Trang chủ / Công bố tài liệu / Vài nét về: Tuyến đường chi viện trên đất bạn Campuchia trong kháng chiến chống Mỹ

Vài nét về: Tuyến đường chi viện trên đất bạn Campuchia trong kháng chiến chống Mỹ

 

Từ sau năm 1954, Mỹ – ngụy ra sức phá hoại hiệp định Giơnevơ khiến cho tình hình chính trị – quân sự ở miền Nam trở nên nóng bỏng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng (5/1959) hệ thống đường Hồ Chí Minh đã được thiết lập với trọng trách chiến đấu, mở đường, bảo đảm giao thông, hậu cần chiến lược từ hậu phương lớn ra tiền tuyến lớn và làm nhiệm vụ quốc tế. Từ cuối những năm 1960 trở đi Mỹ, ngụy ngày càng mở rộng quy mô cuộc chiến, tiến hành hàng loạt chiến  dịch quân sự độc tài phát xít, thực hiện các cuộc tìm diệt, vây bắt, khủng bố trắng trên toàn chiến trường miền Nam nhằm nhấn chìm các cuộc đấu tranh của quân dân miền Nam và ngăn chặn sự chi viện, tiếp tế của quân dân miền Bắc. Những cuộc ngăn chặn, đánh phá đó của Mỹ – ngụy đã ảnh hưởng lớn đến công cuộc chi viện của cách mạng. Trước tình hình đó (vào cuối năm 1965 đầu 1966) Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ đạo cho các đoàn của Tổng cục Hậu cần mở thêm tuyến đường chi viện mới trên đất bạn Campuchia để nối liền tiền tuyến với hậu phương đảm bảo mọi nhu cầu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi. Tuyến đường chi viện trên đất bạn Campuchia không chỉ làm cho công cuộc chi viện của hậu phương cho tiền tuyến được đảm bảo mà nó còn góp phần làm cho chiến trường ba nước Đông Dương được nối liền tạo nên sức mạnh liên hoàn đánh bại mưu đồ của Mỹ.

Theo báo cáo mật số 2319/QP/QS//M ngày 31/8/1966, của Bộ Quốc phòng Quân lực Việt Nam Cộng hòa về việc Quân Giải phóng được tiếp tế qua lãnh thỗ Campuchia cho biết, từ năm 1966 các lực lượng chi viện đã sử dụng 3 trục lộ chính để chuyển quân và các đồ tiếp tế qua Campuchia cho miền Nam gồm:

“- Ngã sông Mê Kông – Bassac: tại đây hàng hóa xuống thuền từ Nam Vang, khi gần đến biên giới thì được đưa lên bờ để các dân công chuyển vận vào chiến trường miền Nam.

          – Ngã ba Biên giới cũ: (đối diện với tỉnh Quảng Đức) hàng được chở bằng xe vận tải của tư nhân đến vùng Ba Biên giới cũ, chuyển giao cho đại diện của quân cách mạng tại đây rồi dân công chuyển dần vào chiến trường miền Nam. Quân đội Campuchia chỉ giúp nhận chở những hàng tiếp vận ấy cho các đồn biên phòng.

          – Đường mòn Sihanouk: Xuất phát từ Stung – Treng, đường mòn Sihanouk đổ về Siem Pang hoặc bằng đường bộ (quốc lộ 13 và 23) hoặc bằng đường thủy (sông Sékong). Từ Siem Pang trục lộ này chạy theo hữu ngạn dông Sékong vào đất Lào, tới Hạt Nhao đường mòn Sihanouk rẽ về phía Đông sát nhập với Đường mòn Hồ Chí Minh chạy vào Cao Nguyên miền Nam” [1].

          Sang năm 1967 tuyến đường chi viện trên hướng này được xác định về số lượng đường tiếp tế có tới 10 ngã đường trên bộ bộ và 2 ngã đường thủy xuyên qua Campuchia. Các đường này được thiết lập dài theo biên giới Việt Nam – Campuchia vào các tỉnh Pleiku – Kontum – Quảng Đức – Phước Long – Bình Long – Tây Ninh – Kiên Giang. Theo báo cáo của Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa ngày 29/12/1967 thì 10 ngã chi viện ấy cụ thể như sau:

“(1)-Đường mòn Sihanouk, xuất phát từ Stung Treng qua SiemPeng đến B.Tassieng vào rừng giáp biên giới Việt  – CamBot – Lào để tiếp vận vào Kontum.

(2)-Theo quốc lộ 19bis (CamBot) hàng hóa sẽ được chuyên chở tới Tây biên giới CamBot –Plaiku tại đây xe thồ, xe bò và dân công người thượng sẽ đưa hàng hóa vào  lãnh thỗ Việt Nam Cộng Hòa.

(3)–Hàng hóa sẽ được đoàn 86 Hậu cần/R dùng các phương tiện cơ giới để đưa sâu vào vùng chiến tuyến.

(4)- Phước Long: con đường được đặt tên là Bù Gia Mập được thiết lập trong năm 1966 (tháng 2/1966- 12/1966), xuất phát từ đất CamBot dẫn đến Bù Gia Mập, chạy song song với Quốc lộ 4 qua sông Dak Hoyt bằng những cầu chữ Y đi về hướng Bình Phườc.

(5)-Bình Long: tại vùng biên giới Cambot – Việt khu vực tiếp giáp với tỉnh Bình Long lực lượng tiếp vận đã thành lập thêm Đoàn Vận tải 18.

(6)-Tây Ninh : từ Mimot (CamBot) qua biên giới tại tạo độ XT.320.920 để vào Katun và Chiến khu Dương Minh Châu.

(7)-Tây Ninh : theo Quốc lộ 22 qua Sa Mác tiếp vận thẳng vào chiến trường chính miền Nam.

(8)–Tây Ninh: đi ngang qua Chợ trời Gò Dầu Hạ qua khu vực Bavet.

(9)–Tây Ninh : từ Campuchia vượt biên giới vào khu vực Lò Gò, Xóm Giữa (Tây Ninh), tại đây các bộ phận chuyên chở của Cục Hậu Cần R sẽ chuyễn vào kho dự trữ tại vùng Suối Dày và vùng bến Tha La.

(10)–Kiên Giang: từ tỉnh Kampot (Campuchia) hàng hóa được xe hơi chuyên chở đến Kampong Trạch vượt biên giới tại tọa độ VS.520.550. Tại đây dùng ghe máy chở hàng hóa vào Mật khu Trà Tiên. (Kiên Giang)” [2].

Trong số các đường tiếp tế mới mở trên đất bạn Campuchia đáng kể nhất là đường Sihanouk. Mặc dù đường tiếp vận này đã có từ năm 1965, nhưng sau hai năm tổ chức quy mô, Quân Giải phóng đã hệ thống hóa, cơ giới hóa phương tiện vận chuyển khiến cho hệ thống đường mòn Sihanouk trở thành hành làng chi viện quan trọng trong hệ thống đường Hồ Chí Minh, nối liền chiến trường ba nước Đông Dương.

        Về tổ chức, theo báo cáo của Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa ngày 29/12/1967, để đãm bảo cho hoạt động của tuyến đưởng này các lượng lượng cách mạng đã dùng “3 Tiểu đoàn Vận tải để phụ trách chuyên trở (Tiểu Đoàn 58, 59 và 533) và một Trung đoàn Công Binh (Trung đoàn 98), để khai phá sửa sang đường xá, cầu, phà. Chỉ riêng cho mặt trận Tây Nguyên các lượng lượng Tiếp vận đã thiết lập 3 binh trạm lấy hiệu là Bắc, Trung, Nam mỗi nơi sử dụng một Trung đoànvận tải . Tại mặt trận Quảng Đức Đoàn 86 Trung ương Cục có khoảng 1.000 người dùng cho việc tiếp vận. Còn ở mặt trận Bình Long và Tây Ninh cũng có hai đoàn tiếp vận khác đó là Đoàn 81 và 82 miền Tây qua các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường, Châu Đốc, Kiên Giang”  [3].

          Về phương tiện sử dụng cho các hoạt động vận chuyển bao gồm đủ các loại như: dân công, ghe, thuyền bè, xe thồ và xe hơi. “Trong đó hai Trung đoàn 58 và 59 đã được cơ giới hóa gần như toàn bộ cho việc chuyên chở tiếp vận (dùng đến 120 xe vận tải  và 40 ghe máy)” [4].  Đối với các phà hoạt động trên lưu vực sông Mê Kông cũng dần tăng lên, cũng tại công văn mật số 023/PTUTB/R/TM ngày 29/12/1967 của Phủ Đặc ủy, Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng hòa cho biết, tới tháng 3 năm 1967 mỗi ngày có từ 5 đến 7 chuyến phà lưu thông trên thủy lộ đó. Có thể nói lực lượng tham gia trên các trục lộ này mỗi ngày một gia tăng do các lực lượng tiếp tế ngày càng mở rộng các mạch lộ cũng như việc tăng cường cơ giới hóa các phương tiện chuyên chở. Theo báo cáo của Phòng nhì Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngày 29/12/1967 cho biết, trước năm 1965 miền Bắc đã vận chuyển và tiếp tế vào cho miền Nam theo hệ thống đường Hồ Chí Minh mỗi ngày là 200 tấn quân dụng, tức 72.000 tấn/năm. Tuy nhiên kể từ năm 1965 trước sự ngăn chặn đánh phá của quân  Mỹ, ngụy trên tuyến đường Hồ Chí Minh thì các lực lượng chi viện đã chuyển sang triển khai triệt để mạch tiếp tế qua Campuchia. “Trong năm 1966 quân giải phóng đã nhận được hơn 40.000 tấn hàng hóa đưa từ Campuchia sang tức là đã chia sẽ được 1/2 gánh nặng tiếp vận của tuyến Đường mòn Hồ Chí Minh, tốc độ tiếp vận này của lực lượng cách mạng vẫn giữ được cho tới cuối những năm 1960 đầu 1970”  [5]

Có thể nói hành làng chi viện trên đất bạn Campuchia vào chiến trường miền Nam trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh đã góp phần giải quyết những khó khăn cấp thời về hậu cần, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chiến trường miền Nam trong thời gian từ 1965 đến đại thắng mùa Xuân 1975 và làm cho “đường giây” chi viện trên hệ thống Đường Hồ Chí Minh được thông suốt. Từ vị trí chiến lược cũng như công suất chi viện trên cho ta thấy vai trò của hệ thống đường tiếp tế trên đất bạn Campuchia là vô cùng quan trọng, đã đảm bảo được sứ mẹnh chi viện toàn cục cho chiến trường đặc biệt là đối với mặt trận Cao Nguyên, miền Đông và miền Tây Nam Bộ và góp phần làm nên thắng lợi  của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

Nguyễn Thị Việt

[1] Hồ sơ số 32.159, TTg

[2] Tài liệu số : 023/PTUTB/R/TM ngày 29/12/1967 của Trung Ương Tình Báo PhĐặc Uy Việt Nam Cộng Hòa –Bản nghiên cứu đặc biệt nhận định về địa bàn tiếp vận của Việt Cộng trên đất Cam Bốt. Hồ sơ số :627, ĐICH.

[3] Hồ sơ số 627, ĐICH.

[4] H sơ s 627, ĐICH.

[5] H sơ s 627, ĐICH.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *