Trang chủ / Công bố tài liệu / Góp phần tìm hiểu: Đường Hồ Chí Minh trên biên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1965) – qua tài liệu chính quyền Sài Gòn

Góp phần tìm hiểu: Đường Hồ Chí Minh trên biên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1965) – qua tài liệu chính quyền Sài Gòn

Đường Hồ Chí Minh trên biển đóng một vai trò to lớn, góp phần bảo đảm chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống Đường mòn Hồ Chí Minh, chúng tôi xin giới thiệu tới bạn đọc những tư liệu rất có giá trị chưa mấy được khai thác về Đường Hồ Chí Minh trên biển qua những báo cáo, những bản nghiên cứu… của Bộ Quốc phòng, Trung tâm Tình báo nguỵ quyền Sàigòn hiện đang được lưu trữ tại TTLTQGII.

Binh đoàn 759 thuộc Tổng cục Hậu cần được thành lập vào tháng 7 năm 1959 trực tiếp đảm nhiệm công tác mở đường và vận chuyển hàng hoá và người vào Nam theo tuyến biển. Theo các nhà nghiên cứu vận chuyển trên biển của ta đã hoạt động từ thời chống Pháp nhưng trong kháng chiến Chống Mỹ thì nó mới được khai thác triệt để hơn. Và ý tưởng chi viện cho miền Nam bằng đường biển đã được Đảng ta bàn tới từ năm 1957. Những tài liệu của chính quyền Sàigòn để lại cũng cho thấy việc vận chuyển vũ khí và người vào Nam của Quân giải phóng theo đường biển đã xuất hiện vào năm 1957. Theo tài liệu của Phòng Nhì Bộ Tổng Tư Lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hoà (QLVNCH) thì “miền Bắc đã có hai trạm giao thông phụ trách tình báo: một đặt ở Đồng Hới và một đặt ở Vĩnh Linh. Trạm tình báo Đồng Hới (Quảng Bình) đã hoạt động từ tháng 3 năm 1957 làm nhiệm vụ: liên lạc với cơ sở tình báo VC (Việt Cộng) đặt tại Đà Nẵng để chuyển thư từ, tài liệu, chỉ thị có khi cả cán bộ từ Bắc vào Nam và ngược lại”[1]. Chính quyền Sàigòn cho rằng 1957 – 1960 ta mở đường biển đi vào Nam là để thu thập tin tức hay nói theo cách dùng chữ của tài liệu địch là  “thoả mãn nhu cầu tình báo”[2]. Qua nhiều nguồn tin thu thập được, Phòng Nhì Bộ Tổng Tư Lệnh QLVNCH đã nhận định rằng miền Bắc có một “Toán tình báo đặc biệt được huấn luyện rất kỹ về công tác điệp báo tại trạm Ngọc Hà (thuộc TP.Hà Nội) tổ chức này có nhiệm vụ thiết lập 1 căn cứ giao thông tình báo tại Bà Rịa (Phước Tuy)” [3]. Chúng cũng thống kê được “trong vòng 4 năm, từ 3/1957 đến 6/1961 tổ chức tình báo này đã thực hiện được 27 chuyến liên lạc từ Bắc vào Nam và ngược lại theo lộ trình trên biển” [4].

Từ sau khi bùng nổ Đồng Khởi (1960), miền Nam Việt Nam chuyển hướng sang đấu tranh vũ trang, nhu cầu về nhân lực và quân trang quân dụng cho chiến trường tăng cao vì thế, tuyến vận chuyển trên biển phải tăng công suất hoạt động cùng với nhịp độ vận tải khẩn trương của tuyến đường Trường Sơn. Bộ Tổng Tư Lệnh QLVNCH cho rằng việc tiếp tế cho miền Nam qua đường biển chủ yếu nhắm tới vùng phía Tây Nam miền Nam “số vũ khí đem từ Bắc vào theo ngã này (đường Trường Sơn), có lẽ chỉ để tiếp tế cho lực lượng võ trang hoạt động tại chiến trường Khu V và vùng Cao Nguyên Trung phần”. Còn tại Nam phần do đặc điểm các vùng thuộc lãnh thổ miền Trung và Tây Nam Bộ nằm xa với tuyến tiếp tế đường bộ, cho nên việc tiếp vũ khí đạn dược, nhất là vũ khí nặng cho vùng này chủ yếu được vận chuyển theo đường biển và đường sông”[5].

Giới chức Sàigòn cho rằng Quân giải phóng từ miền Bắc “xâm nhập” vào miền Nam theo đường biển dưới 3 hình thức là “hợp pháp”, “bán hợp pháp” và “bất hợp pháp”.

1. Hợp pháp: “Các ghe thuyền đưa rước cán bộ xâm nhập lẻ tẻ thường di chuyển dưới hình thức “hợp pháp” trên đoạn đường từ Cửa Thuận trở vào với đủ giấy tờ hợp pháp giả mạo. Những thuyền này khi vào tới hải phận tỉnh Thừa Thiên thường chạy theo hải trình của những thuyền buồm miền Nam (cách bờ chừng 5 cây số trở lại) hoặc sinh hoạt như thuyền đánh cá miền Nam” [6]. Những thuyền di chuyển theo hình thức này vì là có giấy tờ hợp lệ, số lượng cán bộ ít lại không mang theo đồ đạc kồng kềnh nên các chuyến tàu này có thể cập bến vào bất cứ nơi nào mà thuyền miền Nam được phép đậu, nhưng vùng đổ bộ thường gần QL.1 hay đường xe lửa xuyên Việt để dễ dàng cho cán bộ di chuyển. Cách thức đổ bộ để che mắt địch là nhập với những ghe hành nghề đánh cá để quẳng lưới thả câu bắt cá chờ tới khi bạn nghề miền Nam kéo buồm vào thì thuyền ta cũng sửa soạn đưa ghe vào nơi bốc hàng. Thể thức này thường được dùng tới khi vùng đổ bộ ở trong địa phận những tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.

2.Bán Hợp pháp: “Những thuyền chở trên nhiều cán bộ hoặc có đồ đạc kồng kềnh không dấu kín được di chuyển dưới hình thức “bán hợp pháp”. Khi vào tới hải phận miền Nam, thuyền thường chạy xa hay gần bờ biển tuỳ theo ngày hay đêm, gió thuận hay nghịch, vùng có kiểm soát chặt hay lõng lẻo, nơi có thuyền miền Nam hành nghề đánh cá hay không. Nhưng những chuyến “bán hợp pháp” thường chỉ được thực hiện từ tháng 11 âm lịch (12 dương lịch) tới tháng 3 âm lịch (tháng 4 hoặc 5 dương) là thời kỳ có gió thuận”[7].

3. Bất hợp pháp: “Những thuyền chở vũ khí quân dụng xâm nhập sẽ sử dụng hình thức “bất hợp pháp”. Hình thức này đã được VC áp dụng khoảng năm 1960 và gia tăng nhịp độ vào những năm 1963 và 1964. Với hình thức xâm nhập bất hợp pháp, VC phải cho thuyền di chuyển ở hải phận quốc tế (cách xa bờ 100 cây số) và cố tránh né lực lượng hải thuyền và các tàu tuần tiễu của ta. Trong trường hợp bất khả kháng chúng có thể cho khai hoả để tiêu diệt hoặc để tìm cách thoát thân”[8]. Để tránh đụng độ với đối phương, các chuyến tàu tiếp vận của ta thường cập bến vào ban đêm, và ra khơi nhanh chóng. Thời gian mà ta trù tính cho các thuyền vào Nam là những chuyến cuối mùa đi biển để có thể kịp trở về Bắc trước khi biển động. Các chuyến tàu thường được thực hiện là: đầu tháng 6 âm lịch có thể đi chuyến chót vào Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu. Nếu thuyền xuất phát từ đầu tháng 7 âm lịch thì có thể vào tới Bình Định, Quảng Ngãi. Còn thuyền xuất phát từ giữa tháng 7 thì chỉ có thể tới Huế, Đà Nẵng, Hội An.

Hành trình trên biển của các con “tàu không số” cũng không cố định. Các tàu, thuyền của Quân giải phóng thường căng buồm vào buổi tối. Khi còn ở Bắc Bến Hải, thuyền được lệnh đi cách bờ chừng 5km trở lại nhưng sẽ xa dần bờ biển khi gần tới Cửa Tùng và bắt đầu chạy xa bờ 100km (thuộc hải phận quốc tế) khi ngang qua Hòn Gió hoặc Hòn Cỏ chạy cho tới khi nhìn thấy một trong 3 địa điểm là Núi Hải Vân, Hải Đăng Đà Nẵng và Cù Lao Chàm. Từ địa phận Thừa Thiên trở vào Nam, thuyền ta có thể cập bến chuyển hàng theo nhiều cách thức như cải thành thuyền buôn miền Nam hay thuyền đánh cá… cập bến vào ban đêm hoặc ban ngày tuỳ vào tình hình quan sát và trù liệu của ta.

Theo Bảng phân phối kín số 00274/TTM/2/TTQB/3 của Phòng Nhì Bộ Tổng tham mưu QLVNCH đề mục “Bảng nghiên cứu về xâm nhập Việt Cộng” tính đến tháng 12/1965 thì hải trình trên biển của ta có hai hai tuyến chính là: tuyến vận chuyển trên hải phận quốc tế (biển Hải Nam), xuất phát từ Hải Phòng, tàu không treo cờ suốt thời gian di chuyển, đi đêm không bật đèn.  Chính quyền Mỹ nguỵ cho rằng tàu đi trên hải phận quốc tế chủ yếu là tàu biển có trọng tải khoảng 100 tấn; tuyến đi trong hải phận Việt Nam, cách bờ 5km chủ yếu là các thuyền buồm cải trang thành thuyền đánh cá, tuyến này xuất phát từ vùng biển Nghệ An,  Hà Tĩnh, Quảng Bình đi cập theo duyên hải, cách bờ biển chừng 5-6km. Dù điểm xuất phát là cảng Hải Phòng hay các hải cảng ở miền Trung thì thuyền tiếp vận của ta có thể cập các bến sau[9]:

Các bến từ Thừa Thiên đến Vũng Tàu:

–  Vũng Chơn Mây

–  Tam Quan

–  Vũng Mu

–  Vũng Lá

–  Vũng Rô

–  Phía Đông Bến Goi Bay

–  Phía Nam Hòn Heo

–  Vĩnh Hy

–  Cửa Sông

–  Cù Lao Ré

Các bến từ Vũng Tàu đến Hà Tiên:

–  Rạch Khâu Băng

–  Sông Bồ Đề

–  Rạch Gộc

–  Sông Đồng Cùng

–  Cửa sông Soi Rapports

–  Cửa Tiểu

–  Các cửa sông Cửu Long và Bassac

– Vùng bờ biển Hà Tiên.

Từ năm 1960 đến 1965 khối lượng hàng hoá vận chuyển của ta vào miền Nam ngày một gia tăng, ta sử dụng nhiều loại tàu, kể cả tàu ngầm với nhiều loại trọng tải khác nhau để tiếp tế cho miền Nam. Quân ta đã sáng tạo ra những cách dấu tàu, khám phá những hải trình mới và cải trang khôn khéo đến mức mà mãi cho tới năm 1960 hải quân tỉnh nhuệ Mỹ nguỵ mới phát giác được một vài vụ nhỏ lẻ. Và để đối phó với tình hình gia tăng “tiếp viện” cho miền Nam của Quân Giải phóng, chính quyền miền Nam đã quyết định “thiết lập hành lang biển từ Bến Hải dài 40km kể từ bờ biển ra khơi và rộng độ 10km, trong hành lang này Hải quân sẽ phụ trách kiểm soát gắt gao tất cả các ghe thuyền qua lại”[10]. Tăng cường siết chặt kiểm tra đường biển như thiết lập những căn cứ kiểm soát, ấn định nơi cấm ghe thuyền qua lại, đặt phương pháp kiểm soát ngư phủ như phương pháp của Mỹ đã dùng để kiểm soát nhân công tại Thành Tuy Hạ…Mặc dù các biện pháp đã được sử dụng để tăng cường ngăn chặn các chuyến tiếp vận của ta những năm sau đó, nhưng những chuyến tàu chi viện vẫn liên tục cập các bến an toàn.

 Vận tải biển là tuyến chính, tuyến chủ đạo, để từ đó quân trang, quân dụng được chuyển vào sâu trong các Mật khu của ta. Để đưa vũ khí, quân dụng vào các căn cứ ở Tây Nam Bộ, Quân Giải phóng đã tận dụng tối đa các con kênh, rạch, dòng sông và nhất là dòng sông Cửu Long. Nhiều tuyến đường thuỷ vận đã được mở ra để thực hiện nhiệm vụ tiếp tế. Trong đó có 3 hướng tiếp vận chính trên sông là từ Campuchia qua, từ vịnh Thái Lan tới và từ Biển Đông vào. Theo các nguồn tin khai thác, nguỵ quyền Sàigòn cho rằng đường “xâm nhập” từ Campuchia qua lãnh thổ Tây Nam Bộ chủ yếu là bằng đường sông Cửu Long. Trong mỗi tháng ta tải nhiều chuyến hàng đưa vào các tỉnh ven sông theo các “lộ trình” như: “qua Rạch Xẻo Cạn – sông Cán Gáo để đưa vào rừng U Minh Thượng (Kiên Giang)” [11]. Chỉ nói riêng lộ trình từ tỉnh Rạch Giá để đến vùng U Minh Thượng về đại thể cũng đã: “có chừng 4 hay 5 đường từ Miên đến vùng Trà Tiệp và từ đây đến U Minh Thượng theo 2 ngã: đến Kinh 8 Ngàn, Kinh 7 vượt lộ Hà Tiên đến Hòn Đất”. Và một ngã nữa là “Qua Kinh Sáng Hà Tiên, đến Rạch Đũng Hòn Chông dùng ghe biển đi theo bờ đến Hòn Me, Hòn Đất. Từ đây dùng ghe đến Hòn Tre – Kinh Mười hoặc Kinh Năm qua sông Cán Gáo, đến ngã tư Cây Bần hay vùng Đèo Cạn”[12]. Ngoài ra, còn có các tuyến khác trên sông Cửu Long như tuyến và điểm tiếp nhận vũ khí từ Campuchia chở sang Cồn Tàu (Kiến Phong). Ơ Tây Ninh, theo tài liệu của địch thì ta “đã thành lập một tiểu đoàn vận tải với vài chục ghe để thi hành dịch vụ áp tải hàng hoá qua các sông rạch nội địa tỉnh và từ Cam Bốt sang”[13]. Hàng đi trên Biển Đông từ miền Bắc vào đến hải phận của các tỉnh ven biển, sẽ được các ghe, thuyền nhỏ chở sâu vào trong Mật khu theo các dòng sông, như sông Bà Ghe (Bình Định)… Hình thức hoạt động vận tải trên sông được phát triển mạnh mẽ từ năm 1964 cùng với yêu cầu đáp ứng quân trang, quân dụng cho chiến trường miền Nam.

Như vậy, trong năm năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chi viện cho miền Nam bằng đường biển quân ta đã gặt hái được nhiều thành công. Vận tải biển nguy hiểm nhưng lại rút ngắn được thời gian, tiết kiệm được nhân công có thể chuyển hàng tới tận các tỉnh cuối Đất nước. Vận tải bằng đường thuỷ hay vận chuyển từ đường bộ đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi tuyến là mỗi mắt xích trong hệ thống đường Hồ Chí Minh, góp phần vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trần Thị Vui

[1] Công văn số 0305/TTL/2/5/K/TTQB/3 ngày 25/1/65 của Phòng Nhì Bộ Tổng Tư Lệnh QLVNCH “Bản nghiên cứu về sự xâm nhập đường biển của VC ngày 22/1/65”, hồ sơ số 15233, PTTg, tờ 5.
[2] hồ sơ số 15233, PTTg.
[3] hồ sơ số 15233, PTTg, tờ 5.
[4] hồ sơ số 15233, PTTg, tờ 5.
[5] hồ sơ số 15233, PTTg, tờ 5.
[6] hồ sơ số 15233, PTTg.
[7] hồ sơ số 15233, PTTg.
[8] hồ sơ số 15233, PTTg.
[9] Bảng phân phối kín số 00274/TTM/2/TTQB/3 của Phòng Nhì Bộ Tổng tham mưu QLVNCH đề mục “Bảng nghiên cứu về xâm nhập Việt Cộng” tính đến tháng 12/1965, hồ sơ số 15230, PTTg, tờ 47.
[10] Biên bản phiên họp tại Phủ tổng thống (Văn phòng Bộ trưởng) ngày thứ 6, 8/9/1961 để “Thảo luận về kế hoạch đối phó với âm mưu vượt tuyến bằng đường biển của VC”, hồ sơ số 7176, ĐICH.
[11] hồ sơ số 15233, PTTg.
[12] hồ sơ số 15233, PTTg.
[13] Phiếu nghiên cứu tình hình số 2235/PTƯTB/R  của Phủ Đặc uỷ Trung ương “VC thành lập các đội hải thuyền”, hồ sơ số 15233, PTTg.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *