Trang chủ / Công bố tài liệu / 12 ngày cuối năm 1972 với vấn đề ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam

12 ngày cuối năm 1972 với vấn đề ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam

Ngày 20-10-1972, sau hơn 4 năm, tiến trình đàm phán về Việt Nam tại Paris đạt được kết quả to lớn với sự ra đời của bản dự thảo “Hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam” (Tên tiếng Anh: “Agreement on ending the war and restoring peace in Viet Nam”) và lịch trình ký kết Hiệp định được ấn định vào ngày 31-10-1972. Kết quả của tiến trình đàm phán kéo dài và giằng co trong thế trận đánh – đàm đã đón nhận được sự hoan nghênh của dư luận yêu chuộng hòa bình thế giới. Trong những ngày cuối tháng 10-1972, dư luận hoàn toàn tin tưởng một hiệp định chấm dứt chiến tranh sẽ được ký kết, mang đến hòa bình cho dân tộc Việt Nam.

Nhưng niềm tin của dư luận nhanh chóng bị dập tắt. Ngay trong tháng 10-1972, lấy lý do chính quyền Thiệu không chấp nhận bản dự thảo, Nixon chối bỏ việc ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam. Đồng thời, chưa chấp nhận từ bỏ chính sách thực dân mới, Nixon tiếp tục âm mưu duy trì vị thế của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam sau khi có Hiệp định, thông qua việc đảm bảo sự tồn tại của chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Thực hiện âm mưu trên, Hoa Kỳ ồ ạt viện trợ và chuyển giao phương tiện chiến tranh ở miền Nam Việt Nam cho Chính quyền Sài Gòn. Nhằm đảm bảo cho chế độ Sài Gòn có thể kiểm soát được nhân dân miền Nam Việt Nam trước cuộc tổng tuyển cử được quy định trong Hiệp định Paris; Đồng thời thực hiện việc cô lập, cắt đứt nguồn chi viện, nguồn lực của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam bằng việc ném bom hủy diệt miền Bắc Việt Nam.

Ngày 18-12-1972, Nixon ra lệnh cho máy bay B52 hủy diệt miền Bắc Việt Nam, mở đầu chiến dịch mang mật danh “Lineblacker II”. Hành động của Nixon, ngay lập tức vấp phải sự lên án mạnh mẽ của dư luận yêu chuộng hòa bình thế giới. Tại Hoa Kỳ, ngay từ ngày 19-12-1972, một ngày sau cuộc ném bom, Nixon phải đương đầu với “cuộc chiến” gay gắt trên chính trường, bởi sự chỉ trích và phản đối của các thượng nghị sĩ của cả 2 đảng Dân chủ và Cộng hòa. Song bất chấp dư luận, Nixon tỏ ra ngoan cố, tuyên bố sẽ thực hiện mọi biện pháp cần thiết cho đến khi “đạt được một thỏa ước hợp lý”[1].

Tại Paris, ngày 21-12-1972, theo lịch trình, phiên họp thứ 171 Hội nghị Paris về Việt Nam – phiên họp đầu tiên sau quyết định ném bom của Nixon, khai mạc. Mở đầu phiên họp, ông Nguyễn Minh Vỹ – Đại diện phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa, sau khi mạnh mẽ lên án hành động của Hoa Kỳ và khẳng định quyết tâm chiến thắng của quân dân Việt Nam, tuyên bố ngưng phiên họp. Sau đó, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam rời khỏi phòng họp mà không đợi hoàn tất lời dịch phát biểu sang Pháp văn. Hội nghị Paris về Việt Nam bị đình hoãn vô thời hạn.

Ngày 23-12-1972, cuộc tiếp xúc mật giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa thất bại, mọi cánh cửa đi đến hòa bình bằng giải pháp thương lượng bị đóng chặt.

Những ngày tiếp theo, tại Washington, Nixon liên tục đề nghị nối lại đàm phán, trong lúc không quân Hoa Kỳ tiếp tục “trải thảm” miền Bắc Việt Nam. Hà Nội vẫn im lặng, trả lời bằng con số máy bay B52 bị hạ.

Ngày 30-12-1972, sau 12 ngày đêm ném bom hủy diệt miền Bắc Việt Nam, phải trả một cái giá quá đắt với hơn 30 máy bay B52 bị bắn hạ, đồng thời phải đương đầu với cuộc chiến gay gắt tại chính trường Hoa Kỳ, nhưng không đạt được kết quả như mong muốn, Tổng thống Nixon tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ bắc vĩ tuyến 20, để tiếp tục nối lại các cuộc đàm phán tại Paris.

Ngày 2-1-1973, tiến trình đàm phán về Việt Nam được nối lại bằng phiên họp bí mật mang tính kỹ thuật giữa Đại sứ Hoa Kỳ W. Sullivan và đại diện phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Cơ Thạch. Ngày 4-1-1973, phiên họp thứ 172 Hội nghị Paris về Việt Nam được khai mạc trở lại tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, Đại lộ Kleber, Paris. Nhưng vẫn ở trong tình trạng bế tắc. Phái đoàn Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố với lập trường, phủ nhận vị thế của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam; đòi duy trì chế độ Thiệu,….

Ngày 7-1-1972, Cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris chuẩn bị cho cuộc gặp riêng với Kissinger. Tại đây ông lên án Hoa Kỳ ném bom miền Bắc Việt Nam, làm cản trở mật đàm bằng các yêu sách đòi thay đổi căn bản nội dung bản dự thảo Hiệp định. Đồng thời cũng hé lộ rằng cuộc đàm phán sẽ nhanh chóng mang lại kết quả. Trong khi, tại Washington, Tổng thống Nixon nhiều lần triệu tập Tiến sĩ Kissinger để ra chỉ thị cho cuộc mật đàm. Khi đến Paris, Kissinger tuyên bố “sẽ cố gắng hết sức để mật đàm tiến triển và đem lại kết quả”[2].

Ngày 8-1-1973, cuộc mật đàm thứ 23 giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa diễn ra và kéo dài đến ngày 14-1-1973. Gần cuối mật đàm, hai phái đoàn cùng chụp ảnh lưu niệm và các sự kiện ngoại giao quốc tế trong thời gian cuộc đàm phán diễn ra cũng cho thấy tiến trình đàm phán hòa bình về Việt Nam đã đi đến kết quả. Ngày 9-1-1973, Tổng thư ký Liên Hiệp quốc Kurt Waldheim, tuyên bố trong một cuộc họp báo: “Liên hiệp quốc đã được mời tham dự một cuộc hội nghị về Việt Nam có thể diễn ra trong tương lai và lúc đó Liên Hiệp quốc sẽ dự liệu đóng góp vào việc tái thiết Đông Dương”[3]. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonide Brejnev tuyên bố “vấn đề Việt Nam dần dần đi đến chỗ kết liễu”[4]. Còn theo tin AFP từ Ottawa cho biết, Bộ Ngoại giao Canada đang nghiên cứu một hình thức mới của Ủy hội Quốc tế Đình chiến tại Việt Nam. Đặc biệt, ngày 15-1-1973, tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu gửi Công điện (hỏa tốc) số 001-TT/CĐ tới các Tư lệnh các quân đoàn, quân khu quân đội Sài Gòn ra chỉ thị yêu cầu phải có biện pháp đối phó với tình hình khi Hiệp định được ký kết[5]. Với diễn tiến mau lẹ của phiên mật đàm, các phiên họp tiếp theo của Hội nghị Paris về Việt Nam chỉ còn mang tính hình thức. Ngày 11-1-1973, tham gia đàm phán tại phiên họp thứ 173 chỉ bao gồm bốn phó trưởng đoàn đại diện cho các bên. Nội dung cuộc họp cũng không có gì thay đổi so với phiên họp trước.

Ngày 15-1-1973, bắt đầu cuộc mật đàm kỹ thuật kéo dài một tuần giữa đại diện Hoa Kỳ Sullivan với đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Cơ Thạch, để hoàn thiện cho bản dự thảo Hiệp định. Trong khi đó, Cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng họp với Phó trưởng đoàn Cộng hòa miền Nam Việt Nam Đinh Bá Thi thông báo về tiến trình ký kết Hiệp định.

Ở Washington, ngày 16-1-1973, Tổng thống Nixon ra lệnh ngừng oanh tạc toàn bộ miền Bắc Việt Nam. Trong khi, Kissinger gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Roger, chuẩn bị cho việc ký kết. Còn Đại tướng Haig được cử đi Đông Nam Á để trao đổi với Chính quyền Sài Gòn và các chính quyền thân Hoa Kỳ tại khu vực này, thông báo sự tiến triển của tiến trình đàm phán. Tại Đông Nam Á, sau khi gặp Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 16-1-1973, Tướng Haig đã gặp lần lượt Lon Nol – Thủ tướng chính quyền tay sai Hoa Kỳ ở Campuchia; Phouma – Thủ tướng chính quyền tay sai Hoa Kỳ ở Lào, Tổng thống Park Chung Hy của Đại Hàn và Thủ tướng Kittikachorn của Thái Lan.

Trong không khí “nhộn nhịp” đó, ngày 18-1-1973, phiên họp thứ 174 – phiên họp cuối cùng của Hội nghị Paris về Việt Nam, được khai mạc với sự tham dự của các phó trưởng đoàn. Phiên họp đã diễn ra với lời lẽ hòa dịu và các bên cùng thống nhất đi đến ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Đến đây, Hội nghị Paris về Việt Nam, sau 4 năm 8 tháng 8 ngày (tính từ ngày 10-5-1968), gồm 2 phiên họp về thủ tục (phiên họp ngày 10-5-1968 và phiên họp ngày 18-1-1969), 202 phiên họp chính thức (28 phiên họp hai bên giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và 174 phiên họp bốn bên), đã kết thúc với kết quả các bên thống nhất đi đến ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 20-1-1973, Nguyễn Văn Thiệu cử Vĩnh Lộc – trung tướng, cầm đầu phái đoàn quân sự Sài Gòn đi Paris. Ngày 21-1-1973, Trần Văn Lắm – Bộ trưởng Ngoại giao Chính quyền Sài Gòn “hấp tấp” bay tới Paris[6], chuẩn bị ký kết Hiệp định. Ngày 23-1-1973, tại cuộc mật đàm thứ 24 – cuộc mật đàm cuối cùng của tiến trình đàm phán về Việt Nam giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Tiến sĩ Henry Kissinger, kéo dài gần 3 năm từ tháng 2-1970, hai bên đã hoàn thành và cùng ký tắt vào bản văn Hiệp định.

11 giờ (giờ Paris), ngày 27-1-1973, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, Đại lộ Kleber, Paris, đại diện bốn bên, gồm: Bộ trưởng Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh; Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình; Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ William P. Rogers và Trần Văn Lắm – Tổng trưởng Ngoại giao Chính quyền Sài Gòn, cùng ký kết vào Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, trước sự đón chào của hàng vạn người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Như vậy, chỉ là một giai đoạn rất ngắn trong tiến trình đàm phán về Việt Nam, nhưng những ngày từ cuối tháng 12-1972 đến trước khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết đã thể hiện khá rõ tính chất “đánh và đàm” trong lịch sử cuộc đàm phán tại Paris về Việt Nam. Trong những ngày này, lần đầu tiên dư luận thế giới thấy được một sự phá bỏ trắng trợn những cam kết trong đàm phán quốc tế của Hoa Kỳ. Và cũng thấy rõ nhất vai trò của quân sự đối với đàm phán, khi việc ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh chỉ có thể được thực hiện sau chiến dịch tàn phá đối phương với quy mô và cường độ chưa từng có của Hoa Kỳ bị thất bại nặng nề.

Cũng trong thời gian ngắn ngủi này, dư luận cũng thấy rõ đặc điểm đặc trưng của cuộc đàm phán về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam – cuộc đàm phán giữa một nước nhỏ với một cường quốc hàng đầu thế giới. Mặc dù thất bại tại miền Nam Việt Nam, nhưng với danh dự của một cường quốc, Hoa Kỳ muốn rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự và không thể thừa nhận sự thua cuộc một cách công khai trên bàn hội nghị. Đồng thời, tự cho mình có vai trò sen đầm quốc tế, Hoa Kỳ chưa bao giờ thừa nhận xâm lược Việt Nam, mà chỉ thừa nhận tư cách “đồng minh” trong cuộc chiến tranh nội bộ giữa những người “quốc gia” và Cộng sản ở Việt Nam. Vì vậy, trong đàm phán, cũng như trong các cam kết quốc tế về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Hoa Kỳ luôn cần sự đồng thuận một cách công khai của Chính quyền Sài Gòn. Do đó, việc buộc Hoa Kỳ phải ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là một thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Và thực tế nó đã mở ra một thời kỳ mới trong công cuộc kháng chiến cứu quốc của dân tộc Việt Nam – thời kỳ tiến lên tổng tiến công giành thắng lợi hoàn toàn.

HN

[1] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Thủ tướng VNCH (1954-1975), hồ sơ  17533: Bản tin tức Tổng hợp số 3175/PTUTB/R/M ngày 24-12-1972 của Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo VNCH.

[2] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1230: Tài liệu về Hội đàm Ba Lê của phái đoàn VNCH ngày 9-1-1973, phiên họp thứ 172.

[3] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1230: Tài liệu về Hội đàm Ba Lê của phái đoàn VNCH ngày 9-1-1973, phiên họp thứ 172.

[4] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1230: Tài liệu về Hội đàm Ba Lê của phái đoàn VNCH ngày 9-1-1973, phiên họp thứ 172.

[5] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1230: Công điện (hỏa tốc) 001-TT/CĐ ngày 15-1-1973 của Nguyễn Văn Thiệu.

[6] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1230: Tài liệu của VNCH về Hội đàm Ba Lê.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *