Trang chủ / Kỹ năng nghề nghiệp / Theo dõi nhiệt độ và độ ẩm tương đối

Theo dõi nhiệt độ và độ ẩm tương đối

PHẦN GIỚI THIỆU

Sách báo, tranh ảnh hoặc các đồ vật làm bằng giấy đều dễ bị hư hỏng bởi môi trường bảo quản chúng. Hơi nóng, hơi ẩm, ánh sáng và bụi bẩn tạo ra những phản ứng hoá học mang tính huỷ hoại. Tình trạng ấm và ẩm làm thúc đẩy các quá trình sinh học, tạo điều kiện cho nấm mốc và côn trùng sinh sôi nảy nở. Mặc dù một số chất liệu được sử dụng để làm sách báo, tài liệu và vật phẩm trên giấy có độ bền tương đối, song những chất liệu khác (như bột giấy nghiền và các loại mực làm từ a-xít) sẽ bị huỷ hoại nhanh chóng dưới những điều kiện môi trường không thuận lợi. Các viện bảo tàng, thư viện và khu bảo tồn lịch sử đều phải hứng chịu những hiện tượng tương tự như bất kỳ một toà nhà nào khác, song những nơi này lại có trọng trách duy trì, bảo tồn những hiện vật lưu giữ ở đó cho các thế hệ tương lai.

Dù chúng ta không thể triệt tiêu mọi quá trình phân huỷ các tư liệu văn hoá thông qua việc tiếp cận với sách vở và các kho tư liệu, song chúng ta có thể làm chậm lại một cách đáng kể quá trình gây hư hỏng này, thông qua việc tạo ra một môi trường ôn hoà và ổn định. Việc kiểm soát một số nhân tố, như ánh sáng khá dễ dàng và không tốn kém. Trái lại, kiểm soát không khí (nhiệt độ và độ ẩm tương đối) lại là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều. Theo dõi nhiệt độ và độ ẩm tương đối có ý nghĩa then chốt để kiểm soát môi trường hiệu quả. Việc theo dõi này có thể nhằm một vài mục đích: cung cấp các thông số cho thấy việc kiểm soát môi trường hiện tại là chưa đủ; lập hồ sơ về các điều kiện môi trường hiện nay để chuẩn bị cho những đổi mới về trang thiết bị; đánh giá hiệu quả của những đổi  mới về trang thiết bị đã được tiến hành; và/hoặc bảo vệ chống lại những điều kiện khác xa nhau về môi trường có thể xảy ra.

TẠI SAO VIỆC KIỂM SOÁT KHÍ HẬU LẠI QUAN TRỌNG?

Việc kiểm soát khí hậu rất quan trọng vì nhiệt độ và độ ẩm tương đối không thích hợp có thể làm tổn hại nghiêm trọng đến tuổi thọ của các hiện vật lưu trữ làm từ giấy. Nhiều người cho rằng nhiệt độ có ảnh hưởng lớn nhất lên các hiện vật lưu trữ (như ảnh hưởng của nó đến con người), song trên thực tế, độ ẩm tương đối ít nhất cũng góp phần quan trọng không kém vào quá trình gây ra những huỷ hoại đối với giấy. Hầu hết mọi người đều nhận thức được rằng nhiệt độ và độ ẩm tương đối cao sẽ kích thích sự phát triển của nấm mốc và sự sinh sôi của côn trùng, song trong thực tế, ảnh hưởng của môi trường lưu trữ lên các hiện vật lưu giữ còn phức tạp hơn nhiều.

Điều quan trọng là cần nhận biết rằng nhiệt độ và độ ẩm tương đối có mối quan hệ tương tác – một thay đổi trong yếu tố này có thể dẫn tới những thay đổi trong yếu tố kia. Không khí ấm giữ nhiều độ ẩm hơn không khí mát, nên nếu lượng hơi ẩm trong không gian không đổi, thì độ ẩm tương đối (thể hiện “dưới dạng phần trăm lượng nước trong không khí tương ứng với một lượng không khí nhất định”[1]) sẽ giảm khi nhiệt độ tăng, và sẽ tăng khi nhiệt độ giảm (mối quan hệ giữa nhiệt độ và độ ẩm tương đối này có thể tính được bằng biểu đồ đo độ ẩm). Ví dụ, nếu một không gian đang ở 60oF và độ ẩm tương đối 70%, thì độ ẩm tương đối sẽ giảm xuống còn khoảng 40% và nhiệt độ tăng lên 75oF. Mặt khác, nếu nhiệt độ giảm, độ ẩm tương đối sẽ tăng, và khi nó đạt đến 100%, lúc đó không khí sẽ sũng nước và hơi ẩm sẽ đọng thành nước (đây gọi là điểm ngưng tụ). Ví dụ, nếu một không gian ở nhiệt độ 70oF và độ ẩm tương đối là 50% và khi nhiệt độ đột ngột hạ xuống dưới 50oF, thì quá trình ngưng tụ sẽ xảy ra trên các hiện vật lưu trữ.

Quá trình hư hỏng của giấy (cùng với nhiều hình thức phân huỷ khác của các chất liệu hữu cơ như da, vải và băng từ) là một minh chứng về sự phá huỷ hoá học, và phản ứng hoá học chi phối quá trình này chủ yếu bị ảnh hưởng bởi môi trường. Nhiệt độ làm gia tăng tốc độ của các phản ứng hoá học gây ra sự phá huỷ của a-xít. Một phương pháp đơn giản quen thuộc ước tính rằng các phản ứng hoá học sẽ tăng gấp đôi nếu nhiệt độ tăng lên 15oF (tương đương 10oC). Trong trường hợp đặc biệt có chất cellulose, các thử nghiệm nhân tạo kéo dài cho thấy nhiệt độ tăng lên 9oF sẽ làm cho tốc độ phá huỷ tăng gần gấp đôi, thậm chí trong điều kiện không có ánh sáng, bụi bẩn, hay các nhân tố khác. Độ ẩm tương đối mang hơi ẩm cũng góp phần làm tăng những phản ứng này – độ ẩm càng cao, thì quá trình phá huỷ tài liệu càng diễn ra nhanh chóng.

Những mẫu nghiên cứu được tiến hành trong nhiều năm qua đã xác định được tác động của nhiệt độ và độ ẩm tương đối lên quá trình phá huỷ hoá học. Viện Lưu ảnh (The Image Permanence Institute – IPI) thuộc Viện Công nghệ Rochester đã ứng dụng “Chỉ số bảo quản”, những chỉ số này đã được áp dụng cho công trình của Donald Sebera, người đã từng làm việc cho Thư viện Quốc hội. Công cụ này đưa ra một ý tưởng chung về khoảng thời gian các hiện vật lưu trữ bằng giấy bị hư hại một cách đáng kể trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm tương đối cụ thể. Mẫu nghiên cứu này cho thấy các chất liệu hữu cơ có tuổi thọ ngắn được cất giữ ở nhiệt độ 72oF và độ ẩm tương đối 50% sẽ có tuổi thọ xấp xỉ khoảng 33 năm, nhưng nếu nhiệt độ được hạ thấp xuống 62oF và độ ẩm tương đối còn 40%, thì những chất liệu này sẽ có tuổi đời là 88 năm. Mẫu này cũng chỉ rõ nếu các chất liệu chịu những nhiệt độ và độ ẩm cao (như nhiệt độ 82oF và độ ẩm tương đối 75%), thì quá trình hư hỏng sẽ rõ nét chỉ trong vòng 9 năm hoặc thậm chí ngắn hơn[2].

Một khía cạnh thú vị khác của nghiên cứu này là nó chứng minh rằng thông qua nhiều sự kết hợp khác nhau giữa nhiệt độ và độ ẩm tương đối, ta có thể đạt được cùng một tuổi thọ như đã dự kiến. Ví dụ, các điều kiện nhiệt độ 57oF và độ ẩm tương đối 50% hay 82oF và 35% sẽ cùng thu về một kết quả là tuổi thọ dự tính gần 100 năm[3]. Điều này sẽ cho phép các cơ quan bảo tồn, bảo tàng có thể linh hoạt lựa chọn cách thức kiểm soát môi trường, mặc dù độ ẩm và nhiệt độ quá cao vẫn luôn là những điều kiện phải tránh do có nguy cơ phát triển nấm mốc và côn trùng.

Ảnh hưởng của những dao động về nhiệt độ và độ ẩm tương đối lên hiện vật lưu trữ là một mối quan ngại lớn khác đối với việc kiểm soát môi trường và khí hậu. Những dao động về nhiệt độ có tác hại rất nghiêm trọng – công trình nghiên cứu được tiến hành tại Thư viện Quốc hội cho thấy nếu giấy đã từng trải qua những dao động về nhiệt độ, thì quá trình phá huỷ hoá học của giấy đó diễn ra nhanh hơn so với giấy được cất tại nơi có nhiệt độ ổn định. Hơn nữa, giấy – giống như nhiều chất liệu khác – chứa chất hygroscopic, có nghĩa là nó có khả năng hấp thụ và toả hơi ẩm. Điều này có nghĩa là khi nhiệt độ tăng lên và độ ẩm tương đối giảm xuống, hơi ẩm sẽ được thải từ một hiện vật có chứa hygroscopic ra ngoài không khí, vì hiện vật này cố gắng duy trì trạng thái cân bằng. Khi nhiệt độ hạ xuống và độ ẩm tương đối lại tăng lên, hơi ẩm lại quay trở lại hiện vật. Quá trình này có thể gây ra một sức ép tự nhiên vì sự thay đổi tỷ lệ độ ẩm khiến cho chất liệu nở ra và co lại. Điều này gây tổn hại nghiêm trọng đến những chất liệu tổng hợp như nội thất và các tác phẩm nghệ thuật, và khiến cho sách báo và giấy tờ bị quăn queo và biến dạng (mặc dù trong một số trường hợp, sách báo và giấy tờ được bảo vệ tránh những dao động vừa phải của độ ẩm tương đối, vì những thay đổi về độ ẩm có thể gia tăng do điều kiện lưu trữ khép kín hay do sách báo bị đóng chặt với nhau[4].

Cuối cùng, các nhà quản lý lưu trữ phải nhận thức được rằng mặc dù không có  nguy cơ cụ thể nào gắn với môi trường lưu trữ ở nhiệt độ thấp (trên thực tế, việc lưu trữ trong điều kiện như vậy làm giảm đáng kể quá trình hư hỏng), song độ ẩm tương đối thấp lại gây tổn hại đến một số chất liệu khác. Lâu nay, người ta luôn lo ngại rằng giấy sẽ rất dễ bị hư hỏng nếu lưu giữ trong điều kiện độ ẩm tương đối thấp. Có công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng giấy có thể được sử dụng an toàn trong điều kiện độ ẩm tương đối khoảng 20%, hoặc 30% nếu nó bị gấp nếp; cho nên không nhất thiết phải lưu giữ ở những độ ẩm từ 40-50% mới bảo đảm mục tiêu an toàn. Đối với các chất liệu giấy da và phim  ảnh, nên duy trì độ ẩm tương đối thấp để tạo môi trường hoá học ổn định; song những chất liệu này không được lưu giữ ở độ ẩm dưới 30%. Đặc biệt, trong trường hợp giấy da, cần hết sức lưu ý tránh thay đổi môi trường nhanh chóng vì điều này có thể gây hư hỏng đối với hiện vật[5].

VIỆC KIỂM SOÁT MÔI TRƯỜNG, KHÍ HẬU RẤT TỐN KÉM – VẬY LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG ĐỦ TỐT?

Mặc dù giới lưu trữ, bảo tồn không thể thống nhất được với nhau về những tiêu chuẩn cụ thể đối với việc kiểm soát môi trường khí hậu khi lưu giữ những đồ vật làm từ giấy, song các nhà quản lý vẫn đạt được sự nhất trí về một số kết luận chung rút ra từ các công trình nghiên cứu, đó là:

  • Nhiệt độ trên 70oF và độ ẩm tương đối trên 55-60% sẽ kích thích nấm mốc và côn trùng phát triển.
  • Quá trình hư hỏng sẽ gia tăng tại những thái cực môi trường: độ ẩm cao làm gia tăng quá trình hình thành a-xít; độ ẩm tương đối dưới 30% có thể gây hại cho giấy, giấy da, chất kết dính, nhũ tương phim ảnh và các chất liệu khác.
  • Trong khoảng giới hạn này thì nhiệt độ và độ ẩm tương đối càng thấp càng tốt, với điều kiện chúng không dao động[6].

Bước đầu tiên nhằm hạn chế sự hư hỏng thông qua việc quản lý môi trường tốt mà cơ quan lưu trữ cần chú trọng là duy trì điều kiện môi trường ổn định trong suốt cả năm, nhiệt độ không được cao quá 70oF và độ ẩm tương đối từ 30-50%. Đây là những giá trị được đưa ra trong cuốn Nguyên tắc chỉ đạo về môi trường đối với việc lưu giữ hiện vật bằng giấy, một báo cáo kỹ thuật của Tổ chức Tiêu chuẩn Thông tin Quốc gia. Báo cáo này đã chỉ rõ rằng cần lựa chọn một tiêu chí có giá trị trong khoảng 30-50% đối với độ ẩm tương đối, điều này phụ thuộc vào yếu tố nào để hệ thống kiểm soát môi trường của cơ quan đó có thể duy trì ổn định lâu dài. Báo cáo này cũng đã lưu ý chúng ta rằng nhiệt độ không nên thay đổi vượt quá mức ±2oF và độ ẩm tương đối không nên lên xuống quá mức ±3% trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Nếu kiểm soát được những dao động này, sự tổn hại đối với hiện vật lưu trữ sẽ chậm hơn một cách đáng kể so với hàng loạt những điều kiện lưu trữ hiện nay tại nhiều khu vực khác nhau của Mỹ và Ca-na-đa.

Các cơ quan chịu trách nhiệm lưu trữ, bảo tồn lâu dài phải được cấp kinh phí khi cần để có thể đạt được điều kiện môi trường tối ưu. Ít nhất, ở những nơi cần phải có hệ thống sưởi cho mùa đông dài, nhiệt độ cũng nên giữ thấp ở mức nhân viên có thể chịu đựng được (giả thiết đã đạt được độ ẩm tương đối như mong muốn). Ở những nơi nhiệt độ và độ ẩm mùa hè cao, cần để các đồ vật lưu trữ có tầm quan trọng lâu dài trong phòng có điều hoà.

Không có trường hợp nào cần phải tắt thiết bị kiểm soát môi trường hay thay thế bằng máy điều chỉnh nhiệt dùng vào ban đêm, cuối tuần hoặc trong những thời gian khác khi kho lưu trữ không hoạt động. Những thay đổi nhanh chóng, lặp đi lặp lại khi thiết bị cố gắng chuyển khu vực lưu trữ từ điều kiện “đóng cửa” sang điều kiện “làm việc” gây ra áp lực lớn đối với các đồ vật lưu giữ ở đây. Ở một số khu vực, thời tiết khắc nghiệt và kinh tế khó khăn buộc các cơ quan phải đóng cửa vào mùa đông. Trong tình hình như vậy, không phải thời tiết lạnh gây tổn hại tới đồ vật lưu trữ, mà chính độ ẩm dễ thay đổi trong một toà nhà chưa thực sự được cách ly hay đóng kín để ngăn không khí ùa vào. Các biện pháp nhằm đông hoá các đồ vật lưu trữ đã được ứng dụng. Thêm vào đó, việc kiểm soát độ ẩm mùa đông bằng cách hạ thấp hơi nóng đồng thời sử dụng các thiết bị cảm biến về độ ẩm có thể sẽ có tác dụng.

Nếu mùa đông quá  khắc nghiệt, hệ thống sưởi trung tâm có thể làm giảm đáng kể độ ẩm tương đối trong một toà nhà. Ở nơi có thể lắp đặt hệ thống tạo độ ẩm, thì nên lắp hệ thống chạy bằng hơi nước, và luồng hơi phải sạch và độc lập với các hệ thống khác. Hầu hết hệ thống sưởi bằng hơi và nước nóng sử dụng các hoá chất chống ăn mòn để các ống dẫn không bị hư hỏng. Những hoá chất này có thể có hại cho nhân viên làm việc và đồ vật lưu trữ, nếu chúng bị phân tán trong không khí.

Dưới điều kiện độ ẩm cao kéo dài, thì máy điều hoà không khí thông thường sẽ không đủ để làm giảm độ ẩm. Vì vậy, cần theo dõi cẩn thận môi trường sử dụng điều hoà. Các hoá chất hút ẩm cũng có thể đưa những hoạt chất ráp gây hại vào không khí và chỉ nên sử dụng chúng trong trường hợp khẩn cấp. Sẽ lý tưởng hơn nếu ta bổ sung thêm một máy thổi mát.

Duy trì những điều kiện hoàn hảo là điều khó thực hiện và tốn kém, đặc biệt ở khí hậu phía bắc chịu ảnh hưởng của mùa hè nóng nực, ẩm ướt và mùa đông lạnh giá, khô hanh. Hướng dẫn NISO đã chi tiết hoá các bước cho phép nhiệt độ và độ ẩm tương đối từ từ tăng lên (tức là thay đổi dần dần theo cùng một hướng) 3oF hay độ ẩm tương đối 3% mỗi tháng, theo sự chuyển mùa. Sự dao động tối đa cho phép hàng ngày là ±2oF và độ ẩm tương đối ±3%. Việc theo dõi chặt chẽ là điều cần thiết để phát hiện chính xác những thay đổi này.

BẰNG CÁCH NÀO ĐỂ XÁC ĐỊNH LIỆU MÔI TRƯỜNG CÓ ĐẠT YÊU CẦU KHÔNG?

Cách duy nhất để biết môi trường khí hậu nào đang tồn tại trong toà nhà của bạn là đo và ghi lại nhiệt độ và độ ẩm tương đối bằng các thiết bị được thiết kế để phục vụ cho mục đích này. Điều này cần được tiến hành một cách có hệ thống ở những nơi lưu trữ những đồ vật có giá trị lâu dài. Một bản tường trình cụ thể, chính xác có thể giúp cho việc kiểm soát môi trường khí hậu, không phải dự trù những giả thuyết mà đi thẳng vào những mục tiêu mang tính thực tế nhằm cải thiện điều kiện của kho lưu trữ hay phòng trưng bày. Điều này thường hữu ích, mang tính thuyết phục đối với những người có thâm niên được quyền quyết định vấn đề môi trường khí hậu hiện tại của toà nhà một cách có căn cứ, chứ không ảo tưởng.

Cùng với việc lập hồ sơ về điều kiện môi trường hiện tại, một chương trình theo dõi có thể hướng dẫn và ghi nhận tác động của những thay đổi khi vận hành các thiết bị kiểm soát môi trường sẵn có. Hệ thống sưởi, thông gió và điều hoà không khí (HVAC) hiếm khi được sử dụng một cách tối ưu, thậm chí cả khi tất cả các thiết bị này đã được lắp đặt. Một kỹ sư chuyên bảo dưỡng toà nhà hay nhà thầu phụ trách hệ thống HVAC có thể thường xuyên cải thiện hoạt động của hệ thống, nếu luôn có những thông tin cụ thể cho thấy tác động của việc thay mới các bộ ổn nhiệt, bộ lọc khí, hay thậm chí sắp xếp lại đồ nội thất để làm thông các lỗ thông hơi.

Nếu thiết bị kiểm soát môi trường được thiết kế nhằm tạo ra những điều kiện lý tưởng, song các vấn đề vẫn không giải quyết được bằng những sửa chữa đơn giản và bảo trì thường xuyên, thì cần lấy lại sự cân bằng cho hệ thống một cách  có chuyên môn. Đây là một quá trình bao gồm việc đo lại luồng khí và các đặc tính khác của hệ thống HVAC; đòi hỏi phải có một kỹ sư kiểm soát môi trường khí hậu chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn cao.

 Nếu điều kiện không thể cải thiện được với thiết bị hiện có, một chương trình theo dõi cần lập hồ sơ về tính chất nghiêm trọng của vấn đề và đề xuất nhu cầu trang bị thêm máy móc thiết bị. Trường hợp khả quan nhất thì chương trình này sẽ chỉ rõ rằng thiết bị kiểm soát môi trường hiện có đang hoạt động tốt và đảm trách được khối lượng công việc theo yêu cầu. Chương trình cũng xác định được những vấn đề nhất thời đôi lúc phát sinh.

NÊN THEO DÕI MÔI TRƯỜNG KHÍ HẬU NHƯ THẾ NÀO?

Có rất nhiều thiết bị khác nhau sẵn có để đo nhiệt độ và độ ẩm tương đối. Song có thể chia chúng thành hai loại: loại có thể đo nhanh (như thông số về điều kiện môi trường tại một thời điểm cụ thể) và loại đưa ra một dãy thông số nối tiếp nhau về điều kiện môi trường. Mỗi cơ quan cần  phân tích nhu cầu và khả năng của từng đơn vị để quyết định thiết bị theo dõi nào là phù hợp nhất. Dưới đây là những thiết bị phổ biến nhất[7].

Thiết bị theo dõi nhanh “Snapshot” gồm:

  1. Nhiệt kế có thể cung cấp những thông tin chính xác về nhiệt độ với giá khoảng 10 đô la/1 chiếc. Nhiệt kế kiểm tra dùng trong khoa học luôn có bán, song về mức độ chính xác, một nhiệt kế tiêu chuẩn đo được cả điều kiện môi trường sắp tới trong toà nhà sẽ thoả mãn được thị hiếu của người tiêu dùng. Hầu hết các thiết bị đo độ ẩm tương đối đều có lắp đặt thêm một bộ cảm ứng nhiệt, vì độ ẩm tương đối chỉ là một phần của nhiệt độ không khí chỉ lượng hơi ẩm có trong không khí.
  2. Dụng cụ đo độ ẩm kiểu đĩa số đơn giản luôn có bán tại hầu hết các cửa hàng đồ điện với giá 15 đô la hoặc thấp hơn, là một cách tiết kiệm để đo độ ẩm tương đối, song không nên sử dụng thiết bị này vì có thể không chính xác và hầu hết đều không kiểm tra lại được. Chỉ ngoại trừ dụng cụ đo độ ẩm đĩa số sử dụng “màng liên kết của động vật” có độ chính xác cao hơn.
  3. Dải băng hay thẻ màu chỉ độ ẩm là một thiết bị theo dõi độ ẩm khác cũng có chi phí thấp (giá từ 1-5 đô la một dải). Một số dải có thể lộn lại nên tái sử dụng được, trong khi những loại khác chỉ dùng một lần. Dải băng chỉ độ ẩm chỉ cung cấp những thông số áng chừng; để chắc chắn, các thông số hiển thị chỉ ra các điều kiện môi trường cực cao hoặc cực thấp.
  4. Thiết bị đo độ ẩm treo dây (giá khoảng 100 đô la) là thiết bị ít tốn kém nhất có khả năng đo độ ẩm tương đối chính xác. Gồm hai nhiệt kế đặt song song. Bầu nhiệt kế thứ nhất được bọc bởi một chiếc bấc, được người sử dụng dùng nước cất làm ướt. Thiết bị này lúc lắc, mỗi giây quay một vòng trong khoảng vài phút để lấy thông số chính xác. Kết quả luồng không khí đi qua chiếc bấc ướt sẽ làm mát nhiệt kế thứ hai, và sự khác biệt giữa nhiệt độ của bầu khô và bầu ướt được sử dụng để đo độ ẩm tương đối.
  5. Mặc dù điều kiện môi trường có thể được xác định nhờ sử dụng thiết bị này (vài lần trong một ngày), song tính chính xác ở đây còn phục thuộc vào cách thiết kế công cụ và kỹ năng của người sử dụng. Những người phụ trách việc theo dõi cần thực hành cách sử dụng cho đến khi đọc được thành thạo các chỉ số này .
  6. Lợi thế chính của thiết bị này là chi phí thấp và gọn nhẹ. Một thiết bị có thể được sử dụng ở nhiều khoảng không gian trong một ngày. Tuy nhiên, bất lợi là tính thiếu chính xác nếu người sử dụng không có kỹ năng, các vấn đề xảy ra khi đo lại và thực tế cho thấy một chương trình theo dõi dựa trên các thông số tức thời sẽ không thể cung cấp các thông tin quan trọng như tốc độ và tần suất của những chuyển biến trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Những thiết bị này chỉ là hình ảnh phác hoạ về môi trường, dựa trên sự điều khiển của con người, mà đôi khi người đó không thể có ở đó để cập nhật thông tin vào lúc đêm hôm, vào những ngày nghỉ khi mà điều kiện khí hậu đạt đến cực đại. Để việc so sánh có hiệu quả, việc đo lường này cần phải được thực hiện đồng thời và ở những địa điểm giống nhau trong ngày
  7. Thiết bị đo độ ẩm chạy pin (quạt mô-tơ) hoạt động giống như nguyên tắc của thiết độ đo độ ẩm treo dây, nhưng dùng một quạt chạy mô-tơ để tạo luồng không khí. Thiết bị này có giá vừa phải (khoảng 150 đô la trở lên), ít bị lỗi và có thể dịch chuyển thuận tiện để theo dõi nhiều khoảng không gian khác nhau. Song thiết bị này cũng khó có thể đo được những điều kiện môi trường ở các thái cực khác nhau và sự thay đổi nhanh chóng trong môi trường, vì còn tuỳ thuộc vào người sử dụng. Luôn phải có sẵn pin thay thế.
  8. Máy đo nhiệt độ/độ ẩm điện tử là một thiết bị cầm tay khác, có một bộ phận cảm ứng kiểm tra để đo độ ẩm tương đối tại một nhiệt độ nhất định. Nhiều thiết bị có màn hiển thị bằng tinh thể lỏng cho biết độ ẩm tương đối và nhiệt độ trong phòng. Thiết bị này có giá từ 300 đô la trở lên và cũng phụ thuộc vào thời gian và tần suất đo. Mặc dù thiết bị có độ chính xác cao và dễ sử dụng, nhưng một vài loại có giá thành rẻ hơn chỉ có thể đạt độ chính xác từ ±3-5% và phải mất nhiều phút để phản ứng trước những thay đổi về độ ẩm tương đối. Những thiết bị này cần được kiểm tra định kỳ theo gợi ý của nhà sản xuất.
  9. Nhiệt kế kỹ thuật số đo ở mức tối đa/hay tối thiểu là thiết bị chạy pin bao gồm bộ cảm ứng nhiệt và độ ẩm tương đối với một con chíp vi tính luôn lưu giữ bộ nhớ về các giá trị tối thiểu và tối đa cho đến khi được người dùng đặt lại. Giống như các công cụ đo lường tức thời khác, thiết bị này cung cấp thông tin về điều kiện môi trường vào một thời điểm nhất định, nhưng chúng cho phép ghi lại các điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thấp nhất và cao nhất qua những khoảng thời gian nhất định. Người theo dõi phải ghi lại những thông số này và đặt lại thiết bị đo một lần mỗi ngày. Chỉ số về độ ẩm chỉ chính xác ở mức khoảng ±5% (ở mức nhiệt độ trung bình – độ chính xác có thể giảm tại các thái cực của nhiệt độ), song thiết bị này có thể cung cấp thông tin phác thảo ban đầu về điều kiện môi trường khí hậu. Thiết bị có bán với mức giá dưới 70 đô la qua một số nhà cung cấp.

Các thiết bị theo dõi liên tục gồm:

  1. Nhiệt độ biểu kế là sự lựa chọn tiêu chuẩn để theo dõi nhiệt độ và độ ẩm tương đối. Gồm có những đặc tính sau:
  • + Nhiệt độ biểu kế sử dụng một nhúm tóc người để đo độ ẩm tương đối và một thiết bị lưỡng kim để đo nhiệt độ.
  • + Các bộ cảm ứng được gắn với những chiếc bút ghi lại những thay đổi liên tục trên một biểu đồ đơn giản – những chiếc bút này được lắp theo kiểu băng đạn dễ dàng thay thế được.
  • + Biến số tối thiểu có thể chấp nhận được đối với tính chính xác về nhiệt độ là ±2oF; về độ ẩm tương đối là ±5% (±3% thì lý tưởng nhất). Cần bảo đảm rằng thiết bị sẽ phải hoạt động trong hầu hết mọi điều kiện môi trường của toà nhà.
  • + Máy đo nhiệt độ luôn sử dụng các bảng biểu đồ tròn, song biểu đồ tuyến tính (còn được gọi là biểu đồ trống) cũng được ưa chuộng hơn vì dễ đọc.
  • + Máy đo nhiệt độ cần có nhiều tốc độ, như sử dụng các biểu đồ 24 giờ, 7 giờ, hoặc 1 hay 2 tháng. Mặc dù các biểu đồ theo ngày hoặc tuần cung cấp các thông số chi tiết nhất, song biểu đồ theo tháng cũng rất có ích trong trường hợp nhân viên không thể thay biểu đồ thường xuyên được.
  • Đối với một máy đo nhiệt độ có những tính năng nêu trên, chi phí mua có thể vào khoảng từ 700 đô la/một chiếc. Nếu không gian theo dõi quá rộng, máy đo nhiệt độ có thể được di chuyển khi cần, song nên đặt thiết bị tại mỗi khu vực trong vòng ít nhất vài tuần lễ của một mùa.
  • Việc bảo dưỡng thường xuyên thực sự cần thiết đối với máy đo nhiệt độ. Cần sử dụng tấm phủ để bảo vệ máy khỏi bụi và thiết bị cần được lau chùi định kỳ theo chỉ dẫn sử dụng. Cần làm ẩm định kỳ nhúm tóc người, có lẽ khoảng một năm một lần. Máy đo nhiệt độ cũng cần được kiểm tra thường xuyên (thông thường ít nhất một tháng một lần và mỗi khi di chuyển) sử dụng thiết bị đo ẩm chạy pin hay dụng cụ đo ẩm chạy điện có chất lượng tốt. Nếu một thiết bị không được kiểm tra thường xuyên, thì tỷ lệ ngừng hoạt động của nó lên đến 10-20%. Cả hai việc làm ẩm và kiểm tra lại cần theo chỉ dẫn của nhà sản xuất là tốt nhất. Nhúm tóc người cũng cần thay thế trong vòng 3 đến 5 năm – hoặc theo gợi ý của nhà sản xuất.
  1. Máy ghi số liệu tự động (Dataloggers) là thiết bị chạy pin có kích cỡ bằng chiếc đài cát-xét. Thiết bị này có các bộ cảm ứng điện tử và một con chíp vi tính để ghi lại nhiệt độ và độ ẩm tương đối tại từng thời điểm cách quãng do người sử dụng quyết định. Số liệu được truyền từ máy ghi số liệu sang máy tính cá nhân qua một đường cáp dẫn. Một khi số liệu đã được cập nhật, bộ phần mềm đi liền với máy ghi số liệu sẽ cho phép người sử dụng lập các bảng biểu và biểu đồ theo ý muốn mô phỏng các điều kiện môi trường theo thời gian. Đây là ưu điểm vượt trội của thiết bị này so với máy đo nhiệt độ khi biểu đồ số liệu thu được phải lập bằng tay để phân tích.

Một số vấn đề cần cân nhắc khi mua một máy ghi gồm:

  • + Tần suất đo lường và cập nhật số liệu. Một máy ghi số liệu không thể theo dõi liên tục như nhiệt độ biểu kế – hầu kết các máy ghi chỉ có thể đo tại từng thời điểm cách quãng từ một vài giây đến một vài tiếng. Đo với mật độ cao sẽ chiếm nhiều bộ nhớ của máy hơn, đòi hỏi phải cập nhật số liệu thường xuyên hơn và phải có thêm thời gian để bảo quản máy.
  • + Hiển thị liên tục thông tin về điều kiện môi trường khí hậu. Tăng số lượng máy ghi, song không chỉ có vậy đã thực hiện được mục tiêu này.
  • + Tính chính xác của các bộ cảm ứng điện tử. Một số máy ghi sử dụng các bộ cảm ứng có độ chính xác thiên về nhiệt độ – nghĩa là máy ghi có độ chính xác 3% đối với độ ẩm tương đối trong hầu hết các điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm, nhưng cũng có một số bộ cảm ứng không có khả năng này. Một số bộ cảm ứng có thể có “độ trễ” từ 4-5 phút nếu độ ẩm giảm xuống – đây cũng là một bất lợi nếu cần thường xuyên lấy các mẫu phân tích.

Giá cả máy đo nhiệt độ cũng rất khác nhau, ta có thể mua với giá từ 500 đô la trở lên. Các bộ cảm ứng điện tử cần được kiểm tra định kỳ theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Giống như máy đo nhiệt độ, một máy ghi số liệu tự động có thể được di chuyển tới nhiều nơi, song phải lập hồ sơ cẩn thận về thời điểm di chuyển cho phù hợp với số liệu tương ứng.

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THIẾT BỊ CẦN MUA?

Đối với các cơ quan, tổ chức nhỏ, chi phí là vấn đề chính cần xem xét. Nhìn vào các catalog quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của một số nhà cung cấp và so sánh tính năng cũng như giá cả của thiết bị. Nếu nhiều catalog giới thiệu sản phẩm không đưa ra đầy đủ các thông tin cần thiết, thì hãy đặt các câu hỏi. Thảo luận với các đồng nghiệp cùng triển khai chương trình kiểm soát môi trường khí hậu.

Để có đầy đủ thông tin trước khi đi đến quyết định, cần đặt ra những câu hỏi quan trọng dưới đây:

  1. Tại sao bạn cần những thông tin này? Nếu bạn đang lập hồ sơ về ảnh hưởng của việc thay đổi thiết bị kiểm soát môi trường, bạn cần một nhiệt độ biểu kế liên tục ghi lại những thay đổi nhỏ về nhiệt độ và độ ẩm tương đối. Nếu việc kiểm soát môi trường trong toà nhà bị hạn chế do hệ thống sưởi hơi nước trong mùa đông, và bạn muốn chứng minh rằng điều kiện môi trường lưu trữ đang ra khỏi những giới hạn cho phép, máy đo độ ẩm treo dây có thể là một bước đi đầu tiên đủ đáp ứng yêu cầu của bạn.
  2. Loại điều kiện môi trường khí hậu nào mà thiết bị này cần đo? Nếu bạn đang theo dõi một toà nhà không có hệ thống sưởi trong suốt một năm ở vùng bờ biển Maine, nhiệt độ có thể xuống dưới 0oF và tăng lên trên 90o Độ ẩm tương đối trong một toà nhà có hệ thống sưởi, nhưng không có điều hoà không khí, có thể từ chưa đầy 10% tới gần 100%. Liệu thiết bị của bạn có ghi lại được toàn bộ những thay đổi với biên độ rộng như vậy không? Và có cần phải làm thế không?
  3. Số liệu đo lường của bạn cần độ chính xác ở mức nào? Nếu bạn không có thiết bị kiểm soát môi trường khí hậu tinh vi, hoặc nếu bạn lưu trữ những đồ vật không có giá trị, thì chỉ cần những thiết bị có độ nhạy cảm thấp hơn. Ngược lại, nếu bạn đang theo dõi một trường hợp để thay đổi thiết bị hay quy trình hoạt động, và tăng kinh phí bảo quản, bạn cần đệ trình một bản báo cáo thông số hết sức chính xác.
  4. Bạn có cần ghi lại các thông tin khi toà nhà không hoạt động không? Nếu bạn đang đo lường những thay đổi trong môi trường do việc thay thế các chế độ kiểm soát môi trường vào ban đêm và cuối tuần, cần có một thiết bị theo dõi liên tục.
  5. Nhu cầu kiểm tra, vận hành và bảo dưỡng thuận tiện tới mức nào? Ai sẽ là người đảm nhận những nhiệm vụ này và trình độ của họ ra sao? Liệu bạn có đủ kinh phí để mua cả thiết bị ghi thông tin lẫn thiết bị kiểm tra không?
  6. Thiết bị của bạn phải hoạt động trong bao lâu? Liệu có tồn tại tình trạng sử dụng bất cẩn và người sử dụng không được đào tạo không?
  7. Nguồn cung cấp năng lượng cho thiết bị là gì? Liệu toà nhà của bạn có thể cấp điện ổn định hay bạn phải cần tới thiết bị chạy pin?
  8. Liệu thiết bị này có cung cấp cho bạn những thông tin bạn cần cho chương trình theo dõi của bạn không?

NHỮNG THỨ CẦN THIẾT NGOÀI THIẾT BỊ RA?

Việc theo dõi phải được phân công cho một người cụ thể trong cơ quan. Bên cạnh đó, cần phải đào tạo một thành viên hỗ trợ để đảm đương công việc trong trường hợp người kia vắng mặt hoặc đi nghỉ?

Một chương trình theo dõi hiệu quả gồm có một bản kế hoạch được soạn thảo trên giấy về việc thu thập thông tin và bảo dưỡng thiết bị. Kế hoạch này cần xác định rõ các khoảng không gian cần theo dõi, quy trình thực hiện và các hình thức ghi nhận thông tin cần thiết.

Nếu việc theo dõi phụ thuộc vào một cá nhân thay vì vào một thiết bị ghi nhận tự động, cố gắng thu nhặt được nhiều nhất các biến số về điều kiện môi trường khí hậu: tiến hành đo lường điều kiện môi trường khí hậu tại các điểm cao nhất và thấp nhất có thể. Với những mục tiêu mang tính thiết thực, thì chỉ cần chọn các thời điểm thích hợp vào buổi sáng và buổi trưa hoặc vào lúc 5 giờ chiều tại hầu hết các thư viện hay viện bảo tàng.

Với những mục tiêu đặc biệt ngoại lệ thì việc lắp đặt những thiết bị ghi nhận tự động là hết sức cần thiết để đo lường các điều kiện môi trường khí hậu hiện có. Các thiết bị này cần được đặt cao trên mặt sàn, xa các lỗ thông khí, thiết bị sưởi/làm mát/tạo độ ẩm cũng như cửa ra vào và cửa sổ.

Các số liệu ghi nhận về điều kiện thời tiết và các sự kiện đặc biệt (như  việc mở cửa phòng trưng bày thu hút số lượng khách thăm quan tăng vọt làm thay đổi nhiệt độ và độ ẩm tương đối trong một không gian; hoặc nồi hơi hay hệ thống điều hoà không khí bị hỏng) cần được cập nhật liên tục để những thay đổi ghi nhận được có thể diễn giải một cách chính xác nhất. Những thông số ghi nhận về thời tiết từng vùng luôn được lưu tại Cơ quan quản lý Đại Dương và Khí hậu quốc gia (NOAA), ở Washington DC. Những loại thông tin này cũng có thể lấy tại trạm khí tượng địa phương hay tại sân bay cũng ở địa phương này.

Nếu chỉ có một số lượng hạn chế các nhiệt độ biểu kế hay máy ghi dữ liệu, thì để lập được hồ sơ tương đối chính xác về các điều kiện môi trường khí hậu tại một số không gian có thể được tiến hành bằng cách đặt mỗi thiết bị ở một khu vực trong vòng vài tuần mỗi mùa. Cuối mỗi năm, các số liệu ghi nhận được sẽ cho biết điều kiện môi trường điển hình ở mỗi nơi. Cần có chuyên gia tư vấn có chuyên môn chịu trách nhiệm đọc các số liệu đo được. Các thông tin quan trọng nhất là số liệu về sự biến thiên tối đa của nhiệt độ và độ ẩm tương đối, cũng như tốc độ và mức độ thay đổi của môi trường khí hậu.

Mỗi biểu đồ (hoặc mô hình của một chương trình theo dõi viết tay) cần gắn kèm với số liệu đo đạc của từng nơi và ngày tháng tiến hành, đề xuất của người theo dõi cũng như thông tin kiểm tra (như ngày tháng, thời gian và thiết bị thay thế) nếu có thay đổi. Việc đọc các thông số từ các biểu đồ của nhiệt độ biểu kế sẽ dễ dàng hơn nếu thường được ghi lại bằng một biểu đồ chạy, cho biết mức độ cao thấp, những dao động và tần suất dao động. Việc này cần thực hiện mỗi tuần (hoặc tháng) khi thay biểu đồ.

BẠN CẦN LÀM GÌ MỘT KHI ĐÃ XÁC ĐỊNH RÕ NHỮNG THIẾT BỊ MÌNH ĐANG CÓ?

Các biện pháp xử lý nhằm cải tạo điều kiện môi trường cho bảo tàng, thư viện và các nơi lưu trữ tư liệu bao gồm: (1) thiết lập hệ thống kiểm soát môi trường trung tâm; (2) sử dụng các máy điều hoà không khí, máy tạo ẩm và/hoặc máy hút ẩm gọn nhẹ; (3) chuyển đồ lưu trữ ra khỏi các phòng áp mái, nơi mà không khí thường nóng nực, hoặc tầng hầm nơi môi trường ẩm ướt; (4) tạo ra các không gian lưu trữ được cách biệt; và/hoặc (5) cải tạo môi trường cách ly và các cửa đóng kín của toà nhà. Một ghi nhớ hết sức quan trọng nữa là giữa nhiệt độ và độ ẩm tương đối có mối liên hệ mật thiết với nhau và việc điều chỉnh một nhân tố sẽ làm thay đổi trạng thái cân bằng của các nhân tố quan trọng khác (ví dụ, một máy hút ẩm có thể sản sinh ra một lượng hơi nóng đủ để buộc phải có nhu cầu làm mát thêm không khí). Nếu biện pháp xử lý nhằm cải thiện tình hình được tiến hành mà không cân nhắc tới mọi ảnh hưởng tới môi trường, thì kết quả có thể trái ngược lại, không cải thiện lên được. Điều quan trọng ở đây là biết được (từ các số liệu đo đạc đã ghi được) điều kiện môi trường nào đang tồn tại hiện nay và có được tư vấn của một kỹ sư kiểm soát môi trường khí hậu có kinh nghiệm làm việc tại các cơ quan lưu trữ, trước khi thực hiện những thay đổi lớn. Cũng không phải là quá khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi liên tục điều kiện môi trường khí hậu sau khi đã có thay đổi.

Trong việc lựa chọn chuyên gia tư vấn về kiểm soát môi trường, cần tìm những người mà trong số khách hàng của họ có các thư viện, cục lưu trữ, viện bảo tàng, hoặc các cơ quan lưu trữ hiện vật có giá trị lâu dài. Nếu ở địa phương không có người có kinh nghiệm cụ thể như vậy, thì cần tìm một kỹ sư có kinh nghiệm kiểm soát môi trường tại các phòng vi tính, vì đây cũng là những nơi có yêu cầu cao.

Đối với các mục tiêu bảo tồn, thì chính hiện vật lưu trữ mới là quan trọng, chứ không phải sự tiện nghi của con người vốn ít nhạy cảm hơn nhiều với môi trường. Một thiết kế lý tưởng cho một khách sạn hay khu mua bán sẽ không thích hợp cho các cuốn sách từ thế kỷ 19, một toà nhà lâu năm, hay một viện bảo tàng. Lấy ý kiến tham khảo từ khách hàng, những người có nhu cầu tương tự nhu cầu của bạn, và trò chuyện với những khách hàng về thành công hay thất bại của hệ thống được thiết kế cho họ. Bảo đảm rằng chuyên gia tư vấn của bạn hiểu rõ điều kiện môi trường nào là lý tưởng cho bạn và đâu là những yêu cầu tối thiểu phải đạt được.

Việc xác định được giới hạn cho phép về các điều kiện môi trường của toà nhà cũng rất quan trọng trước khi đưa ra các quyết định về việc kiểm soát môi trường khí hậu. Ở khía cạnh này, một lần nữa, không thể thiếu sự tư vấn của kỹ sư kiểm soát môi trường khí hậu, hay kiến trúc sư bảo tồn, những người có kinh nghiệm về các yêu cầu lưu trữ. Những toà nhà không được bảo quản tốt, do lâu năm và phần nề cũ có thể bị hư hỏng với những thay đổi lớn như việc lắp đặt các hệ thống sưởi trung tâm hay tạo ẩm. Những toà nhà như vậy có thể cần nâng cấp để phù hợp với yêu cầu của các hiện vật lưu trữ trong đó; hoặc, cần sắp xếp lại các hiện vật lưu trữ để tạo điều kiện phù hợp cho việc bảo tồn.

Một chương trình theo dõi có hệ thống một cách thích hợp, được thực hiện một cách có hiệu quả là một trong những biện pháp tốt nhất giúp cho cơ quan thành công trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để các hiện vật lưu trữ tồn tại lâu dài. Chương trình này, chỉ bản thân nó không thể giải quyết được những khó khăn của việc quản lý môi trường khí hậu, song nó là công cụ tin cậy duy nhất giúp cho việc đưa ra quyết định lựa chọn một môi trường khí hậu lý tưởng.

Beth Lindblom Patcus

Chuyên gia tư vấn về Bảo quản –  Walpole, MA

THƯ MỤC

Kerschner, Richard L., and Jennifer Baker. Practical Climate Control: A Selected,

Annotated Bibliography. Online at:

http://palimpsest.stanford.edu/byauth/kerschner/ccbiblio.html.

A good bibliography of alternative strategies to standard heating, venting, and air

conditioning (HVAC) systems that includes books, conference proceedings, and articles.

 

Lull, William P., with the assistance of Paul N. Banks. Conservation Environment

Guidelines for Libraries and Archives. Ottawa, ON: Canadian Council of Archives, 1995. Available from Canadian Council of Archives, 344 Wellington St., Room 1009, Ottawa, ON, K1A 0N3, Canada.

A fundamental and highly recommended guide to criteria, assessment, monitoring, and goals for creating or improving environmental conditions for the preservation of collections. Should be read and understood by library staff, architect, and systems designer prior to design phase. Discusses building systems, cost trade-offs, responsible compromises, and steps in the planning, design, and construction process. Provides a glossary of common terms used in design and construction of the building systems.

 

National Information Standards Organization. Environmental Guidelines for the Storage of Paper Records. Technical Report NISO-TR01-1995. Bethesda, MD: NISO Press, 1995, p. 1.

Not a standard, but provides guidelines for storage conditions and gives a summary of research into the effect of temperature and RH on paper-based collections. Available for $35 plus $5 shipping from: NISO Press Fulfillment, PO Box 338, Oxon Hill, MD, 20750-0338; 800 282-NISO (6476). http://www.niso.org.

 

Padfield, Tim. An Introduction to the Physics of the Museum Environment. Online at: http://www.natmus.dk/cons/tp/index.htm.

An online book-in-progress, with various chapters on controlling humidity in museums. Includes a chapter on data loggers and climate sensors.

 

Reilly, James. IPI Storage Guide for Acetate Film. Rochester, NY: Image Permanence Institute (IPI), 1993, 24 pp. Available from IPI, Frank E. Gannett Memorial Building, P.O. Box 9887, Rochester, NY 14623.

Discusses the affect of temperature and relative humidity on acetate film, provides tools to help project the life expectancy of film-based materials, and identifies film

preservation strategies.

 

Reilly, James M., Douglas W. Nishimura, and Edward Zinn. New Tools for Preservation: Assessing Long-Term Environmental Effects on Library and Archives Collections. Washington, DC: Commission on Preservation and Access, November 1995. Available for $10 from: CLIR Publication Orders, 1755 Massachusetts Avenue, NW, Suite 500, Washington DC, 20036-2124; (202) 939-4750 or fax (202) 939-4760 or e-mail info@clir.org or http://www.clir.org.

Describes and explains the Image Permanence Institute’s “time-weighted preservation index,” a tool that demonstrates the effect of temperature and humidity on the life-expectancy of paper.

 

Sebera, Donald K. Isoperms: An Environmental Management Tool. Washington, DC: Commission on Preservation and Access, June 1994. Online at:

http://www.clir.org/pubs/reports/isoperm/isoperm.html.

Detailed explanation of the “isoperm” method for quantifying the effect of temperature and relative humidity on the lifespan of paper collections. The basis for IPI’s “Storage Guide for Acetate Film” and “New Tools for Preservation,” described above.

 

Smithsonian Institution Press Office, “Work of Smithsonian Scientists Revises

Guidelines for Climate Control in Museums and Archives,” and McCrady, Ellen,

“Temperature & RH Guidelines Challenged by Smithsonian.” Both in Abbey Newsletter, Volume 18, Number 4-5 (Aug-Sep 1994) (http://palimpsest.stanford.edu/byorg/abbey/an/an18/an18-4/).

This 1994 Smithsonian press release initiated a controversy over recommendations for temperature and humidity levels in museums, libraries, and archives.

 

Erhardt, David, Marion F. Mecklenburg, Charles S. Tumosa, and Mark

McCormick-Goodhart, “The Determination of Allowable RH Fluctuations,” online at http://palimpsest.stanford.edu/waac/wn/wn17/wn17-1/wn17-108.html;

 

Lull, William P., “Further Comments on Climate Control Guidelines,” online at

http://palimpsest.stanford.edu/waac/wn/wn17/wn17-1/wn17-111.html; and Real, William A.,

“Some Thoughts on the Recent CAL Press Release on Climate Control for Cultural

Collections,” online at http://palimpsest.stanford.edu/waac/wn/wn17/wn17-1/wn17-110.html; all in WAAC Newsletter 17(1) (January 1995).

The first article provides an overview of the Smithsonian Conservation Analytical

Laboratory research on climate control, while the others question recommendations made by a Smithsonian press release describing the research. For further discussion of this controversy, see WAAC Newsletter Volume 18, Number 3 (September 1996), online at http://palimpsest.stanford.edu/waac/wn/wn18/wn18-3/.

 

 

Chú thích

[1]Barbara Appelbaum, Hướng dẫn việc bảo vệ đồ vật lưu trữ trên khía cạnh môi trường (Madison, CT: Báo Sound View, 1991), trang 25. Appelbaum đã miêu tả xuất sắc về độ ẩm tương đối, quan hệ của nó với nhiệt độ và tác động của chúng lên các đồ vật lưu trữ ở mọi chủng loại.

[2] James M. Reilly, Doughlas W. Nishimura và Edward Zinn, Các công cụ bảo tồn mới: Đánh giá Tác động lâu dài của Môi trường đối với các đồ lưu trữ tại thư viện và kho tư liệu (Washington, DC: Uỷ ban Bảo tồn và Tiếp cận, tháng 11/1995), trang 7.

[3] Reilly, và những người khác, trang 7.

[4] Reilly, và những người khác, trang 20.

[5] Tổ chức Tiêu chuẩn Thông tin Quốc gia, Nguyên tắc chỉ đạo về môi trường đối với việc lưu trữ giấy tờ, Báo cáo kỹ thuật NISO-TR01-1995 (Bethesda, Báo MD NISO, 1995), trang 1. Báo cáo này đã tóm tắt rất tốt những kết luận rút ra từ nghiên cứu gần đây về tác động của nhiệt độ và độ ẩm tương đối lên các đồ lưu trữ làm từ giấy.

[6] Năm 1994, Viện Smithsonia đã có một xuất bản báo chí gây tranh cãi, với xu hướng trái ngược với kết luận này. Bài viết khẳng định rằng nghiên cứu của các nhà khoa học tại Phòng Thí nghiệm Phân tích về Bảo tồn của Viện cho thấy sự dao động ở diện rộng hơn của nhiệt độ và độ ẩm tương đối so với mức độ gợi ý ở trên lại có thể chấp nhận được đối với hàng loạt đồ lưu trữ tại viện bảo tàng. Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu quan tâm tới những hư hỏng về mặt cơ học đối với đồ lưu trữ – thay vì sự hư hỏng về hoá học, mà đây mới chính là nguyên nhân chính gây hư hỏng giấy – và vì thế chỉ có khả năng ứng dụng hạn chế đối với các đồ lưu trữ tại thư viện và kho tư liệu. Các bài báo cung cấp thêm thông tin về cuộc tranh cãi của Smithsonia được trích dẫn ở phần cuối của tờ này.

[7] Xem “Xây dựng một Chương trình Theo dõi Môi trường”, của William P. Lull (Princeton Junction, NJ: Garrison, Lull, Inc., tháng 9/1995), bổ sung vào cuộc tranh luận về việc theo dõi về Nguyên tắc chỉ đạo về Môi trường Bảo tồn đối với các Thư viện và Kho lưu trữ, mà nội dung đó được sử dụng ở đây.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *