Trang chủ / Công bố tài liệu / Lược sử tài liệu Mộc bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới (1802 – 1945)

Lược sử tài liệu Mộc bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới (1802 – 1945)

Mộc bản Triều Nguyễn là di sản vă hóa, lịch sử và khoa học vô giá của Việt Nam. Là nguồn tư liệu đồ sồ về nhiều công trình lịch sử, địa lý, văn học, pháp luật Việt Nam. Mộc bản, là những tấm gỗ chứa các văn bản chữ Hán và chữ Nôm được khắc ngược trên mặt gỗ để in ra thành các văn bản, các sách Quốc sử thời Nhà Nguyễn. Mộc bản Triều Nguyễn là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu khoa học, xã hội, lịch sử và địa lý Việt Nam. Mộc bản được khắc “chữ khắc ngược” là bởi vì được dùng để nhân bản ra thành các phiên bản tài liệu của cơ quan Quốc Sử Quán nhằm phổ biến rộng rãi ra công chúng về các điều luật, sắc lệnh, chỉ dụ, chuẫn mực xã hội, các dữ kiện, sự kiện lịch sử… Các tư liệu lịch sử của Quốc sử quán được xem là một nguồn tư liệu đồ sộ, bao gồm nhiều dạng, như: Châu bản, Mộc bản, sách chính văn, chính sử, địa chí, thực lục, ví dụ như Hoàng Việt Nhất Thống địa chí của Lê Quang Định soạn năm 1806, Đại Nam nhất thống chí do nhóm các Quan – văn sĩ Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường soạn, Đại Nam Thực Lục do các Sử Quan thời Minh Mạng và Thiệu Trị biên soạn, Quốc Triều sử toát yếu.v.v. Trong số tư liệu đó, kho tàng Mộc bản triều Nguyễn sau khi được ủy ban Tư vấn quốc tế thuộc Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO thẩm định khoa học công nhận là Di sản tư liệu thế giới, đã được xếp vào danh mục Chương trình “Ký ức thế giới” (Memory of the world), được UNESCO chính thức công nhận vào ngày 30-7-2009. Là “Di sản tư liệu Văn hóa – Lịch sử Việt Nam”, “Di sản tư liệu thế giới”; Mộc bản, tổng cộng gồm 34.618 tấm gỗ. Di sản tư liệu Mộc bản, hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.

Dưới triều Nguyễn, do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luật bắt buộc thần dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của các vua chúa, các sự kiện lịch sử…, triều đình đã cho khắc nhiều bộ sách sử và các tác phẩm văn chương để ban cấp cho các nơi. Trong quá trình hoạt động đó đã sản sinh ra một loại hình tài liệu đặc biệt, đó là mộc bản. Tất cả các bản thảo nói trên đều được đích danh hoàng đế ngự lãm, phê duyệt bằng bút tích trước khi giao cho những người thợ tài hoa nhất trong cung đình khắc lên gỗ quý.

Tài liệu mộc bản triều Nguyễn được hình thành chủ yếu trong quá trình hoạt động của Quốc sử quán triều Nguyễn (được thành lập năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng) tại Huế. Ngoài ra, tài liệu này còn bao gồm cả những ván khắc in được tập hợp từ Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) được đưa vào Huế và lưu trữ ở Quốc Tử Giám (Huế) dưới thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị. Từ năm 1960, Mộc bản triều Nguyễn được chuyển vào Đà Lạt.

Mộc bản là khối tài liệu đặc biệt quý hiếm, do giá trị về mặt nội dung, đặc tính về phương pháp chế tác và những quy định rất nghiêm ngặt của triều đình phong kiến về việc ấn hành và san khắc. Những tài liệu này được coi là quốc bảo, chỉ những người có trách nhiệm và thẩm quyền làm việc tại Quốc sử quán mới được tiếp xúc và làm việc với chúng.

Để chế tác tài liệu này phải trải qua một quy trình chặt chẽ tốn nhiều thời gian công sức: Trước hết, vua ban dụ cho phép biên soạn sách. Sau đó cơ quan biên soạn dâng tấu xin được nghiên cứu châu bản để biên soạn sách bản thảo hoàn thành dâng lên vua ngự lãm. Bản thảo được giao trở lại cơ quan biên soạn bổ sung chỉnh sửa theo ý của vua. Bản thảo được chép rõ ràng. Cơ quan biên soạn lập biểu dâng sách lên vua ngự phê. Sách sau khi được ngự phê chuyển xuống giao cho cơ quan san khắc dưới sự kiểm soát của các quan theo chỉ dụ của vua. Mộc bản sau khi khắc xong các quan dâng biểu xin cho in thành sách. Mỗi bộ sách chỉ được khắc in khi có lệnh của vua.

Để chế tác tài liệu mộc bản, Quốc sử quán đã phải tuyển nhiều thợ chạm khắc giỏi. Thợ khắc mộc bản được lựa chọn từ các địa phương trong cả nước có nghề chạm khắc gỗ nổi tiếng, và kỹ thuật khắc được sử dụng thì hoàn toàn là thủ công. Những chữ được khắc lên mộc bản như chứa đựng tất cả tâm huyết của mỗi người thợ. Mỗi chữ Hán – Nôm trên mộc bản được khắc rất tinh xảo, sắc nét. Mỗi tấm mộc bản không những là một trang tài liệu quý giá mà còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Theo một số tài liệu, những bản khắc mộc bản chủ yếu sử dụng gỗ thị và gỗ cây nha đồng để khắc, bởi 2 loại gỗ có màu trắng, thớ gỗ mịn, nhẹ, thường được dùng để khắc dấu không nứt mẻ, không cong vênh.. Vì thế trải qua mấy trăm năm mà đến nay mộc bản vẫn có tình trạng tốt. Ngoài ra gỗ lê, gỗ táo cũng được dùng để khắc mộc bản. Nét chữ khắc trên tài liệu Mộc bản rất điêu luyện, tinh xảo và sắc nét. Mỗi nét chữ như rồng bay phượng múa, chuyển tải tâm tư, tình cảm và tâm huyết của người thợ khắc in. Có thể nói, Mộc bản triều Nguyễn không chỉ là tài liệu quý có giá trị lịch sử mà còn là một tác phẩm nghệ thuật.

Mộc bản triều Nguyễn gồm 34.619 tấm mộc bản, với 55.318 mặt khắc, chứa đựng nội dung của 152 đầu sách với 1.935 quyển do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn trong giai đoạn 1802 – 1945. Kho tàng mộc bản triều Nguyễn có nội dung đa dạng, phản ánh mọi mặt xã hội Việt Nam dưới thời Nguyễn, ghi chép về lịch sử và ngôn ngữ văn tự, chính trị xã hội cho đến các vấn đê về pháp chế, về văn hóa – giáo dục, về tư tưởng triết học – tôn giáo cho đến các thể loại văn thơ truyện ký và về lịch sử quan hệ quốc tế, phản ánh mọi mặt trong đời sống xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn. Nội dung, bao hàm nội hàm các giá trị có ảnh hưởng lớn mang tính lịch sử tới đời sống xã hội.

Về lịch sử: có 30 bộ sách, gồm 836 quyển; ghi chép về lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương dựng nước cho đến triều Nguyễn.

Về địa lý: có 2 bộ sách, gồm 20 quyển; ghi chép về địa lý đã thống nhất ở Việt Nam và ghi chép về Hoàng thành Huế.

Về chính trị – xã hội: có 5 bộ sách, gồm 16 quyển; ghi chép về sách lược của các triều đại phong kiến Việt Nam.

Về quân sự: có 5 bộ sách, gồm 151 quyển; ghi chép về việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy ở Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Bình Thuận và một số nơi khác.

Về pháp chế: có 12 bộ sách gồm 500 quyển; ghi chép về các điển chế và pháp luật triều Nguyễn.

Về tư tưởng, triết học, tôn giáo: có 13 bộ sách, gồm 22 quyển; ghi chép về phương pháp tiếp cận kinh điển Nho gia.

Về văn thơ: có 39 bộ, gồm 265 quyển; ghi chép thơ văn của các bậc đế vương và Nho gia nổi tiếng Việt Nam.

Về ngôn ngữ văn tự: có 14 bộ sách, gồm 50 quyển; giải nghĩa Luận ngữ bằng thơ Nôm.

Về quan hệ quốc tế: tài liệu mộc bản triều Nguyễn còn có giá trị khi tìm hiểu lịch sử và văn hóa các nước khác trên thế giới như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Pháp…

Như vậy, trải qua 143 năm dưới triều Nguyễn, Mộc bản đã được bảo quản, lưu trữ và đưa vào khai thác như một nguồn tài liệu để tham khảo và nghiên cứu phục vụ cho tầng lớp quan lại trong triều và các sĩ tử tham gia vào các kì thi do triều đình tổ chức. Mộc bản triều Nguyễn là khối tài liệu chính văn gốc, độc bản, không chỉ có giá trị về mặt lịch sử văn hóa mà còn có giá trị lớn về mặt nghệ thuật thư pháp và kĩ thuật in ấn thời bấy giờ. Đây là kho tư liệu quý hỗ trợ đắc lực cho việc nghiên cứu lịch sử nước ta thời cận đại và là kho tư liệu khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với biển đảo Hoàng Sa.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *