Trang chủ / Công bố tài liệu / Lịch sử hình thành Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (P1)

Lịch sử hình thành Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (P1)

THỜI KỲ HOANG SƠ

Thành phố Hồ Chí Minh với hơn 300 năm tuổi, về hành chính, kiến trúc xây là thành phố trẻ so với nhiều thành phố khác của cả nước. Song với ưu thế là “cầu nối’ giữa các vùng đất ven biển với nhau, liên kết giữa Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á lục địa, giữa Đông Nam Á với những vùng đất xa xôi trong Thái Bình Dương, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh sớm trở thành nơi hội tụ của nhiều lớp cư dân và cũng sớm trở thành trung tâm của vùng Nam bộ với bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Đó là quá trình các cộng đồng cư dân Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (gồm cư dân bản địa và lưu dân) khái phá vùng đất Nam bộ hoang sơ, biến nó thành trung tâm văn hóa – kinh tế – chính trị của cả nước như hiện nay.

*

Kết quả nghiên cứu của ngành địa chất cho biết, vào thời tiền sử, trong thống Pléxtoxen (Cánh Tân, từ 2-2,5 triệu năm đến cách ngày nay 10-12 ngàn năm), vùng đồng bằng Nam bộ được giải phóng khỏi nước sâu, tạo thành lục địa rộng lớn, nối liền bán đảo Đông Dương, Nam Trung Hoa với các quần đảo Indonésia và Philippines. Một thời gian sau đó, cả vùng Đông Nam Á bị hạ xuống, biển tràn vào những chỗ thấp trong đất liền, vùng đất phía Nam (Nam bộ hiện nay) tách rời khỏi Philippines và Indonésia.([1]) Tiếp đó, phù sa sông Tiền, sông Hậu đã phủ lên mặt đất một lớp màu mỡ. Về cảnh quan địa mạo, Sài Gòn vốn nằm trên lằn ranh tiếp giáp của hai vùng phù sa cổ, nay tương thích với hai vùng miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Chính vì vậy, phía Bắc của thành phố là những dãy gò đồi thấp kéo dài từ phía chân cao nguyên Nam Trường Sơn. Còn phía Đông, Nam thành phố là vùng đồng bằng thấp mà công cuộc bồi đắp còn dở dang. Vùng đất phía Bắc thành phố cùng thuộc địa mạo với miền Đông, còn vùng đất phía Nam từ Nhà Bè xuống là vùng đất thấp, quanh năm chịu ảnh hưởng của thủy triều, đất đai sình lầy, nhiều sông rạch chằng chịt, mang đặc điểm của vùng đầm lầy nhiệt đới miền Đông Nam bộ.([2]) Điều kiện tự nhiên đó khiến cho sự tồn tại của con người là hết sức khó khăn. Hiện nay, giới khảo cổ học chưa phát hiện dấu tích người cổ ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Song các phát hiện khảo cổ học cho thấy sự tồn tại tập trung và dày đặc của người cổ ở lưu vực sông Đồng Nai – cùng năm trên một đơn vị sinh địa lý với Thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy sự xuất hiện của con người trên vùng đất Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh khá sớm.

Ở đây đã tồn tại nhiều nền văn hóa từ thời kỳ đồ đá cho đến thời kỳ kim khí. Những người cổ từng sinh sống trên miền đất Sài Gòn từ nhiều thiên niên kỷ về trước đã biết đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp. Họ không chỉ sinh sống trên miền đất cao phía Bắc – Tây Bắc, mà đã bước đầu chinh phục miền đất trũng phía Nam và Đông Nam.

Dâu tích của người tiền sử sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh được các nhà khảo cổ học phát hiện sớm nhất là vào thời kỳ đồ đá giữa cách nay từ 8.000 đến 8.500 năm.

Tại di chỉ Gò Quéo thuộc xã Bình Trưng và Thạnh Mỹ Lới thuộc huyện Thủ Đức, lần đầu tiên các nhà khảo cổ học tìm thấy những công cụ bằng đá cuội hình dẹt có niên đại tương đồng với nền văn hóa Hòa Bình (cách nay 11.000 đến 7.500 năm). Kết quả khảo cổ học tìm thấy nhiều hiên vật thời đại đồ đá mới, như rìu có vai, cuốc mài, đồ gồm,… tại các di chỉ nay thuộc nhà thờ Đức Bà, nhà Xã Tây (trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố), Thảo Cầm Viên, bến đò Thủ Đức, Gò Sao (Hóc Môn),….

Các phát hiện khảo cổ học cho thấy sự tồn tại rực rỡ của nền văn minh thời đại kim khí ở phía Nam. Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, là một khu vực dày đặc những di chỉ tiền sử hết sức phong phú trải dài trong khoảng 3.000 năm trước văn hóa Óc Eo. Từ đó, cho thấy khu vực thành phố Hồ Chí Minh sớm trở thành nơi hội tụ của nhiều cộng đồng dân cư khác nhau. Tại di chỉ Gò Quéo, các nhà khảo cổ học tìm thấy nhiều mảnh đồng, chuông đồng còn nằm trong khuôn đất nung với kiểu dáng và hoa văn thuộc nền văn hóa Đông Sơn. Còn tại di chỉ Gò Sao (nay thuộc phường Thạnh Lộc, Quận 12), khảo cổ học tìm thấy bộ di vật bằng đá, chủ yếu là rìu có vai, hầu hết được ghè đẽo ở lười và thân rìu, cùng một số rìu ngắn trau chuốt và tinh tế và bộ hiện vật gốm mà chủ yếu là nặn bằng tay, chất liệu thô xốp, đô nung thấp, cùng một số ít pha trộn tạp, đổ nung cao có màu hồng nhạt.([3]) Những phát hiện trên đây cho thấy có sự hòa trộn giữa cộng đồng dân cư bản địa người Nam Á với các cộng đồng dân cư khác người Nam Đảo. Đến các di chỉ khảo cổ tại Cần Giờ với việc xác lập nền văn hóa khảo cố học Giồng Phệt, các nhà khảo cổ học bước đầu kết luận về sự hình thành một “cảng thị sơ khai” cách nay 2.000 năm trước([4]). Các hiện vật gốm mang phong cách của các nền văn hóa Đồng Nai, Sa Huỳnh,… là những đồ tùy táng trong các mộ chum; cùng với việc phát hiện di chỉ sản xuất đồ gốm ở Giồng Cây Keo;… cho thấy mối quan hệ giữa các cộng đồng cư dân Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á đảo. Đây là một trong những yếu tố quan trọng kích thích sự phát triển mạnh mẽ nền văn hóa thời tiền sử của vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh và Nam bộ nói chung trong những thế kỷ tiếp theo – văn minh Ốc Eo.

Năm 1944, nhà khảo cổ học người Pháp – Louis Malleret tiến hành khai quật di chỉ khảo cổ học Ốc Eo ở Thoại Sơn phía Nam tỉnh An Giang. Tại đây, ông phát hiện các di vật và nền móng các công trình đã chứng minh sự tồn tại một đô thị lớn của quốc gia phồn thịnh mà các thư tịch của Trung Hoa miêu tả – vương quốc Phù Nam (từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII sau Công Nguyên). Phù Nam là quốc gia cổ đại đầu tiên được hình thành ở Đông Nam Á lục địa với địa bàn phát triển chính là vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long. Trong thời kỳ hưng thịnh của Phù Nam, về phía Đông đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến gần phía Bắc bán đảo Malaysia. Từ giữa thế kỷ thứ III – VI, Phù Nam khống chế nền thương nghiệp hàng hải ở Đông Nam Á và bành trướng lãnh thổ, tạo ra nạn cát cứ, phân tán quyền lực đưa Phù Nam đến sự suy vong vào thế kỷ thứ VII. Ở thành phố Hồ Chí Minh, các nhà khảo cổ học tìm thấy dấu vết của vương quốc Phù Nam (văn hóa Ốc Eo) ở Cần Giờ, chùa Gò (Phụng Sơn Tự), với việc phát hiện nhiều tượng đất nung có mặt không giống nhau bên cạnh các hiện vật quý khác đã chứng tỏ sự sinh sống của nhiều chủng tộc người.

Vào nửa đầu thế kỷ thứ VIII, sau sự suy vong của vương quốc Phù Nam, một trận đại hồng thủy đã nhấn chìm nền văn hóa Ốc Eo. Trên giải đất rộng mênh mông của vương quốc Phù Nam xưa, chì còn những nhóm người thưa thớt quần tụ ở một số thị trấn cổ ở Vũng Tàu – Bà Rịa, Prei Nokor (tức Sài Gòn).

[1] Trung tâm Khoa học Xã hội Tp. HCM, Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698-1998), Nxb Trẻ, tr.10

[2] Trung tâm Khoa học Xã hội Tp. HCM, Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698-1998), Nxb Trẻ, tr.11

[3] Trung tâm Khoa học Xã hội Tp. HCM, Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698-1998), Nxb Trẻ, tr.18

[4] Nguyễn Thị Hậu, Cảng thị Cần Giờ hai ngàn năm trước, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh con người và văn hóa trên đường phát triển, Nxb ĐHQG Tp. HCM, tr.87.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *