Trang chủ / Công bố tài liệu / Đàm phán bí mật Kissinger – Lê Đức Thọ tại Paris năm 1972 (Phần 1)

Đàm phán bí mật Kissinger – Lê Đức Thọ tại Paris năm 1972 (Phần 1)

Năm 1972, năm cuối cùng trong kế hoạch ba bước của chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh” giai đoạn thứ nhất, mặc dù về mặt quân sự, liên quân Hoa Kỳ – Sài Gòn chưa đạt được mục tiêu tiêu diệt chủ lực và cơ sở hạ tầng của Quân Giải phóng, nhưng ở mức độ nhất định, Hoa Kỳ đã thiết lập được các chế độ tay sai ở Campuchia và Lào, bước đầu hình thành liên minh chống Cộng tại ba nước Đông Dương. Trong lĩnh vực ngoại giao, Hoa Kỳ cũng đã đạt được một số thỏa thuận về giải quyết chiến tranh Việt Nam với các cường quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là Trung Quốc. Kết quả trên đã tạo thành thế bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam – một trong những yếu tố quan trọng của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Tại miền Nam Việt Nam, chương trình bình định nông thôn cũng giúp Chính quyền Sài Gòn kiểm soát, kìm kẹp được phần lớn lãnh thổ và dân chúng. Với sự “trầm lắng” của chiến trường trong năm 1970-1971, Hoa Kỳ lạc quan vào kết quả của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, để gây sức ép trên bàn đàm phán.

Vì vậy, ngay trong những phiên họp đầu tiên của năm 1972, Hoa Kỳ tỏ ra cứng rắn trong các yêu sách và tăng cường sức ép đối với Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày13-1-1972, phiên họp thứ 140, Hoa Kỳ đòi hỏi phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thương lượng với Chính quyền Sài Gòn về những vấn đề liên quan đến tương lai chính trị miền Nam Việt Nam; yêu cầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải “có một thái độ thích hợp hơn đối với vấn đề tù binh theo đúng tinh thần các thỏa ước quốc tế về vấn đề này[1]­. Đối với Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, William J. Porter lên tiếng đòi hỏi phải trả lời “nơi đóng đô của chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, bằng phương cách nào, thủ tục nào cái gọi là “Chánh phủ” ấy được thành lập, và vùng đất nào đặt dưới quyền kiểm soát của “Chánh phủ” đó?[2]­.

Mặt khác, ngày 25-1-1972, nhằm “mua” lá phiếu của cử trị Hoa Kỳ, Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc đàm phán bí mật giữa Kissinger và Cố vấn Lê Đức Thọ. Đồng thời, thúc đẩy nhanh các cuộc tiếp xúc riêng bằng việc liên tục đưa ra cái gọi là “các sáng kiến hòa bình”.

Trong cuộc tiếp xúc riêng ngày 27-1-1972, Hoa Kỳ đưa ra “giải pháp 8 điểm” cho vấn đề miền Nam Việt Nam. Theo đó, sau khi thỏa hiệp được ký kết:

“Tất cả các lực lượng Hoa Kỳ và đồng minh sẽ triệt thoái hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 6 tháng;

Tất cả quân nhân và thường dân vô tội bị bắt trên toàn cõi Đông Dương sẽ được phóng thích song song với việc rút quân và hoàn tất cùng ngày.

Một cuộc bầu cử Tổng thống sẽ được tổ chức trong vòng 6 tháng. Cuộc bầu cử này sẽ do một cơ quan độc lập đại diện tất cả các lực lượng chính trị tại miền Nam Việt Nam đứng ra tổ chức. Cuộc bầu cử này cũng sẽ được quốc tế giám sát, và một tháng trước ngày bầu cử thì đương kim Tổng thống và Phó tổng thống (Chính quyền Sài Gòn ) sẽ từ chức để cho Chủ tịch Thượng nghị viện (Chính quyền Sài Gòn ) xử lý chính phủ.

Một cuộc ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương có quốc tế giám sát sẽ bắt đầu, và theo đó thì không có sự xâm nhập nào thêm của các lực lượng ngoại quốc vào trong bất cứ một quốc gia Đông Dương nào, và các quốc gia Đông Dương phải thực thi nguyên tắc quân lực của quốc gia nào chỉ được ở trong ranh giới quốc gia đó.

Sẽ có một hội nghị quốc tế để bảo đảm quyền dân tộc căn bản của các dân tộc Đông Dương”[3].

Qua nội dung các giải pháp của Hoa Kỳ đưa ra có thể thấy, không trắng trợn yêu cầu một sự đồng triệt thoái của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhưng với nguyên tắc về “một cuộc ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương”, quy định “quân lực của quốc gia nào chỉ được ở trong ranh giới quốc gia đó”, Hoa Kỳ tiếp tục đòi hỏi điều kiện cho việc rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Đồng thời, Hoa Kỳ cũng không ấn định rõ thời gian cho việc triệt thoái quân đội Hoa Kỳ. Đối với vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ tiếp tục yêu sách về một cuộc bầu cử dưới sự kiểm soát và do Chính quyền Sài Gòn tổ chức. Vì vậy, đề nghị của Hoa Kỳ tiếp tục bị phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ.

Đồng thời, tuyên bố của Hoa Kỳ cũng tạo ra mâu thuẫn với Chính quyền Sài Gòn. Trong bản tài liệu tối mật đề ngày 14-1-1972 của Nguyễn Văn Thiệu chuẩn bị trước cho cuộc thảo luận với Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn Bunker vào ngày 15-1-1972, liên quan đến tuyên bố của Tổng thống Nixon, nêu rõ:

“Ngày 10 tháng 1 năm 1972, Đại sứ Bunker có trình cho tôi một tài liệu và đồng thời cũng trình rằng ngày 18-1 sắp đến Tổng thống Nixon dự định công bố nguyên văn tài liệu này (ngày 25-1-1972, Nixon công bố tài liệu của các cuộc đàm phán bí mật với Hà Nội) cùng với sáng kiến hòa bình mới mà Tổng thống Nixon và tôi đã thảo luận trước đây để đề nghị phía bên kia.

Khi xem kỹ thì tài liệu này không phải là bản liệt kê những điểm mà Tổng thống Nixon dự định sẽ nói ngày 18-1-1972, cũng không phải một bản liệt kê những gì mà Tổng thống Nixon và tôi sẽ thảo luận trước khi đề nghị với phía bên kia, mà trái lại, tài liệu này lại là nguyên văn của một “thỏa ước các nguyên tắc” (statement of principles) mà chánh phủ Huê Kỳ đã trao cho phía bên kia và đồng thời cũng cho biết rằng cho đến nay phía bên kia chưa trả lời (theo như ông Đại sứ thuật lại). Kể cả việc trao cho phía bên kia vào ngày giờ nào tôi cũng không được thông báo.

Vì lẽ tôi chỉ mới thấy tài liệu này lần đầu tiên, hơn nữa nó là một bản văn có tánh cách “một thỏa ước sẵn sàng để ký kết” (an agreement ready to be signed) và bao gồm nhiều điểm liên hệ đến toàn bộ vấn đề chấm dứt chiến cuộc, vãn hồi hòa bình tại Đông Dương và định đoạt tương lai chánh trị của miền Nam, cho nên tôi thấy cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều ngày. Vì vậy, hôm nay, tôi chỉ mới đưa ra được những nhận xét sơ khởi sau đây để yêu cầu chánh phủ Huê Kỳ giải thích rõ ràng thêm.

  1. Bản văn “thỏa ước các nguyên tắc” này được soạn thảo để cho ai ký?
  2. “Thỏa ước cuối cùng” (final agreement) nói trong đoạn 2 của điểm 3 được quan niệm như thế nào? Và sẽ được ký bởi ai?
  3. Về vấn đề “cơ quan độc lập gồm tất cả đại diện những lực lượng chánh trị tại miền Namđể tổ chức bầu cử”, thì tôi nghĩ rằng nên lấy những điểm về vấn đề này trong đề nghị ngày 11-7-1969 của chánh phủ VNCH
  4. Vấn đề “chánh sách ngoại giao trung lập” (foreign policy of neutrality) đề cập ở đoạn 5 của điểm 3 có nghĩa là gì?…
  5. Về vấn đề triệt thoái lực lượng võ trang Cộng sản ra khỏi miền Namhoặc ra khỏi Việt – Miên – Lào không thấy có được ấn định trong một giai đoạn nào của lịch trình từ ngày ký kết “bản thỏa ước các nguyên tắc” cho đến ngày bầu cử, mà trái lại, chỉ được đề cập một cách rất mơ hồ như ghi tại điểm 5…
  6. Trong điểm 7 của tài liệu có nói đến “vấn đề rút lui các lực lượng ngoại nhập ra khỏi Đông Dương” (withdrawal of outside forces from Indochina). Như vậy, tôi hiểu là chỉ có Huê Kỳ và đồng minh rút ra khỏi Việt – Miên – Lào mà không có vấn đề Cộng sản rút ra khỏi ba quốc gia này và như vậy lại càng không có vấn đề rút lui song phương và cùng một lúc của tất cả các lực lượng ngoại nhập tại ba quốc gia trên.
  7. Vấn đề “nền trung lập các quốc gia Đông Dương” (the neutrality of all the countries in Indochina) ở điểm 8 cần được giải thích về danh từ và tách chất thật sự của nó…

Tôi thấy rằng những điều gọi là nguyên tắc chứa đựng trong bản “thỏa ước các nguyên tắc” mà Đại sứ Bunker đã trình cho tôi ngày 10-1-1972 cần phải được thảo luận lại vì có rất nhiều vấn đề ngoài vấn đề bầu cử mà tôi không được biết trước.

Nếu Tổng thống Nixon giữ nguyên ý định công bố nguyên văn “bản thỏa ước các nguyên tắc” này vào ngày 18-1 thì tôi không thể nào đồng công bố nguyên văn được”[4].

Tài liệu trên cho thấy, cuộc đàm phán bí mật giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mặc dù chưa đưa tới kết quả cụ thể, nhưng đã tiến rất xa so với những diễn tiến trên bàn Hội nghị Paris về Việt Nam – đã đưa tới hình thành “thỏa ước các nguyên tắc”. Đồng thời, cũng cho thấy, Hoa Kỳ đã hoàn toàn “qua mặt” Chính quyền Sài Gòn trong đàm phán.

Hà Kim Phương 

Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, Tập 1 – Đánh và đàm

[1] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 140 ngày 08-2-1972.

[2] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 140 ngày 08-2-1972.

[3] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1231: Tài liệu (mật) chung quanh các cuộc mật đàm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vẫn hồi hòa bình tại Việt Nam.

[4] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1231: Memorandum (tối mật) dự trù để thảo luận với Đại sứ Bunker vào ngày 15-1-1972.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *