Trang chủ / Kỹ năng nghề nghiệp / Bảo vệ tài liệu giấy tránh những hư hại do anh sáng gây ra

Bảo vệ tài liệu giấy tránh những hư hại do anh sáng gây ra

Ánh sáng là nguyên nhân phổ biến gây hư hại cho các bộ sưu tập ở thư viện và cơ quan lưu trữ. Giấy, bìa sách và các vật phẩm (mực, chất bắt sáng trên mặt tấm ảnh, thuốc nhuộm, chất sắc tố và nhiều vật liệu khác được sử dụng để tạo nên chữ viết và hình ảnh) đặc biệt nhạy cảm với ánh sáng. Ánh sáng gây hư hại bằng nhiều cách. Nó có thể làm giấy phai màu, ố vàng hay xỉn đen; làm yếu và giòn các sợi cellulo cấu tạo nên giấy. Nó khiến cho các vật phẩm và chất nhuộm trong tài liệu, ảnh và các tác phẩm nghệ thuật bị nhạt màu hoặc đổi màu. Hầu hết chúng ta đều nhận thấy sự phai màu là do ánh sáng gây ra, nhưng đó chỉ là dấu hiệu bề ngoài của những gì mà ánh sáng gây ra đối với cấu trúc vật lý và cấu trúc hoá học của những vật thể sưu tập. Ánh sáng cung cấp năng lượng cho những phản ứng hoá học có hại. Mọi người đều biết rằng tia cực tím (UV) có tính huỷ hoại đáng kể, nhưng cũng cần phải nhớ thêm rằng mọi ánh sáng đều có tác hại. Ảnh hưởng của ánh sáng mang tính tích luỹ và không thể đảo ngược.

 BẢN CHẤT CỦA ÁNH SÁNG

Ánh sáng là một dạng năng lượng điện từ gọi là bức xạ. Những bức xạ chúng ta biết đến trong khoa học nguyên tử ở những bước sóng ngắn hơn nhiều so với quang phổ ánh sáng; sóng radio là những bước sóng dài hơn nhiều. Ánh sáng hữu hình (là dạng bức xạ mà chúng ta có thể nhìn thấy) nằm ở phần giữa của bảng quang phổ điện từ.

Quang phổ hữu hình nằm trong khoảng 400-700nm (nanomét: là đơn vị đo bức xạ). Tia cực tím nằm ở phần sóng ngắn ở cuối quang phổ hữu hình (dưới 400nm). Tia hồng ngoại nằm ở phía cận trên của bước sóng dài nhưng mắt thường không thấy được. Loại ánh sáng này cũng gây nguy hiểm cho các bộ sưu tập.

 ÁNH SÁNG GÂY HUỶ HOẠI NHƯ THẾ NÀO?

Năng lượng ánh sáng được các phân tử bên trong một vật thể hấp thụ mà sự hấp thụ này có thể gây ra nhiều phản ứng hoá học, và tất cả các phản ứng hoá học này đều gây ảnh hưởng xấu đến giấy. Thuật ngữ chỉ quá trình này là suy thoái quang hoá. Mỗi phân tử trong vật thể cần một lượng năng lượng tối thiểu để bắt đầu phản ứng hoá học với các phân tử khác. Nó được gọi là năng lượng kích hoạt. Các loại phân tử khác nhau có nguồn năng lượng kích hoạt khác nhau.

Nếu như năng lượng ánh sáng tự nhiên hay ánh sáng nhân tạo bằng hoặc vượt quá năng lượng kích hoạt cần thiết của một loại phân tử nhất định thì phân tử đó được kích hoạt và có thể tạo ra các phản ứng hoá học. Khi đó, phân tử sẽ hoạt động theo nhiều cách khác nhau. Năng lượng vượt trội này được thể hiện dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng; năng lượng này cũng có thể phá vỡ nhiều mối liên kết bên trong phân tử (điều này sẽ tạo ra các phân tử nhỏ hơn và gây hậu quả xấu cho giấy); nó cũng có thể gây ra sự sắp xếp lại các nguyên tử cấu tạo nên phân tử; hoặc là năng lượng này sẽ được chuyển giao sang một phân tử khác. Một trong những phản ứng quang hoá chính là ôxi hoá, trong đó phân tử được kích hoạt sẽ chuyển giao năng lượng của nó cho một phân tử ôxi, phân tử ôxi này sẽ phản ứng với các phân tử khác để bắt đầu các phản ứng gây hại. Mặc dù các khả năng xảy ra vô cùng đa dạng nhưng chúng đều có cùng hậu quả là gây hư hại cho tài liệu.

Những bước sóng ngắn hơn (như tia cực tím) có tần suất dày hơn (xuất hiện gần nhau hơn) cũng như mang nhiều năng lượng hơn so với các bước sóng dài. Điều này có nghĩa là chúng tấn công vật thể với nhiều năng lượng hơn, trong một thời gian ngắn hơn và năng lượng của chúng đạt hoặc vượt quá năng lượng kích hoạt cần thiết đối với nhiều loại phân tử khác nhau. Do vậy, chúng khiến tác động quang hoá xảy ra nhanh hơn và gây hậu quả lớn hơn. Nếu như các bước sóng dài hơn về phía phần màu đỏ của bảng quang phổ thì chúng sẽ có ít năng lượng hơn, tần suất giảm đi và khả năng “kích hoạt” phân tử cũng suy yếu.

Cần ghi nhớ rằng ngay cả những ánh sáng có bước sóng dài cũng gây hại cho giấy và các vật liệu khác. Tia hồng ngoại tạo ra năng lượng làm tăng nhiệt độ của vật thể và điều này sẽ làm gia tăng tốc độ các phản ứng hoá học gây hại sẵn có trong giấy.

SO SÁNH TIA CỰC TÍM VÀ ÁNH SÁNG HỮU HÌNH

Vì bức xạ cực tím là dạng ánh sáng có nhiều năng lượng nhất và có sức tàn phá lớn nhất nên chúng ta có thể cho rằng nếu loại trừ được tia cực tím thì ánh sáng hữu hình sẽ chỉ còn là vấn đề nhỏ. Điều này không đúng vì ánh sáng ở mọi bước sóng đều tạo ra những huỷ hoại đáng kể.

Trên thực tế, tia cực tím dễ dàng bị loại trừ khỏi các khu vực lưu trữ hoặc trưng bày do mắt chúng ta không thấy được ánh sáng này. Còn ánh sáng hữu hình thì rắc rối hơn nhiều và chúng cần phải được loại trừ ra khỏi khu vực lưu trữ càng triệt để càng tốt, cũng như chúng cần được kiểm soát cẩn thận ở những khu vực khác.

 CÁC NGUỒN ÁNH SÁNG

Có 2 nguồn ánh sáng là tự nhiên và nhân tạo. Các thư viện và cơ quan lưu trữ cần phải tránh các ánh sáng tự nhiên. Ánh sáng mặt trời có tỷ lệ tia cực tím cao. Ánh sáng ban ngày sáng hơn và có cường độ mạnh hơn nên gây hư hại nhiều hơn so với hầu hết các dạng ánh sáng nhân tạo.

Hai  nguồn ánh sáng nhân tạo hiện đang được sử dụng trong các thư viện, bảo tàng và lưu trữ là đèn nóng sáng và đèn huỳnh quang. (Thuật ngữ “đèn” được các kỹ sư và kiến trúc sư sử dụng để chỉ nhiều dạng bóng đèn khác nhau chứ không bao gồm cả phần khung và chụp đèn. Do yêu cầu tiết kiệm năng lượng và giảm chi phí, các nhà sản xuất đã và đang tiếp tục hoàn thiện công nghệ sản xuất đèn để tạo ra các sản phẩm bền, tốn ít năng lượng và tạo ánh sáng tốt hơn. Các loại đèn huỳnh quang compact, đèn vonfram-halogen, đèn chiếu rọi (HID), đèn không điện cực đã ra đời từ những yêu cầu đó.

Đèn nóng sáng kiểu truyền thống phát sáng khi có một nguồn điện truyền qua dây tóc bằng vonfram của bóng đèn, đốt nóng dây tóc đó đến nhiệt độ 2700°C. Đèn nóng sáng chỉ chuyển đổi một lượng nhỏ điện năng thành ánh sáng, phần còn lại bị biến thành nhiệt năng. Loại đèn nóng sáng truyền thống tạo ra rất ít tia cực tím và do vậy không cần bộ phận lọc UV. Chúng gồm có các dạng bóng đèn tròn thông thường được sử dụng trong gia đình và nhiều loại đa dạng được dùng để chiếu sáng trong trưng bày như đèn phản quang R, đèn phản quang elip ER và đèn phản quang mạ nhôm parabol PAR.

Đèn vonfram-halogen (còn được gọi là đèn thạch anh) là biến thể của loại đèn nóng sáng truyền thống. Bên trong 1 bóng đèn thạch anh có chứa khí halogen để đèn được cháy sáng hơn và lâu hơn. Loại đèn này tạo ra lượng tia cực tím đáng kể và cần phải có bộ phận lọc. Các bộ phận lọc khá đắt và nơi lắp đặt chúng cần được thiết kế đặc biệt để có thể hài hoà với bộ phận lọc. Đèn vonfram-halogen cũng được sử dụng để chiếu sáng nơi trưng bày, như các loại đèn Halogen PAR và đèn gương phản quang MR.

Đèn huỳnh quang là loại đèn có hơi thuỷ ngân bên trong một bóng đèn thuỷ tinh. Mặt trong của bóng đèn này phủ một lớp bột huỳnh quang. Khi dòng điện đi qua đèn (qua dây tóc), hơi thuỷ ngân sẽ tạo ra bức xạ UV. Lớp bột huỳnh quang sẽ hấp thu bức xạ này và tạo thành ánh sáng hữu hình. Tuy nhiên, 1 lượng tia cực tím sẽ thoát ra khỏi đèn huỳnh quang nên loại đèn này gây tác động tiêu cực hơn so với đèn nóng sáng. Loại đèn huỳnh quang mới nhất là đèn huỳnh quang compact. Nó có kích thước nhỏ hơn, bền hơn và có màu sắc dễ chịu hơn loại đèn truyền thống, có thể dùng chung chốt cắm điện với đèn nóng sáng. Tuy vậy, chúng bắt buộc phải được lọc.

Giống như đèn huỳnh quang, đèn chiếu rọi (HID) cũng có khí hơi bên trong bóng đèn thuỷ tinh, có phủ một lớp huỳnh quang, nhưng chúng có công suất cao hơn các loại đèn huỳnh quang thông thường. Có 2 loại đèn. Trong đó, không nên sử dụng các loại đèn HID halide kim loại hoặc thuỷ ngân do chúng tạo ra lượng tia cực tím rất nguy hiểm và khó sử dụng bộ phận lọc. Đèn HID natri cường độ cao thì quá mạnh đối với chiếu sáng trực tiếp và màu ánh sáng không đẹp, nhưng vẫn có thể dùng trong chiếu sáng gián tiếp (ví dụ như chiếu hắt ánh sáng khỏi trần nhà) ở những không gian lưu trữ lớn, có trần nhà cao. Các loại đèn HID natri này tạo ra lượng UV rất thấp và có thể tiếp tục hạn chế lượng khí này bằng cách sơn trần nhà bằng loại sơn điôxít titan có tính năng hấp thu tia cực tím. Loại đèn này tạo ít nhiệt, hiệu quả và chi phí thấp.

Đèn vải sợi là phương tiện rất hiệu quả về mặt năng lượng cho chiếu sáng trưng bày, đặc biệt là trong các hộp trưng bày. Trong hệ thống này, ánh sáng được truyền từ nguồn sáng qua thuỷ tinh hoặc vải sợi acrylic. Các sợi này không tạo ra tia hồng ngoại hay tia cực tím. Ngoài ra, nó không làm cho nhiệt độ trong hộp tăng lên miễn là nguồn sáng được đặt bên ngoài hộp trưng bày như các loại đèn huỳnh quang.

Đèn không điện cực là loại nguồn sáng mới nhất. Điện cực là một miếng kim loại, thường làm bằng vonfram, được đốt nóng cho đến khi nó tạo ra ánh sáng. Đối với 1 đèn nóng cháy thông thường thì bộ phận này có nguy cơ bị mòn cao. Đèn không điện cực tạo ánh sáng theo những cách khác, bằng cách sử dụng tần suất radio để kích thích cuộn dây hay năng lượng vi sóng hướng thẳng vào chất sulfur tạo thành ánh sáng hữu hình. Loại đèn này rất sáng cho nên đến nay chúng chỉ được sử dụng làm đèn chiếu sáng (ánh sáng do đèn sulfur không điện cực tạo ra lớn gấp 250 lần loại đèn nóng sáng 100 watt tiêu chuẩn). Chúng tiết kiệm năng lượng hơn, cho màu sắc đẹp rực rỡ, tạo ít tia cực tím và tia hồng ngoại và đặc biệt có tuổi thọ cao. Hy vọng rằng công nghệ này sẽ được nghiên cứu phát triển để tạo ra loại đèn phù hợp với các không gian trưng bày nhỏ và bên trong các phòng trưng bày.

 LƯỢNG ÁNH SÁNG NHƯ THẾ NÀO LÀ QUÁ NHIỀU?

Chúng ta có phải loại trừ tất cả các tia cực tím hay không? Các loại ánh sáng hữu hình không thể bị loại trừ, đặc biệt ở các khu vực trưng bày, vậy nên điều chỉnh chúng xuống mức độ nào là thích hợp?

Việc kiểm soát tia cực tím rất rõ ràng. Giới hạn chuẩn đối với tia cực tím cho mục tiêu bảo tồn là 75 microwatt/lumen (àW/l). Bất kỳ nguồn sáng nào tạo ra lượng UV lớn hơn thì bắt buộc đều phải lọc. Việc kiểm soát ánh sáng hữu hình gặp nhiều khó khăn hơn. Nhất thiết phải hiểu rõ là vì tác động tiêu cực của ánh sáng mang tính tích luỹ nên giảm bớt cường độ ánh sáng đồng nghĩa với việc giảm những hư hại về lâu dài do ánh sáng gây ra. Một khái niệm quan trọng khác trong kiểm soát ánh sáng hữu hình là luật về đặc quyền. Luật này quy định rằng việc tiếp xúc với ánh sáng cường độ cao trong 1 thời gian nhất định cũng tạo ra hư hại ngang với việc tiếp xúc với ánh sáng cường độ thấp trong thời gian dài. Ví dụ như hư hại do tiếp xúc với ánh sáng cường độ 100 lux trong 5h tương đương với ánh sáng 50 lux trong 10h.

Trong nhiều năm, những lời khuyên được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực bảo tồn đã giới hạn những mức độ của ánh sáng hữu hình đối với những vật liệu nhạy sáng (bao gồm cả giấy) ở khoảng 55 lux (tương đương 5 footcandle) đến 165 lux (hay 15 footcandle) và thấp hơn đối với những vật liệu ít nhạy sáng hơn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã xuất hiện nhiều tranh cãi xung quanh những gợi ý này. Một số người đã nêu lên tầm quan trọng của vấn đề thẩm mỹ: những khách thăm quan lớn tuổi cần nhiều ánh sáng hơn để nhìn rõ hơn các vật thể trưng bày, và bất cứ người khách thăm quan nào cũng thấy rằng các vật thể rõ ràng hơn, màu sắc tươi sáng hơn khi tăng độ chiếu sáng. Ngoài ra, người ta còn đưa ra các yếu tố thách thức giả định rằng mọi vật thể bằng giấy đều nhạy sáng như nhau. Các nhà khoa học thuộc Viện bảo tồn Canada (CCI) và các đồng nghiệp khác đã bắt đầu thu thập những số liệu về tỷ lệ ánh sáng làm nhạt màu các vật phẩm và màu sắc nhất định với nỗ lực phát triển những hướng dẫn cụ thể hơn dựa trên những bảng chuẩn Blue Wood về độ nhạt màu do ánh sáng gây ra của Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) (xem phần “Những gợi ý thực tiễn đánh giá mức độ gây hư hại của ánh sáng” ở phần dưới)

Do chưa có những hướng dẫn mang tính quốc tế nên mỗi tổ chức phải tự thiết lập những giới hạn trưng bày cho các bộ sưu tập của mình. Các yếu tố cần xem xét bao gồm: thời gian ánh sáng được bật lên trong khu trưng bày (lượng thời gian này có thể nhiều hơn con số được đưa ra ban đầu vì sau khi hết giờ tham quan đèn có thể được bật cho mục đích bảo vệ hoặc nhiều mục đích khác nữa); độ nhạy cảm của các vật thể/nhóm đang được trưng bày; tuổi thọ mong muốn đối với các vật thể/nhóm này; và tầm quan trọng của các vấn đề thẩm mỹ trong trưng bày. Cuối cùng, mỗi tổ chức nên quyết định giới hạn về mức độ tiếp xúc với ánh sáng có thể chấp nhận được (ví dụ như x/lux giờ/năm). Giới hạn này đối với các vật thể khác nhau trong bộ sưu tập có thể khác nhau. Các ấn phẩm của CCI và các chính sách về bảo tồn do Viện bảo tàng nghệ thuật Montreal phát triển đối với các tác phẩm bằng giấy sẽ rất có ích trong việc lượng đoán độ nhạy cảm của các loại vật thể sưu tập này.

Áp dụng luật đặc quyền, giới hạn trưng bày có thể đạt được bằng nhiều cách khác nhau, ví dụ như có thể đặt giới hạn 50.000 lux giờ/năm bằng cách bật đèn 10h/ngày hoặc chiếu đèn có cường độ 100 lux trong 50 ngày hay 50 lux trong vòng 100 ngày. Mục đích là nhằm đạt được sự hài hoà giữa việc trưng bày và bảo tồn.

ĐO MỨC ĐỘ ÁNH SÁNG BẰNG CÁCH NÀO?

Ánh sáng hữu hình được đo bằng lux (bằng lượng lumen/m2) hoặc bằng footcandle. 1footcandle= khoảng 11 lux. Thước đo ánh sáng được dùng để đo mức độ của ánh sáng hữu hình. Thước đo này phải được đặt ở nơi mà bạn có thể đọc được chỉ số của nó (ví dụ như gần bề mặt của vật thể được trưng bày). Tương tự như vật thể, thước này phải được đặt ngược với góc chiếu của ánh sáng để bảo đảm rằng nó sẽ cho số đo đúng.

Nếu như bạn không có được loại thước đo này thì bạn có thể đo mức độ lux tương đối bằng cách sử dụng một máy ảnh phản chiếu có ống kính đơn đường kính 35 mm và tiến hành theo trình tự sau:

+ Đặt 1 tấm bảng 30cm x 40 cm ở vị trí đo mức ánh sáng ở cùng góc độ với vật thể.

+ Cài đặt chỉ số ASA/ISO ở mức 800. Đặt tốc độ chip 1/60 giây.

+ Ngắm máy ảnh vào tấm bảng trắng và điều chỉnh ống ngắm khít với tấm bảng. Cẩn thận không để hắt bóng lên tấm bảng.

+ Điều chỉnh ống kính đến khi thước đo ánh sáng cho số đo chính xác, ghi lại cách cài đặt đó. Mức độ ánh sáng tương đối bằng đơn vị lux trên tấm bảng trắng theo cài đặt ống kính như sau:

F4                 biểu thị                 50lux

F5,6              biểu thị                 100lux

F8                 biểu thị                 200lux

F11               biểu thị                 400lux

F16               biểu thị                 80lux

Một thước đo ánh sáng chỉ đo lường mức độ chiếu sáng mà thôi; muốn đo lượng tia cực tím trong ánh sáng thì phải sử dụng một thước đo UV.

Tia UV được đo bằng microwatt/lumen (viết tắt là àW/l). Loại thước đo tia UV phổ biến nhất là thước đo Crawford, nhưng tất cả các thước đo UV đều đo lường tỷ lệ tia cực tím trong ánh sáng hữu hình. Cần phải nhắc lại rằng nó không được vựơt quá 75 àW/l. Cần có một số chú ý đối với loại thước đo UV: một số loại thước đo cũ (giá từ $500-$1000) không chỉ nhạy với tia cực tím, do đó chúng có thể báo rằng mức độ đó là an toàn, nhưng trên thực tế không phải như vậy. Các loại thước mới đắt hơn ($3000-$5000) nhưng chúng được thiết kế để đo mức độ UV chính xác hơn.

NHỮNG LỜI KHUYÊN THỰC TẾ TRONG VIỆC ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ HUỶ HOẠI CỦA ÁNH SÁNG.

Có thể ước lượng mức độ huỷ hoại mà ánh sáng gây ra đối với một vật thể với các cường độ và thời gian xác định bằng cách sử dụng các tấm thử Blue Wool chuẩn của tổ chức ISO (hiện có tại Talas) và Bảng tham chiếu về ảnh hưởng của ánh sáng (hiện có tại Viện Bảo tồn Canada CCI).

Những tấm Blue Wool chuẩn có thể cho thấy rõ tính huỷ hoại của ánh sáng. Những tấm này đưa ra những tiêu chuẩn để đánh giá tác động làm phai màu. Do vậy, chúng có thể được dùng để thuyết phục những người còn hoài nghi rằng ánh sáng thực sự là mối nguy hại. Mỗi tấm Blue Wool gồm có 8 mẫu sợi len được nhuộm màu xanh. Mẫu 1 cực kỳ nhạy sáng; mẫu 8 là mẫu bền vững nhất (mặc dù không lâu dài); mẫu 2 bền gấp 2 lần mẫu 1; mẫu 3 gấp 2 lần mẫu 2, v.v…

Để biểu thị được mức độ phai mầu do cường độ ánh sáng gây ra ở một vị trí nhất định, bạn hãy dùng một vật liệu chắn sáng che 1/2 tấm Blue Wool này. Hãy ghi ngày tháng lên trên tấm thẻ và đặt nó vào vị trí xác định. Hãy kiểm tra định kỳ tấm thẻ (2 lần/tuần) để xác định xem mỗi mẫu đầu tiên trên tấm thẻ tương ứng với những loại vật liệu nhạy sáng như giấy và vải, vậy nên kết quả thử nghiệm sẽ cho bạn một ý tưởng tổng quan về sự hư hại mà bạn sẽ gặp khi những loại vật liệu tương ứng được trưng bày trong cùng một khoảng thời gian, cùng một mức độ ánh sáng và ở cùng một vị trí.

Bảng tham chiếu của CCI về sức phá hoại của ánh sáng là một bảng nhựa trong đó sắp xếp và liệt kê các loại ánh sáng, cường độ ánh sáng và thời gian tiếp xúc, từ đó đưa ra độ phai màu tương ứng của tấm thẻ len xanh dưới tác động của những điều kiện đó. Ví dụ như, nó cho biết nếu một vật thể được trưng bày ở cường độ ánh sáng 150 lux trong 100 năm sẽ có cùng độ phai màu như một vật tiếp xúc với ánh sáng 5000 lux trong 3 năm. Cường độ ánh sáng tiếp xúc 150 lux trong 100 năm như trong ví dụ trên sẽ gây phai màu đáng kể với mẫu len xanh tiêu chuẩn số 4 cũng như các mẫu phía dưới. Bảng quy tắc này cũng so sánh những hư hại mà tia cực tím và tia hồng ngoại có thể gây ra. Trong trường hợp trên, mẫu len số 4 và các mẫu 1-3 sẽ bị phai màu đáng kể khi tiếp xúc với tia hồng ngoại.

Các công cụ được miêu tả trên đây có thể hữu ích, giúp cho bạn thấy được tác động của chế độ chiếu sáng bạn chọn đối với những vật liệu được trưng bày. Trong hầu hết các trường hợp, độ nhạy sáng của các vật thể trưng bày tương ứng với các mức tiêu chuẩn của tấm Blue Wool. Sự tương ứng này đủ để nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn. Nếu như bạn cần thêm những thông tin chi tiết hơn thì có thể tham khảo những ấn phẩm của CCI và Bảo tàng Nghệ thuật Montreal.

KIỂM SOÁT TIA CỰC TÍM

Có thể lọc tia UV bằng cách cho ánh sáng đi qua 1 vật liệu trong suốt đối với ánh sáng hữu hình nhưng lại mờ đục đối với tia cực tím. Một thiết bị lọc lý tưởng có thể ngăn mọi bước sóng cực tím <400nm, nhưng điều này là rất khó. Hiện có rất nhiều sản phẩm cho hiệu quả khá tốt. Trong trình tự ưu tiên, ta thường ưu tiên xử lý ánh sáng tự nhiên trước, sau đó mới là ánh sáng huỳnh quang.

Hiện có các tấm nhựa lọc tia cực tím có thể dùng để che các cửa sổ và cửa mái. Chúng phải che phủ hoàn toàn phía trong để mọi ánh sáng phải đi qua. Tấm nhựa này được sản xuất dưới dạng các tấm acrylic hoặc tấm mỏng (thường bằng acetate), có thể dùng dao hoặc kéo để cắt thành hình mong muốn rồi gắn lên kính. Các tấm acrylic có thể được dùng thay cho cửa kính (nếu các quy định về an toàn hoả hoạn cho phép), phủ hoặc treo bằng móc bên trong cửa sổ (lưu ý là tấm ngăn phải được cắt với kích thước lớn hơn cửa kính để bảo đảm rằng mọi ánh sáng phải đi qua tấm ngăn mới vào được bên trong). Hiện có các tấm nhựa màu có tác dụng làm giảm bớt lượng ánh sáng.

Các loại nước sơn có tác dụng hút tia cực tím cũng được bán rộng rãi. Chúng được dùng để phủ lên cửa kính bằng một công cụ đặc biệt. Tuy nhiên, hiện nay chúng không được khuyến khích sử dụng vì khó có thể sử dụng đồng bộ và dễ hao mòn trong khi các tấm nhựa tiện dụng hơn, bền hơn và hiệu quả hơn.

Thường thì các loại đèn huỳnh quang phải được lắp đặt bộ phận lọc tia cực tím. Các bộ lọc này hiện có dưới dạng các bao nhựa mỏng, mềm và các ống nhựa cứng. Loại ống thường đắt gấp vài lần nhưng không cho hiệu quả bảo vệ vượt trội gì hơn so với loại bao mỏng. Nếu như các ống nhựa cứng không có cỡ vừa khít với loại đèn được sử dụng thì phần đuôi của đèn sẽ không được bảo vệ. Các bao nhựa mỏng cũng phải có kích cỡ vừa với loại đèn. Nếu cần, có thể nối 2 bao nhựa với nhau. Nhưng dù có sử dụng loại lọc gì thì cũng cần phải hướng dẫn các nhân viên bảo dưỡng để họ biết cách chuyển bộ lọc khi thay bóng đèn.

Nếu đèn huỳnh quang được sử dụng trong các khu vực được các tấm lọc nhựa che phủ hoàn toàn thì cần phải kiểm tra lượng tia cực tím trước khi quyết định mua sắm các thiết bị lọc UV. Kinh nghiệm cho thấy là các tấm lọc nhựa đã ngăn chặn có hiệu quả và làm giảm mức độ tia UV xuống mức an toàn là 10-20 W/l.

Một số loại đèn huỳnh quang sinh ra ít tia cực tím hơn nhiều so với các loại đèn khác. Để đảm bảo an toàn tối đa, nên dùng các bóng đèn tạo ra lượng UV tương đối thấp kết hợp với việc sử dụng thiết bị lọc. Nó sẽ giúp hạn chế hơn nữa lượng tia cực tím, làm giảm những hư hại do sai sót lắp đặt hoặc thay thế bộ lọc gây ra, đồng thời kéo dài tuổi thọ của chính bộ lọc. Một số nhà sản xuất hiện nay đã chế tạo đèn huỳnh quang có bộ lọc UV bằng thuỷ tinh và chúng khá đắt so với các loại đèn thông thường. Phải quản lý chặt chẽ việc thay thế phụ tùng, tránh trường hợp thay thế đèn có bộ lọc tia cực tím bằng loại đèn thường.

Một sự lựa chọn khác cũng được sử dụng để bảo vệ các vật thể trưng bày chống lại tia cực tím là dùng sơn trắng có titanium dioxide. Nó có tác dụng giảm một cách đáng kể lượng tia UV. Loại sơn này có tác dụng hút tia cực tím. Chúng có thể được sơn thẳng vào cửa sổ hay cửa mái nếu như có nhiều nguồn ánh sáng khác nhau.

BỘ LỌC TIA CỰC TÍM CÓ TÁC DỤNG TRONG BAO LÂU?

Hiện tại chưa có con số chính xác về thời gian và tác dụng của các sản phẩm lọc tia cực tím. Trong một tài liệu xuất bản năm 1984, Viện Bảo tồn Canada đã báo cáo rằng cả 2 loại bao lọc bằng nhựa mềm và ống lọc bằng nhựa cứng có tác dụng hút tia UV trong vòng tối thiểu 10 năm. Các tấm nhựa mỏng lọc tia cực tím để dán vào cửa sổ cũng có tuổi thọ hạn chế, theo một số nhà sản xuất thì chúng có tuổi thọ khoảng 5-15 năm. Trong môi trường có cường độ ánh sáng mặt trời cao, các bộ phận lọc này sẽ không bền.

Cách duy nhất để xác định chắc chắn bộ phận lọc tia UV có còn tác dụng nữa hay không là đo mức độ tia cực tím thoát ra bằng màn hình đo UV (xem phần chú ý về sử dụng chính xác màn hình đo UV ở phần trên). Do thiết bị này rất đắt nên cứ vài năm một lần, các tổ chức nhỏ có thể sắp xếp mượn từ các tổ chức hay viện bảo tàng lớn hơn ở lân cận.

 KIỂM SOÁT ÁNH SÁNG HỮU HÌNH

Lý tưởng nhất là không cho các bộ sưu tập tiếp xúc với bất kỳ loại ánh sáng nào, nhưng điều này rõ ràng là không thực tế. Ngay cả những bộ sưu tập được cất kín cũng phải có lúc được mang ra sử dụng. Trên thực tế, khu vực bảo quản và khu vực dành cho nghiên cứu không thể tách rời nhau. Các vật thể bảo tồn phải được mang ra trưng bày, nhất là đối với các bảo tàng. Vấn đề ở đây là phải duy trì được sự cân bằng giữa mong muốn bảo tồn vật thể và nhu cầu sử dụng chúng. Bất cứ hạn chế nào về nguồn ánh sáng hữu hình cũng giúp giảm những hư hại cho vật thể về lâu dài. Những khu vực lưu trữ không thường xuyên có nhân viên hay khách tham quan lui tới không nên có cửa sổ, nếu có thì cửa sổ phải được che kín để đảm bảo không cho ánh sáng lọt vào. Chỉ bật đèn trong những khu vực này khi cần thiết. Điều đó có thể thực hiện với các thiết bị hẹn giờ, nhưng ít nhất, các nhân viên cần được hướng dẫn phải tắt hết đèn khi ra khỏi khu vực. Ta có thể lắp đặt các thiết bị dò có chức năng tự tắt điện khi không còn ai trong khu vực. Nên dùng đèn nóng sáng (vonfram) hơn là đèn huỳnh quang để chiếu sáng khi cần thiết.

Trên thực tế, các tình huống không phải lúc nào cũng lý tưởng và không gian là tối ưu. Nếu bạn không thể để các vật thể trong bóng tối thì hãy gắng không cho ánh sáng tiếp xúc với chúng. Những nhà sản xuất chuyên nghiệp đã tạo nên những hộp trưng bày rất hiệu quả, phù hợp với từng vật thể. Chúng sẽ bảo vệ các vật thể trưng bày khỏi những hư hại do tiếp xúc với ánh sáng trực tiếp nhưng người ta không chắc chắn được liệu chúng có khả năng chống lại sự thay đổi của nhiệt độ và độ ẩm do sức nóng mặt trời gây nên hay không.

Như vậy, chúng ta đã thảo luận chi tiết về vấn đề chiếu sáng trong trưng bày. Mọi cửa sổ của khu vực trưng bày cần phải được che bằng các loại màn, mành… cùng với việc sử dụng các thiết bị lọc UV. Cửa mái cũng phải được che lại tránh ánh sáng mặt trời. Cường độ ánh sáng phải được hạ thấp, các hiện vật không bao giờ được để tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Những vật thể có giá trị không nên trưng bày trong thời gian dài.

Các vật thể đặc biệt dễ vỡ, dễ hư hỏng không nên trưng bày, đồng thời phải hạn chế sử dụng để nghiên cứu. Nếu như bắt buộc phải trưng bày cần cẩn thận đến mức tối đa để giảm thiểu những hư hại có thể xảy ra. Các quyển sách được mở để trưng bày phải được lật trang hàng tuần để tránh cho 1 trang cố định thường xuyên phải tiếp xúc với ánh sáng. Bất cứ khi nào có thể, hãy sử dụng ảnh chụp và bản sao cho trưng bày và nghiên cứu.

Các đèn chiếu sáng không được hướng trực tiếp vào hiện vật. Chiếu sáng cường độ thấp và không trực tiếp sẽ ít gây hại cho hiện vật trưng bày, đồng thời giúp cho mắt người xem ít phải điều tiết khi đi từ khu vực ánh sáng mạnh sang khu vực tối. Khu trưng bày nên sử dụng cùng một loại đèn có công suất thấp. Việc giảm dần ánh sáng qua các phòng sẽ giúp mắt quen với ánh sáng thấp trong khu trưng bày. Cần đặt các biển báo giải thích rõ lý do chiếu sáng hạn chế cho người xem hiểu rõ.

 KẾT LUẬN

Mọi loại ánh sáng đều gây hại cho các bộ sưu tập của thư viện và lưu trữ do chúng cung cấp năng lượng cho các phản ứng có hại bên trong giấy. Ánh sáng cũng ảnh hưởng đến bìa sách, chất bắt sáng trên mặt ảnh chụp và các vật phẩm khác gồm mực, thuốc nhuộm và chất sắc tố trong nhiều hiện vật lưu trữ của các thư viện và cơ quan lưu trữ. Các tổ chức cần thực hiện đúng những chỉ dẫn trên đây để đo lường mức độ ánh sáng và kiểm soát sự tiếp xúc với ánh sáng. Mọi nguồn sáng chứa tia cực tím được dùng để chiếu sáng các bộ sưu tập cần được lọc. Đồng thời cần hạn chế nghiêm ngặt sự tiếp xúc của bộ sưu tập với ánh sáng hữu hình.

Beth Lindblom Patkus –  Chuyên gia tư vấn bảo tồn

Walpole, MA.

 

THƯ MỤC

Anson, Gordon. “The Light Solution.” Museum News (September/October 1993): 27.

Canadian Conservation Institute. A Light Damage Slide Rule. CCI Note No. 2/6. Ottawa: Canadian Conservation Institute, December 1988, 10 pp.

Canadian Conservation Institute. Ultraviolet Filters for Fluorescent Lamps. CCI Note No. 2/1. Ottawa: Canadian Conservation Institute, June 1983, 1 p.

Canadian Conservation Institute. Using a Camera to Measure Light Levels. CCI Note No. 2/5. Ottawa: Canadian Conservation Institute, 1992, 1 p.

Colby, Karen M. “A Suggested Exhibition/Exposure Policy for Works of Art on Paper.” July 1993. Available at The Lighting Resource web site:

http://www.webcom.com/~lightsrc/policy1.html.

Feller, Robert L. The Deteriorating Effect of Light on Museum Objects. Museum News Technical Supplement No. 3. Washington, DC: American Association of Museums, June 1964, 8 pp.

Florentine, Frank. “The Next Generation of Lights: Electrodeless,” in WAAC Newsletter 17:3 (September 1995).

Lull, William P, with the assistance of Paul N. Banks. Conservation Environment Guidelines for Libraries and Archives. Ottawa, ON: Canadian Council of Archives, 1995. 102 pp.

Museum Exhibit Lighting, An Interdisciplinary Approach: Conservation, Design, and Technology. proceedings of a workshop presented by the National Park Service and the American Institute for Conservation at the 1997 AIC Annual Meeting. Available from AIC, 1717 K St., NW, Suite 301, Washington, DC 20006; 202-452-9545.

Nicholson, Catherine. “What Exhibits Can Do to Your Collection.” Restaurator 13 (1992): 95-113.

Thomson, Garry. The Museum Environment. 2nd edition. London and Boston: Butterworth in association with The International Institute for Conservation of Historic and Artistic Works, 1986, 308 pp.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *