Trang chủ / Công bố tài liệu / Đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước – qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn

Đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước – qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn

Năm 1954, Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Theo các điều khoản của Hiệp định, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự, 2 năm sau sẽ thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Nhưng với dã tâm chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, thực hiện mưu đồ của đế quốc Mỹ, ngày 16-7-1955, Ngô Đình Diệm công khai tuyên bố sẽ không có hiệp thương tổng tuyển cử, cự tuyệt công hàm của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng “đề nghị quan hệ bình thường Bắc – Nam”[1]. Đồng thời, tập trung mũi nhọn quân sự vào đàn áp phong trào cách mạng miền Nam. Năm 1955, ngụy quyền Sài Gòn phát động giai đoạn I của chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” ở miền Trung Việt Nam và tiếp tục với gian đoạn II trên toàn miền Nam Việt Nam (từ năm 1957) với phương châm “tiêu diệt Việt cộng không thương tiếc, không kể là người nữa, tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh” và “thà giết lầm chứ không bỏ sót”[2], đánh thẳng vào quần chúng, lùng bắt, giam cầm, thủ tiêu những người kháng chiến cũ, o ép những người có thân nhân đi tập kết,…

Để ngăn chặn sự liên lạc của cách mạng ở miền Nam và giữa hai miền Nam – Bắc, Diệm tung các đội thám báo, biệt kích vào các vùng rừng núi từ Nam vĩ tuyến 17 đến Bình Thuận và vùng biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia; tăng cường lực lượng quân đội ở các tỉnh thuộc Quân khu II (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi), là các tỉnh giáp khu vực giới tuyến tạm thời.

Từ các cuộc hành quân và hoạt động của các đội thám báo, biệt kích, chính quyền Diệm đã phát hiện ra hệ thống đường mòn giao liên của cách mạng. Ngày 5-11-1956, trong Công văn (mật) số 03353/38/19/H/1/4/N[3], Nha Giám đốc An ninh Quân đội đã báo cáo Bộ Quốc phòng ngụy quyền Sài Gòn về hệ thống đường mòn giao liên của cách mạng sử dụng trong kháng chiến chống Pháp, gọi là đường “Xuyên sơn Hồ Chí Minh” hay “Đường mòn Hồ Chí Minh” đi từ vĩ tuyến 17 đến Phú Yên và tổ chức hành quân thám sát trên con đường này nhằm “triệt hạ cơ sở các chiến khu VC (Việt Cộng) còn lại[4]”.

Đặc biệt với tuyến đường Hồ Chí Minh, Diệm huy động tối đa bộ máy quân sự vào việc thám sát, lùng sục. Ngày 29/3/1958, Đại tá Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân khu III Việt Nam Cộng hòa cho lập kế hoạch “Thám sát những đường mòn xuyên sơn tại các vùng ranh giới các Tiểu khu Kon Tum – Quảng Nam – Quảng Ngãi. Theo đó, các đội thám sát được chia làm 3 hướng: Đakto – Gi Lăng; Xuân Khương – Trà My; Xuân Khương – Gi Lăng”[5]. Bộ Tư lệnh Quân khu 3 cũng cho rằng: “việc mở đường tạo thành 3 trục: Đakpek – Đakre  – Trà My; Đakto – Toumorong – Ngọc Linh – Trà My; Đakpek – Ngọc Linh – Trà My không chỉ mang tính chiến lược khi có chiến tranh mà còn kiểm soát những đường mòn do Việt Cộng dùng làm đường tiếp vận”[6]. Tại Quân khu II, ngày 16/10/1958, Trung tướng Trần Văn Đôn, Tư lệnh Quân khu II ngụy quyền Sài Gòn đã ký lệnh “Thám sát đặc biệt” thám sát vùng núi phía Tây vùng Hướng Hóa (Quảng Trị). Theo đó, mục đích của việc thám sát này là nhằm: “Khảo sát lộ trình, mở các cuộc tảo thanh (đột kích, phục kích…) tại chỗ, sưu tầm tin tức quân báo… qua đó chặn đứng mọi hoạt động tiếp vận, giao liên của đối phương”[7].

Ngày 30-1-1962, Tư lệnh Vùng II Chiến thuật, Thiếu tướng Tôn Thất Đính đã phát lệnh “sưu tầm tin tức về đường mòn Hồ Chí Minh” như sau:

“Các đơn vị thực hiện cần phải xác định được đối với đường giao liên: So sánh lại các hướng và trục giao liên của đường Hồ Chí Minh qua mỗi địa phương; Các mật đạo phụ từ đường Hồ Chí Minh đến các mật khu; Đường giao liên địa phương từ mật khu này đến mật khu khác; Các lối xâm nhập Bắc Nam khác. Đối với trạm giao liên: Xác định trạm giao liên chính (có đơn vị võ trang yểm trợ, kho tiếp tế lương thực, đạn dược, quân trang, trại tăng gia sản xuất); Trạm giao liên tạm (nơi nghỉ chân, trạm này thường ở vùng ta kiểm soát cách các Quốc lộ từ 10 đến 15 cây số); Các đoạn đường băng qua quốc lộ. Đánh giá lực lượng: Thành phần quân số vũ khí của các đơn vị võ trang di chuyển; Các đoàn dân công, áp tải, tiếp vận lương thực, vũ khí và đạn dược. Đồng thời nắm rõ tên mỗi đoạn đường do Việt Cộng đặt, do dân đặt, bí số các trạm giao liên hoặc đặt tên các đường mới phát giác theo bản đồ”[8].

Lệnh này cũng yêu cầu các đơn vị thực thi phải khẩn cấp triển khai bằng mọi biện pháp: “Đặt mật báo viên tại địa phương dò xét; Tổ chức quần chúng trong các đoàn dân công của Việt Cộng; Đặt trinh sát tại các đường khả nghi có giao liên Việt Cộng; Phục kích các đoạn khả nghi bắt tù binh, tịch thu tài liệu (biện pháp có hiệu quả nhất); Hành quân tình báo qua các mục tiêu cần thiết…Khai thác ngay các tin báo nhận được, công điện về V2CT/P2;Gởi tài liệu bắt được và tù binh bằng mọi phương tiện nhanh nhất; Phúc trình tỉ mỉ sau khi thi hành…”[9].

Hoạt động thám sát của ngụy quyền bước đầu đã cho kết quả. Tại Phiếu trình (mật) số 01347/TTM/2/6 ngày 24-6-1963 và các báo cáo sau đó, Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng ngụy quyền Sài Gòn đã báo cáo chi tiết về đường chi viện của cách mạng bao gồm:

–                            Hành lang trên bộ mang tên “hành lang Thống Nhất”, “chạy từ miền Bắc, dọc theo biên giới Lào – Việt vào miền Nam, đi sâu trọng nội địa tới tận Cà Mau”, trên hành lang này “cứ cách 1 ngày đường lại có trạm nghỉ chân cho cán bộ và cách 2,3 ngày đường lại có trạm tiếp tế”[10];

–                            Hành lang chi viện trên biển tiến dọc theo duyên hải vào sâu phía Nam” đổ bộ lên bờ biển các tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận ở miền Trung và các tỉnh An Xuyên, Ba Xuyên, Vĩnh Bình, Kiến Hòa ở miền Tây Nam bộ và “Thủy lộ Cửu Long từ Cam-bốt (Campuchia) qua”[11]; “ngoài ra, một cầu không vận Hà Nội – Tchépone mà hoạt động đã thấy tăng cường trong thời gian gần đây đã giúp cho V.C giải quyết được phần lớn sự chuyển vận chiến cụ nặng và đạn dược (cho) chiến trường miền Nam”[12].

Trong khi đó, sự đàn áp của Mỹ – Diệm đã càng dậy lên lòng căm thù sâu sắc trong quần chúng nhân dân. Phong trào đấu tranh chính trị ngày càng lên cao với sự xuất hiện của các đội tự  vệ mật. Từ cuối năm 1957, hoạt động vũ trang tuyên truyền ra đời, tạo một chuyển biến mới trong phong trào cách mạn miền Nam. Trước sự phát triển của cách mạng, Mỹ – Diệm càng tỏ ra điên cuồng. Ngày 6/5/1959, Diệm ban hành luật 10/59[13], quy định hình phạt khổ sai chung thân và tử hình đối với những “người chống đối”, cho lập Tòa án quân sự lưu động, lê máy chém khắp miền Nam, gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu.

Trong thời kỳ khó khăn đó, nhiều đảng viên, cán bộ cách mạng ở miền Nam phải ra bưng biền, trở về khu căn cứ cũ, tìm cách bắt liên lạc với Xứ ủy Nam bộ. Từ đó, các đường giao liên cũ được sử dụng trong kháng chiến chống Pháp, được ta sử dụng lại, đồng thời cũng hình thành các tuyến giao liên mới. Cùng thời điểm trên, đau sót trước cảnh đồng bào miền Nam bị tàn sát, ở miền Bắc, một số cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết đã “tự phát” lên đường trở về Nam chống Mỹ – Diệm. Nhưng trước sự kiểm soát gắt gao của địch, nhiều “đoàn” trở về Nam đã không tránh khỏi sự truy lung, phát hiện của các đội quân thám báo, biệt kích. Công văn (mật) số 2463 BPTT/VN/M của Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ngày 12-10-1957, cho thấy: “khoảng trung tuần tháng 7-1957, một đại đội VC võ trang súng trường và tiểu liên, lối 200 người đã theo ngả biên giới Lào – Việt,… theo đường Hồ Chí Minh đi lần xuống miền Nam”[14], hay một số cán bộ của Trung đoàn 120 bị phát hiện “đóng rải rác từ Ba Rừng đến Hòn Giêng”[15] làng Thắng Có,….

Tháng 1/1959, trên cơ sở phân tích, nhận định tình hình, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 đề ra Nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng ở hai miền. Đối với cách mạng miền Nam, Nghị quyết nêu rõ: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân… lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[16]. Đồng thời, cũng đề ra nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam. Tháng 5/1959, Đoàn 599 được thành lập có nhiệm vụ soi, mở đường và tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam. Đến cuối năm 1959, chuyến hàng đầu tiên chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc đã chuyển vào khu V an toàn, hành lang chi viện chiến lược được nối thông. Được sự chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc, lực lượng cách mạng ở miền Nam nhanh chóng phát triển, phong trào đấu tranh có bước phát triển nhảy vọt. Phong trào Đồng Khởi nỗ ra trên toàn miền Nam, làm rung động bộ máy ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở. Cách mạng miền Nam chuyển sang thời kỳ dùng chiến tranh cách mạng chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.

Vì vậy, yêu cầu về nhân vận lực cho chiến trường miền Nam ngày càng lớn đòi hỏi phải mở rộng hơn nữa hành lang chi viện chiến lược Bắc – Nam.

Về phía Mỹ – ngụy, sau phong trào Đồng Khởi của cách mạng và liên tiếp thất bại trên chiến trường đặt chiến lược chiến tranh đặc biệt trước nguy cơ sụp đổ, Mỹ trực tiếp đưa quân viễn chinh và chư hầu cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất trực tiếp tham chiến ở miền Nam và thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc.

Trước tình hình đó, Ban Chaáp haønh Trung öông Ñaûng ta ñoäng vieân toaøn Ñaûng, toaøn daân vaø toaøn quaân quyeát taâm ñaùnh thaéng giaëc Myõ xaâm löôïc, neâu cao khaåu hieäu: “taát caû cho tieàn tuyeán lôùn, taát caû ñeå chieán thaéng”. Thöïc hieän muïc tieâu treân, haønh lang chi vieän cho chieán tröôøng mieàn Nam ñöôïc môû roäng, ñaëc bieät laø söï xuaát hieän cuûa caùc tuyeán chi vieän baèng xe cô giôùi.

Cùng với sự phát triển của tuyến đường, những báo cáo của ngụy quyền Sài Gòn về đường Hồ Chí Minh cũng ngày càng dày thêm. Thậm chí, như một công trình thường niên, Tổng cục Tiếp vận, Bộ Tổng Tham mưu Việt Nam Cộng hòa xuất bản một ấn phẩm về “hậu cần của Cộng sản”, như: “Bản nghiên cứu về xâm nhập V.C”[17] (năm 1965); “Đoàn 559 – vận tải Tổng cục Hậu cần Tiền phương Bắc Việt”[18] năm 1968; “Hậu cần Cộng sản tại chiến trường miền Nam 1959-1970”[19] năm 1971,… Đó là các bản nghiên cứu được tập hợp từ hàng chục nghìn trang tài liệu tình báo, thám báo, tin tức không thám, “tài liệu nguyên bản đã tịch thu trên khắp chiến trường”,…trình bày chi tiết về lịch sử hình thành, tổ chức, lực lượng và hoạt động của các đơn vị như Đoàn 559, Giao bưu R (Trung ương Cục miền Nam),…; hành lang chi viện trên bộ, trên biển với đầy đủ lộ trình, các loại đường, phương tiện và cách thức vận chuyển,…

Cùng với sự “hiểu biết” về hệ thống đường chi viện của cách mạng, Mỹ – ngụy ngày càng đẩy mạnh cuộc chiến tranh ngăn chặn bằng những phương tiện hiện đại nhất.

Ngay từ những ngày đầu phát hiện sự hiện diện của hệ thống đường Hồ Chí Minh, Mỹ – ngụy đã tập trung rất nhiều sức lực và tiền của hòng ngăn chặn con đường này.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, một mặt ngụy quyền Sài Gòn ban hành một loạt chính sách phong tỏa rừng và kiểm soát gắt gao sự đi lại của quần chúng. Đồng thời ồ ạt triển khai các chiến dịch càn quét, đánh phá trên toàn miền Nam, mục tiêu là các căn cứ kháng chiến cũ. Với vùng rừng núi, Diệm cho tung lực lượng thám báo, biệt kích dưới danh nghĩa các đại đội địa hình với nhiệm vụ đo vẽ bản đồ, nhưng thực chất là đi sâu vào các vùng rừng núi để tìm kiếm dấu vết, làm chỉ điểm cho không quân ném bom những nơi cho là đường mòn chi viện của cách mạng.  Và Mỹ – ngụy sẵn sàng dùng hỏa lực mạnh nhất để ngăn chặn hành lang chi viện của cách mạng. Trong Công văn (mật) số 01452/TTM/P3/2 ngày 8-9-1962 của Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa – Lê Văn Tỵ gửi cho Thống tướng P.D. Harkins – Tư lệnh Bộ Tư lệnh Viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam, đã cho thấy dã tâm của Mỹ – ngụy khi “quyết định cho oanh tạc hàng ngày các mục tiêu”[20] trên dãy Trường Sơn và đề nghị không quân Hoa Kỳ cho máy bay B.26 tham gia oanh tạc để “hầu đạt kết quả khả quan” [21]. Tiếp đó, Bưu điệp (mật) số 319/2 ngày 26-9-1962 của Tham mưu Biệt bộ Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa gửi Bộ Tư lệnh Không quân về việc ném bom trên dãy Trường Sơn cho thấy: “Tổng thống chấp thuận cho phép các khu trục cơ AD.6 được trang bị các loại bom 500 1bs (máy bay AD.6 thường mang bom loại 100 1bs) để thi hành các cuộc oanh kích trên dãy núi Trường Sơn và Vùng I Chiến thuật nếu cần thiết”[22]

Từ sau năm 1965, Mỹ – ngụy càng đẩy mạnh hơn nữa hoạt động ngăn chặn, đánh phá khốc liệt với các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất. Có thể kể đến hệ thống thiết bị điện tử hướng dẫn máy bay ném bom, là hàng rào điện tử Mc. Namara, pháo đài bay B52. Các loại chất diệt cỏ, hay các chương trình, dự án tạo mưa, các chất hóa học tạo bùn,… được rải xuống dãy Trường Sơn để phá hủy tuyến đường.

Cùng với đó là các chiến dịch đánh phá bằng không quân, như chiến dịch Barrel Roll, chiến dịch Steel Tiger cuối năm 1964; chiến dịch Sấm Rền ném bom miền Bắc và Bắc Trung bộ từ ngày 20/3/1965,… Chỉ riêng hoạt động của B52, trong 3 năm 1967-1969, Mỹ – ngụy đã thực hiện 7.252 phi vụ với 1.117.881 tấn bom[23].

Từ sau năm 1970, để ngăn chặn tuyến chi viện của cách mạng, Mỹ – ngụy đã tiến hành một cuộc chiến tranh ngăn chặn toàn diện, có hệ thống với sự hiện diện hầu hết các binh chủng. Bộ binh, thiết giáp với một loạt cuộc hành quân đổ bộ sang biên giới Việt – Campuchia, như: Bình Tây I triển khai ngày 5-5-1970 đánh vào biên giới Việt – Campuchia ở Pleiku; Toàn Thắng 42 triển khai ngày 29-4-1970 mục tiêu là là vùng biên giới tại Tây Ninh; Toàn Thắng 43 triển khai ngày 1-5-1970 vùng Bình Long, Phước Long; Cửu Long triển khai ngày 8-5-1970 ở vùng biên giới Mộc Hóa,… quy mô hơn cả là cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971.

Cùng với các cuộc hành quân, Mỹ – ngụy huy động đến mức cao nhất hoạt động đánh phá của không quân. Đặc biệt trong năm 1972, Mỹ đã mang nhiều loại vũ khí và kỹ thuật tối tân, lần đầu tiên được sử dụng, như máy bay F111, bom có đầu dẫn bằng tia lade, tên lửa điều khiển,… với cường độ lớn chưa từng có. Bình quân mỗi ngày có từ 300-500 lần máy bay cường kích, cùng hàng chục phi vụ B52 trút hàng ngàn tấn bom xuống Việt Nam.

Trong suốt quá trình hoạt động, đường Hồ Chí (trên bộ) đã chịu đựng trên 8 triệu tấn bom của Mỹ, trung bình, mỗi mét đường Trường Sơn chịu 5 quả bom. Mỹ – ngụy hy vọng với sức mạnh quân sự có thể “đè bẹp” hậu phương lớn miền Bắc và cắt đứt hành lang chi viện chiến lược của cách mạng. Nhưng tất cả mọi âm mưu, thủ đoạn, mọi cố gắng của Mỹ – ngụy đã không ngăn chặn nổi con đường chi viện từ hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Trong suốt 16 năm hoạt động (1959-1975), cán bộ, chiến sĩ bộ đội Trường Sơn – đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển hơn 1,5 triệu tấn hàng, đưa và đón gần 2 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ vào ra, kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đường Hồ Chí Minh – con đường hiện thực đã trở thành huyền thoại.

Nguyễn Xuân Hoài – Hà Kim Phương

[1] Hồ sơ 136, phông Hội đồng Quân nhân Cách mạng, TT LTQG II
[2] Thượng tướng Trần Văn Trà, Hòa bình hay chiến tranh, Nxb QĐND, tr. 104
[3] Hồ sơ 5479, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[4] Hồ sơ 5479, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[5] Hồ sơ 5242, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[6] Hồ sơ 5243, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[7] Tài liệu tối mật “Lệnh thám sát đặc biệt” số 26038/TM2/BĐ ngày 7/10/1958 của Phòng Nhì, Quân khu 2, Bộ Tham mưu quân lực VNCH, hồ sơ 5230, phông Phủ Tổng thống đệ nhất Cộng hòa, TT LTQG II
[8] Lệnh sưu tầm tin tức số 1199/V2CT/2/2/K ngày 30/1/1962 của phòng Nhì, Vùng II Chiến thuật, Bộ Tham mưu Quân lực VNCH về đường mòn Hồ Chí Minh, hồ sơ 7519, phông Phủ Tổng thống đệ nhất Cộng hòa, TT LTQG II
[9] Lệnh sưu tầm tin tức số 1199/V2CT/2/2/K ngày 30/1/1962 của phòng Nhì, Vùng II Chiến thuật, Bộ Tham mưu Quân lực VNCH về đường mòn Hồ Chí Minh, hồ sơ 7519, phông Phủ Tổng thống đệ nhất Cộng hòa, TT LTQG II
[10] Hồ sơ 14942, phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, TT LTQG II
[11] Hồ sơ 14942, phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, TT LTQG II
[12] Hồ sơ 14942, phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, TT LTQG II
[13] Hồ sơ 20209, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[14] Hồ sơ 5479, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[15] Hồ sơ 5479, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2002, tr.81-82
[17] Hồ sơ 15320, phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, TT LTQG II
[18] Hồ sơ 16177, phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, TT LTQG II
[19] Hồ sơ 16817 , phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, TT LTQG II
[20] Hồ sơ 7500, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[21] Hồ sơ 7500, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[22] Hồ sơ 7500, phông Phủ Tổng thống Đệ I Cộng hòa, TT LTQG II
[23] Báo cáo hoạt động của B52 các năm 1967-1968, hồ sơ 16458, Phông Phủ Thủ tướng VNCH, TT LTQG II.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *