Trang chủ / Tài liệu lưu trữ / Phông Tòa Đốc lý Sài Gòn

Phông Tòa Đốc lý Sài Gòn

  • Số lượng tài liệu: 43,7 mét.
  • Thời gian tài liệu: 1880 –1940.
  • Loại hình tài liệu: Tài liệu hành chánh (giấy).
  • Tình trạng vật lý: Phần lớn tài liệu bị lão hóa, ố, giòn, rách, mục, chữ mờ.
  • Công cụ tra cứu: Mục lục hồ sơ, thẻ tạm xen lẫn với mục lục, thẻ của các phông: Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Hội đồng Tư mật Nam Kỳ, Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ, Tòa Hòa giải Rộng quyền Tây Ninh, Toà Đốc lý Chợ Lớn và các phông tài liệu của các tỉnh Nam Kỳ thời kỳ thuộc Pháp.

I. LỊCH SỬ ĐƠN VỊ HÌNH THÀNH PHÔNG:

Năm 1867, việc quản lý Sài Gòn được giao cho một tổ chức riêng biệt là Ủy ban Thành phố được thành lập theo Nghị định ngày 4/4/1867 của Thống đốc Nam Kỳ De La Grandière[1].

Ngày 8/7/1869, tổ chức Thành phố Sài Gòn được sửa đổi bởi Nghị định số 131 của Thống đốc Nam Kỳ Ohier. Theo Nghị định này, Ủy ban Thành phố được cải danh thành Hội đồng Thành phố với 1 Chủ tịch hay Ủy viên trưởng và 13 ủy viên[2]. Ủy  viên trưởng Hội đồng Thành phố được gọi là Đốc lý Sài Gòn (Maire de SaiGon) do Thống đốc Nam Kỳ bổ nhiệm.

Ngày 8/01/1877, Tổng thống Pháp De Mac Mahon đã ra Sắc lệnh chính thức thành lập Thành phố Sài Gòn[3]. Theo Sắc lệnh này, Thành phố Sài Gòn có một viên Đốc lý (Maire), 2 viên phó Đốc lý (Maire adjoint) và 12 ủy viên Hội đồng. Ủy viên Hội đồng Thành phố đều do bầu cử. Nhiệm kỳ của các ủy viên là 3 năm.

Ngày 13/12/1880, Thống đốc Nam kỳ Le Myre de Villers ra Nghị định thành lập Khu Sài Gòn – Chợ Lớn và cho đặt dưới quyền cai trị của Giám đốc Nha Nội chính[4]. Khu Sài Gòn – Chợ Lớn bao gồm: Thành phố Sài Gòn, Thành phố Chợ Lớn và vùng phụ cận của 2 thành phố này.

Ngày 12/01/1888, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định xóa bỏ Khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Thành phố Sài Gòn và Thành phố Chợ Lớn được tổ chức riêng biệt như cũ[5].

Ngày 11/7/1908, Tổng thống Pháp đã ký Sắc lệnh cải tổ các thành phố Sài Gòn, Hà Nội và Hải Phòng[6].

Về tổ chức: mỗi thành phố trên đều có một Hội đồng thành phố, một Đốc lý và 2 Phó Đốc lý. Hội đồng thành phố gồm 12 thành viên là người Pháp hoặc mang quốc tịch Pháp, 4 thành viên là người bản xứ. Tất cả các thành viên đều được lựa chọn thông qua bầu cử, nhiệm kỳ của các thành viên trong Hội đồng là 4 năm. Đốc lý và các Phó Đốc lý được chọn từ trong số các thành viên của Hội đồng.

Hội đồng này có thể bị tạm ngưng hoạt động, hoặc bị giải tán bằng Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Trong trường hợp khẩn cấp, Hội đồng có thể bị Thống đốc ra nghị định cho tạm ngưng hoạt động và sau đó báo cáo lại với Toàn quyền Đông Dương.

Về quy chế hoạt động: Hội đồng họp mỗi năm 4 kỳ thường lệ vào các tháng 1, 4, 7 và 10. Thời gian mỗi kỳ họp là 15 ngày, riêng kỳ họp tháng 10, phải biểu quyết về ngân sách, sẽ kéo dài 30 ngày. Tuy nhiên, thời gian họp có thể được kéo dài thêm nhưng phải được sự cho phép của Thống đốc.

Thống đốc sẽ yêu cầu hoặc cho phép, theo đề nghị của Đốc lý, triệu tập các phiên họp bất thường. Đốc lý sẽ tiến hành các phiên họp bất thường khi có quá nửa số thành viên Hội đồng yêu cầu.

Hội đồng chỉ được thông qua nghị quyết khi có quá nửa số thành viên tham dự phiên họp.

Ngày 27/04/1931, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh thành lập lại Khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Địa bàn gồm: Thành phố Sài Gòn, Thành phố Chợ Lớn và vùng phụ cận của 2 thành phố này. Đứng đầu Khu Sài Gòn – Chợ Lớn là một viên Trưởng khu, do Toàn quyền Đông Dương bổ nhiệm. Một số quyền hạn của Đốc lý Thành phố Sài Gòn và của Đốc lý Thành phố Chợ Lớn được chuyển vào tay Trưởng khu. Trưởng khu là Chủ tịch Hội đồng Quản trị Khu Sài Gòn – Chợ Lớn (Conseil d’Administration de la Région de Sài Gòn – Chợ Lớn). Một số quyền hạn của Hội đồng Thành phố Sài Gòn và Ủy ban Thành phố Chợ Lớn cũng được chuyển sang Hội đồng Quản trị Khu Sài Gòn – Chợ Lớn[7].

Ngày 19/12/1941, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh v/v bãi bỏ chức Đốc lý Thành phố Sài Gòn và chức Đốc lý Thành phố Chợ Lớn; mọi quyền hành của 2 viên chức này được chuyển sang tập trung vào tay Trưởng khu Sài Gòn – Chợ Lớn; bãi bỏ Hội đồng Thành phố Sài Gòn và Ủy ban Thành phố Chợ Lớn, mọi quyền hạn của tổ chức này đều chuyển sang Hội đồng Quản trị Khu Sài Gòn – Chợ Lớn[8].

II. NỘI DUNG KHÁI QUÁT TÀI LIỆU CỦA PHÔNG:

Tài liệu trong phông mới chỉ được xác định nội dung theo cặp, bó và chủ yếu gồm các vấn đề sau:

– Tài liệu về bầu cử.

– Báo cáo của Sở Cảnh sát Sài Gòn.

– Báo cáo hàng ngày về tình hình ra vào của các tàu ngoại quốc.

– Sổ theo dõi hộ tịch.

– Công văn trao đổi với Giám đốc Sở Nhập cư và Căn cước về lệ phí cấp giấy phép lưu trú và thuế của ngoại kiều Á Châu.

– Tài liệu về cung cấp trang phục cho cảnh sát Thành phố Sài Gòn.

– Tài liệu về đấu thầu cung cấp máy móc, khế ước cung cấp phụ kiện ô tô, … cho Thành phố Sài Gòn.

– Tài liệu về thuế bến bãi, vỉa hè.

– Tài liệu về việc thu và miễn thuế điền địa, thuế thân, thuế môn bài.

– Các đơn xin miễn thuế trình tại Hội đồng Thành phố Sài Gòn .

– Bảng kê tình hình thu hàng tháng.

– Bảng kê chi tiết các ngân phiếu đã cấp.

– Bảng kê hủy ngân phiếu.

– Chứng từ thu, phiếu thu.

– Chứng từ chi, hóa đơn thanh toán.

– Tài liệu về bảo hiểm chống hỏa hoạn tại Nhà hát Thành phố.

 

Chú giải

[1] Bulletin Officiel de la Cochinchine 1867, pages  359 – 367

[2] Bulletin Officiel de la Cochinchine 1869, pages  232 – 234

[3] Bulletin Officiel de la Cochinchine 1877, pages  128 – 144

[4] Việt Nam – Những sự kiện lịch sử (1858 – 1918) – Dương Kinh Quốc – NXB Giáo dục 1999, trang 115

[5] Việt Nam – Những sự kiện lịch sử (1858 – 1918) – Dương Kinh Quốc – NXB Giáo dục 1999, trang 115

[6] Journal Officiel de l’Indochine 1908, pages 1265 – 1276

[7] Journal Officiel de l’Indochine 1931, pages 2091 – 2093

[8] Journal Officiel de l’Indochine 1941, pages 3822 – 3828

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *