Trang chủ / Công bố tài liệu / Lịch sử hình thành Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (P2)

Lịch sử hình thành Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (P2)

THỜI KỲ KHAI PHÁ

Thành phố Hồ Chí Minh với hơn 300 năm tuổi, về hành chính, kiến trúc xây là thành phố trẻ so với nhiều thành phố khác của cả nước. Song với ưu thế là “cầu nối’ giữa các vùng đất ven biển với nhau, liên kết giữa Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á lục địa, giữa Đông Nam Á với những vùng đất xa xôi trong Thái Bình Dương, Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh sớm trở thành nơi hội tụ của nhiều lớp cư dân và cũng sớm trở thành trung tâm của vùng Nam bộ với bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Đó là quá trình các cộng đồng cư dân Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (gồm cư dân bản địa và lưu dân) khái phá vùng đất Nam bộ hoang sơ, biến nó thành trung tâm văn hóa – kinh tế – chính trị của cả nước như hiện nay.Sau trận đại hồng thủy vào giữa thế kỷ VIII, Nam bộ trở thành vùng đất hoang sơ, chưa người khai phá. Rải rác trên những giồng đất cao ở miền Đông có sự sinh sống của người Mạ và Stiêng là những cư dân bản địa và cư dân của vương quốc Phù Nam cũ. Trên các giồng cao song song duyên hải, ven sông Tiền, sông Hậu có một số ít những người Khmer từ Lục Chân Lạp di cư đến.

*

Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, nhưng lưu dân Việt đầu tiên – lực lượng kháng chiến nhà Trần khác Minh thất bại([1]) hoặc những nông dân cơ cực từng miền Bắc, miền Trung theo thuyền vào Nam khai phá vùng đất mới. Đầu tiên, họ chọn Mô Xoài (Bà Rịa hiện nay) – nơi đất cao, lại gần sông biên thuận lợi cho việc kiếm kế sinh nhai, làm nơi cư trú. Từ đất Mô Xoài, các lưu dân đã nhanh chóng khai khẩn đất đai, di chuyển xuống các khu vực Đồng Nai, Sài Gòn – là những nơi có điều khiên tự nhiên tương đồng với vùng Mô Xoài. Sử nhà Nguyễn ghi lại sự kiện “Nặc Ông Chân phạm biên cảnh”, cũng khẳng định trước năm 1658, vùng Mô Xoài – Đồng Nai đã trở thành vùng đất biên cương của Việt Nam.

Trước đó, năm 1620, cuộc hôn nhân giữa vua Chân Lạp Chey Chettha II với con gái chúa Nguyễn đã mở ra sự bang giao lớn giữa hai nước, đồng thời cũng tạo một luồng di dân lớn của người Việt xuống phía Nam. Năm 1623, sự giao thương quanh vùng Sài Gòn – Đồng Nai phát triển, chúa Nguyễn cho lập đồn thu thuế tại Prey Nokor (Sài Gòn ngày nay) và Kas Krobei (Bến Nghé) – là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi Campuchia và Thái Lan. Sau đó, hai nơi này phát triển thị tứ trên bến dưới thuyền, công nghiệp và thương nghiệp sầm uất. Vào các năm sau đó (các năm 1623, 1674, 1680, 1693) tiếp tục có các cuộc di dân lớn của người Việt([2]) vào vùng đất phía Nam.

Cùng với lớp lưu dân Việt, vào năm Kỷ Mùi (1679), lực lượng phản Thanh phục Minh của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên sau khi bại trận chạy sang hải phận nước Nam cầu cứu, xin làm dân Việt được chúa Nguyễn Hiển Vương cho vào Nam lập nghiệp. Lực lượng của Trần Thượng Xuyên theo thuyền vào cửa Cần Giờ, ngược dòng Đồng Nai một số cư ngụ ở đất Ban Lân (Biên Hòa), một số ngụ tại Đông Phố (Gia Định) ([3]), chuyên nghề thương mại và canh nông. Thậm chí, vào những thập kỷ giữa thế kỷ XVII, các lưu dân Việt đã hiện diện ở vùng đất nay là thủ đô của Vương quốc Campuchia. Năm 1665, giáo sĩ Chevreuil khi đến Phnom Penh đã thấy hai làng người Việt nằm bên kia sông, ước khoảng hơn 500 người. Cũng theo tư liệu do giáo sĩ phương Tây để lại, cùng thời điểm trên, ở ngay vùng ven kinh đô Thái Lan cũng đã xuất hiện các khu vực định cư của khoảng 300 người Việt.

Đến vùng đất mới, đứng trước thiên nhiên hoang dã “con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”, những lưu dân Việt với nghị lực phi thường đã khai phá vùng đất phía Nam của tổ quốc – trong đó có Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh thành vùng đất trù phú. Vì vậy, đến trước khi Thống suất Nguyễn Cứu Cảnh vào thiết lập nền hành chánh tại Sài Gòn – Đồng Nai, những thế hệ đầu tiên của lưu dân Việt đã có cuộc sống ổn định, ruộng vườn đang mở rộng, xanh tươi. Căn cứ vào sử sách cũ cho thấy, đến giữa thế kỷ XVII đất Sài Gòn đã có gần 10.000 người, họ là lưu dân Việt cùng chung sống hòa thuận với lớp người Hoa lưu lạc xin làm con dân Việt.

Trước sự phát triển trù phú của vùng đất phía Nam, năm 1698, Minh Vương Nguyễn Phúc Chu sai Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, chính thức xác lập đơn vị hành chính của Việt Nam tại vùng đất mới. Trên cơ sở các vùng đất do lưu dân Việt khai phá, Nguyễn Hữu Cảnh “lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn: Mỗi dinh đặt chức lưu thủ, cai bộ và ký lục để cai trị”([4]). Trấn Biên bao gồm từ Bình Thuận đến Nhà Bè. Phiên Trấn bao gồm từ Tân Bình đến Cần Giuộc (Long An).

Sử sách cũng cho biết, ông:

  1. Thiết lập làng xã, khóm ấp.
  2. Lập sổ đinh, sổ điền.
  3. Định mức tượng trưng về thuế tô, thuế dung. Riêng người Hoa tập trung làm hai xã để việc thương mại có cơ hội bành trướng đều khắp.
  4. Xã Thanh Hà ở huyện Phước Long (Đồng Nai Biên Hòa).
  5. Xã Minh Hương ở huyện Tân Bình (Sài Gòn Bến Nghé).
  6. Tất cả dân số người Hoa cũng đều nhập sổ bộ Đại Việt.

Sau khi đặt xong cơ sở hành chánh, Nguyễn Hữu Cảnh chiêu mộ lưu dân nghèo khó, xiêu tán vào phủ Gia Định lập nghiệp, làm cho dân cư ngày một đông đúc, phồn thịnh. Các đời chúa Nguyễn kế tiếp, nền hành chính của vùng đất Sài Gòn – Gia Định ngày càng được tổ chức quy củ.

Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát chính thức xưng vương, chia xứ Đàng Trong làm 12 dinh, phần đất phía Nam gồm 3 dinh là Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh, Long Hồ dinh và Hà Tiên trấn. Năm 1788, sau khi củng cố thành Gia Định chúa Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Ánh) chọn vùng đất phía Nam làm căn cứ lập nghiệp, gọi là Gia Định([5]), chia ra làm bốn dinh: Phiên Trấn dinh, Trấn Biên dinh, Trấn Vĩnh dinh, Trấn Định dinh.

Từ năm 1776, Gia Đình trở thành bãi chiến trường giữa chúa Nguyễn và quân Tây Sơn. Vì vậy, về địa giới hành chính và tên gọi không có nhiều thay đổi. Đến năm 1802, sau khi lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế), Nguyễn Ánh chính thức đổi Phiên Trấn dinh là Gia Định trấn gồm 4 trấn, 4 phủ và 15 huyện, thêm trến Hà Tiên gồm 2 đạo và 2 huyện([6]).

1 Phiên An trấn (vùng Sài Gòn và Bình Dương ngày nay) Phủ Tân Bình

4 huyện:

– Bình Dương(*)

– Tân Long(**)

– Phước Lộc

– Thuận An

2 Biên Hòa trấn Phủ Phước Long

4 huyện:

– Phước Chánh

– Bình An

– Long Thành

– Phước An

3 Vĩnh Tường trấn Phủ Kiến An

3 huyện:

– Kiến Đăng

– Kiến Hưng

– Kiến Hòa

4 Vĩnh Thanh trấn Phủ Định Viễn

4 huyện:

– Vĩnh Bình

– Vĩnh An

– Tân An

– Vĩnh Định

5 Hà Tiên trấn 2 đạo, 2 huyện:

Đạo Long Xuyên

Huyện Long xuyên

Đạo Kiên Giang

huyện Kiên Giang

Năm 1808, vua Gia Long tiếp tục phân địa giới Việt Nam làm 2 miền gọi là Bắc thành và Gia Định trấn gọi là Gia Định thành, vùng Thừa – Thiên gọi là Kinh kỳ([7]). Về tổ chức hành chính, vua Gia Long đặt Gia Định thành dưới quyền cai trị của một Tổng trấn. Ở 5 trấn thuộc hạt thì đặt các quan Lưu trấn hay quan Trấn thủ. Dưới có Cai bạ và Ký lục coi việc cai trị trong trấn. Dưới Trấn là các phủ, huyện có các quan Tri phủ và Tri huyện cai trị.

Đến năm 1832 (năm Minh mang thứ 13), sau khi Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng đổi trấn làm tỉnh, đặt toàn Nam bộ làm sáu tỉnh: Gia Định (Phan Yên), Biên Hòa (Đồng Nai), Định Tưởng (Mỹ Tho), Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên gồm 18 phủ, 43 huyện([8]). Trong mỗi tỉnh, Minh Mạng đặt chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bồ Chính sử, Án Sát xử và Lãnh binh để lo việc nội an và quân sự. Dưới tỉnh có các cấp hành chánh theo thứ tự: phủ – huyện – tổng – làng.

Năm 1859, dưới triều vua Tự Đức, vùng đất Nam bộ được chia làm 3 quận, mỗi quận do một quan Tổng đốc cai trị, dưới sự kiểm soát chung của quan Kinh Lược. Theo đó, tỉnh Gia Định gồm 4 phủ, 9 huyện(*) đặt trực thuộc quận Định Biên([9]).

Như vậy, trên cơ sở khai phá của các cư dân Việt, các chúa Nguyễn chính thức xác lập chế độ hành chánh ở vùng đất Nam bộ. Nhưng phải đến thời vua Gia Long, cái tên Gia Định – được dùng chung cho toàn Nam bộ, mới có trên bản đồ hành chánh Việt Nam.

[1] Trung tâm Khoa học Xã hội Tp. HCM, Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698-1998), Nxb Trẻ, tr.23

[2] Trung tâm Khoa học Xã hội Tp. HCM, Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698-1998), Nxb Trẻ, tr.24

[3] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.17

[4] Trích “Gia Định thành thông chí”, Nhiều tác giả, 300 câu hỏi – 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Tp.HCM,

[5] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.22

[6] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.23

* Huyện Bình Dương là địa phận các quận I, 3, 10, Tân Bình, Phú Nhuận, Bình Thạnh, 4, 12, Hóc Môn và các huyện: Củ Chi, Cần Giờ, Nhà Bè

** Huyện Tân Long là địa phận các quận 5, 11, 6, 8, 9, 2, Thủ Đức, huyện Bình Chánh và một phần huyện Nhà Bè.

[7] Trung tâm Khoa học Xã hội Tp. HCM, Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698-1998), Nxb Trẻ, tr.38

[8] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.24

* Phủ Tân Bình gồm các huyện: Bình Dương, Bình Long, Tân Long; Phủ Tân An có 2 huyện: Cửu An, Phước Lộc; Phủ Hòa Thanh gồm 2 huyện: Tân Hòa, Tân Thành; Phủ Tây Ninh 2 huyện: Tân Ninh, Quang Hóa. Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay nằm trong địa phận Phủ Tân Bình.

[9] Đào Văn Hội, Lịch trình hành chánh Nam phần, 1961, vn.1528, TT LTQG II, tr.24

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *