nữ E-đê trong đời sống xã hội và tộc người”. Tuy nhiên, trong công trình này các nhà nghiên cứu cũng chỉ giới thiệu một cách khái quát, tổng quan các DTTS tại chỗ trên các phương diện kinh tế, xã hội, hôn nhân gia đình, phong tục tập quán, văn hóa..

Đặc biệt những năm gần đây, trong bối cảnh quốc tế và khu vực đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở nâng cao đời sống kết hợp với bảo vệ môi trường, vấn đề giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số được coi là đối tượng quan trọng của nhiều chương trình, dự án giảm nghèo ở nước ta.

Những công trình trước, nghiên cứu chung về kinh tế – xã hội và xóa đói giảm nghèo của nhiều vùng dân tộc thiểu số trong cả nước rất phong phú, nhưng số công trình trực tiếp nghiên cứu về biến đổi kinh tế – xã hội và xóa đói giảm nghèo của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên cũng như Đắk Lắk còn quá ít ỏi. Riêng chỉ có Luận án PTS Khoa học Lịch sử của Nguyễn Văn Diệu (1992) về Những biến đổi kinh tế – xã hội ở các dân tộc Ê-đê, M’Nông tỉnh Đắk Lắk, nhưng chỉ nhìn ở góc độ lịch sử, công trình này chỉ nghiên cứu về những biến đổi kinh tế – xã hội của hai dân tộc Ê – đê và M’Nông giai đoạn 1945 đến 1990 và không nhấn mạnh vấn đề nghèo đói cũng như các giải pháp xóa đói giảm nghèo của DTTS tại chỗ.

Trong nước:

– Đáng chú ý là các cơ quan nghiên cứu của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, Tổng cục Thống kê, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Uy Ban dân tộc, Ban xóa đói giảm nghèo các tỉnh Tây Nguyên, Trường Đại học Đà Lạt. Cụ thể:

 Uy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1986), Một số vấn đề kinh tế – xã hội Tây Nguyên, Nxb. KHXH, Hà Nội; Uy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1989), Tây Nguyên trên đường phát triển, Nxb. KHXH, Hà Nội; Uy ban khoa học xã hội Việt Nam (1990), Vấn đề phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc thiểu số ở Đăk Lăk, Nxb. KHXH, Hà Nội; Văn phòng Chương trình Quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm (2002), Một số vấn đề xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, báo cáo tại Hội thảo Một số vấn đề giảm nghèo dân tộc thiểu số tại Hà Nội, 3.2002; Trung Tâm KHXH&NV Quốc gia (2002), Một số vấn đề phát triển kinh tế –xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, Nxb. KHXH, v.v…

  • Cùng với các cơ quan nhà nước, quan tâm đến kinh tế –xã hội và đói nghèo của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung và Đăk Lăk nói riêng còn có khá nhiều cá nhân các nhà nghiên cứu trong nước. Cụ thể:

Phạm Quang Hoan, Vũ Đình Lợi (1986), “Gia đình ở các dân tộc Tây Nguyên” trong Một số vấn đề kinh tế –xã hội Tây Nguyên, Nxb. KHXH, Hà Nội; Một số vấn đề kinh tế –xã hội Tây Nguyên (1986), Nxb. KHXH, Hà Nội; Bùi Minh Đạo (1986), Một vài vấn đề cải tạo và phát triển các hình thái kinh tế truyền thống Tây Nguyên, Nxb. KHXH, Hà Nội; Ngô Đức Thịnh (1989), Về sự phát triển kinh tế –xã hội trong các dân tộc ít người ở Đăk Lăk, trong Tây Nguyên trên đường phát triển, Nxb. KHXH, Hà Nội; Nguyễn Văn Diệu (1992), Những biến đổi kinh tế –xã hội ở các dân tộc Ê-đê, M’Nông tỉnh Đăk Lăk, Luận án PTS Khoa học Lịch sử; Nguyễn Văn Tiêm (1998), Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện dự án điều tra, đánh giá tác động của quá trình phát triển kinh tế –xã hội đến đời sống  của các dân tộc bản địa Tây Nguyên trong những năm đổi mới; Nguyễn Tuấn Triết (chủ nhiệm đề tài) (2000), Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học “Một vấn đề về hiện trạng kinh tế – xã hội Tây Nguyên”, Viện KHXH tại Tp. HCM; Hà Quế Lâm (2002), Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp, Nxb. Chính trị Quốc gia; Bùi Minh Đạo (2002), Một số kinh nghiệm triển khai, phương pháp PRA trong nghiên cứu giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số rừng núi Việt Nam (áp dụng cho vùng sâu vùng xa), trong Sách “Nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn từ cách tiếp cận vi mô), Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội; Bùi Minh Đạo (2002), Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng hóa thu nhập trong phát triển sản xuất nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ở buôn làng Tây Nguyên, trong sách “Một số vấn đề phát triển kinh tế –xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên, Nxb. KHXH, Hà Nội; Bùi Minh Đạo (cb) (2003), Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb. KHXH, Hà Nội, v.v…

Về tổ chức nước ngoài, đáng chú ý là các nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan (VNRP),…. Trong đó, đáng chú ý dự án “Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Đắk Lắk, năm 2003” của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), dự án này cũng đã tìm ra thực trạng nghèo đói và những nguyên nhân đói nghèo cũng như những giải pháp XĐGN cho đối tượng là DTTS, trong đó đề cao phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân.

 4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

+ Ý nghĩa khoa học

Vận dụng lý thuyết về Nhân học Kinh tế, lý thuyết về phân tầng xã hội và giảm nghèo vào việc nghiên cứu cụ thể về biến đổi kinh tế – xã hội và giảm nghèo ở các dân tộc bản địa Đăk Lăk.

Từ việc nghiên cứu về thực trạng biến đổi kinh tế – xã hội và giảm nghèo của các dân tộc thiểu số bản địa ở Đăk Lăk, xác định luận cứ khoa học cho sự phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

+ Ý nghĩa thực tiễn

5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 

5.1. Cơ sở lý luận

Để tiếp cận và nghiên cứu đề tài, tác giả đã vận dụng những nguyên tắc cơ bản của lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như những văn kiện của Đảng về chính sách dân tộc và mối đại đoàn kết dân tộc.

Lý thuyết nghiên cứu: nhân học kinh tế, phần tầng xã hội và nghèo đói của nhân học và các tổ chức quốc tế.

5.2. Giả thuyết nghiên cứu

Qua việc tìm hiểu về mặt lý thuyết và tài liệu liên quan, tác giả đưa ra giả tuyết: trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Tây Nguyên, cộng đồng các dân tộc bản địa rơi vào tình trạng đói nghèo cao hơn cả vì mấy lý do sau: trình độ phát triển kinh tế – xã hội kém khi bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với nhiều điều kiện về những yếu tố văn hóa, giáo dục trong quá trình thích nghi còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế.

6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Điền dã dân tộc học: tiến hành khảo sát thực tế tại các xã ở Đăk Lăk, với phương pháp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi, phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của nhóm dân tộc bản địa (PRA) (bao gồm cả định lượng và định tính).

Đồng thời, tác giả cũng vận dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp thống kê trên cơ sở kế thừa những tài liệu thành văn, báo cáo của các chương trình, dự án trong và ngoài nước có liên quan vào nghiên cứu, phân tích, giải quyết vấn đề.

7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ CỦA TỈNH ĐẮK LẮK

1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên của tỉnh Đắk Lắk

1.2. Đặc điểm dân cư và dân tộc tại chỗ tỉnh Đắk Lắk

1.2.1. Đặc điểm dân cư

1.2.2. Thành phần dân tộc và sự phân bố dân cư tỉnh Đắk Lắk

1.2.3. Khái quát đồng bào dân tộc Ê-đê và Gia-rai tỉnh Đắk Lắk

1.3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.3.1. Tổng quan huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk

1.3.2. Tổng quan xã Ea Sol, huyện Ea H’Leo

1.3.3. Tổng quan xã Ea Nam, huyện Ea H’leo

Chương 2:

BIẾN ĐỔI KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC Ê-ĐÊ, GIA-RAI HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK TRONG 20 NĂM ĐỔI MỚI (1986 –2006)

2.1. Tổng quan kinh tế – xã hội của dân tộc Ê-đê và Gia-rai ở Đăk Lăk trước đổi mới 1986

2.1.1. Đặc điểm kinh tế của đồng bào dân tộc Ê-đê, Gia-rai tỉnh Đắk Lắk trước đổi mới 1986

2.1.2. Đặc điểm xã hội của dân tộc Ê-đê và Gia-rai tỉnh Đắk Lắk trước Đổi mới 1986

2.2. Biến đổi kinh tế – xã hội của dân tộc Ê-đê và Gia-rai huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk sau 20 năm Đổi mới (1986 -2006)

 2.2.1. Tác động của chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế – xã hội các dân tộc tại chỗ tỉnh Đăk Lăk từ sau đổi mới đến nay (1986-2006)

2.2.2.  Tác động của di dân đến đời sống kinh tế – xã hội các dân tộc tại chỗ tỉnh Đắk Lắk

2.2.3. Những biến đổi kinh tế – xã hội của đồng bào dân tộc Ê-đê và Gia-rai huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk  sau 20 năm đổi mới (1986 -2006)

2.2.4. Những mặt còn tồn tại trong sự biến đổi kinh tế – xã hội của đồng bào dân tộc Ê-đê và Gia-rai, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk

Chương 3:

THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA NGƯỜI Ê-ĐÊ VÀ GIA-RAI  Ở TỈNH ĐĂK LĂK

3.1. Khái niệm về nghèo đói và thực trạng nghèo đói của người Ê-đê và Gia-rai tỉnh Đắk Lắk

3.1.1. Khái niệm về nghèo đói

3.1.2.  Đặc điểm đói nghèo ở Việt Nam

3.1.3. Thực trạng nghèo đói của người Ê-đê và Gia-rai tỉnh Đắk Lắk

3.1.4. Nguyên nhân đói nghèo

3.2. Công tác xóa đói giảm nghèo

3.2.1. Một số chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo đối với các hộ đồng bào nghèo Ê-đê và Gia rai tỉnh Đắk Lắk

3.2.2. Kết quả, đánh giá những chính sách xóa đói giảm nghèo của tỉnh Đắk Lắk

3.3.Một số đề xuất và kiến nghị về quan điểm, giải pháp giảm nghèo của người Ê-đê và Gia rai ở Tỉnh Đắk Lắk

3.3.1. Một số quan điểm

3.3.2. Một số giải pháp xóa đói giảm nghèo

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *