Trang chủ / Công bố tài liệu / Đàm phán bí mật Kissinger – Lê Đức Thọ tại Paris năm 1972 (Phần 2)

Đàm phán bí mật Kissinger – Lê Đức Thọ tại Paris năm 1972 (Phần 2)

Ngày 31-1-1972, để phản đối Nhà Trắng đã vi phạm thỏa thuận không công bố công khai các cuộc đàm phán bí mật, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố dự thảo giải pháp 9 điểm (được trao cho Kissinger trong cuộc gặp riêng ngày 26-6-1971).

Tiếp tục thể hiện đàm phán trên thế mạnh, ngày 10-2-1972, phiên họp thứ 144, phái đoàn Hoa Kỳ lấy lý do “Hội nghị thế giới về Hòa bình và độc lập của các dân tộc Đông Dương” tại Versailles, tuyên bố “không chấp nhận ấn định ngày, giờ họp cho phiên họp khoáng đại 145” [1]. Vì vậy, ngày 17-2-1972, phiên họp 145 đã không diễn ra như thông lệ[2]. Đáp trả hành động phá hoại Hội nghị của Hoa Kỳ, ngày 24-2-1972, phiên họp thứ 145, sau hai bài phát biểu trong khoảng 40 phút, đại diện hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố ngưng phiên họp để phản đối. Nguyên văn tuyên bố của hai phái đoàn như sau:

Diễn văn của Bộ trưởng Xuân Thủy:

“Ngày 10-2-1972, Đại biểu Mỹ đã dùng những lời thô bạo đối với nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, trong đó có nhân dân Mỹ và viện ra những lý do không đứng đắn để tự ý hoãn phiên họp thứ 145 Hội nghị Paris về Việt Nam đáng lẽ phải họp như thường lệ vào thứ năm 17-2-1972.

Trong bị vong lục ngày 23-2-1972 gửi đoàn đại biểu chánh phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đoàn đại biểu Mỹ lại tỏ ý sẽ tiếp tục phá hoại cuộc Hội nghị về Việt Nam. Trong khi đó không quân Mỹ không ngừng đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt trong hai ngày 16 và 17-2-1972, đúng những ngày Tết dân tộc của Việt Nam, chánh quyền Nixon đã cho nhiều máy bay đánh phá nhiều vùng dân cư thuộc khu vực Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Bình gây thêm tội ác dã man, làm chết và bị thương nhiều dân thường, trong đó có phụ nữ và trẻ em.

Tiếp sau những ngày đó, máy bay Mỹ vẫn còn đánh phá miền Bắc Việt Nam, đồng thời với việc đem thêm tàu chở máy bay vào vịnh Bắc bộ để tăng cường đánh phá miền Bắc Việt Nam. Mỹ đã tăng thêm nhiều máy bay B52 ném bom ồ ạt miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia.

Hành động leo thang chiến tranh bằng không quân trong những ngày qua càng bóc trần những luận điệu hòa bình bịp bợm, càng vạch rõ thái độ ngoan cố và hiếu chiến của chính quyền Nixon.

Trong bản tuyên bố ngày 17-2-1972, Bộ Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cực lực lên án những hành động chiến tranh mới rất nghiêm trọng của Mỹ, kiên quyết đòi chánh quyền Nixon chấm dứt ngay, chấm dứt vĩnh viễn, mọi hành động xâm phạm chủ quyền và an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Để biểu thị sự phản đối mạnh mẽ đó, đoàn đại biểu chánh phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định ngưng phiên họp 145 của Hội nghị Paris về Việt Nam tại đây. Phiên họp 146 sẽ vào ngày thứ năm tới, tức là ngày 2-3-1972.

Chánh quyền Nixon phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả do những hành động phá hoại Hội nghị Paris về Việt Nam của họ gây ra”[3].

Phát biểt của ông Nguyễn Văn Tiến – Đại diện phái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam:

“Trong khi không ngớt huênh hoang về hòa bình, về việc rút lui cam kết của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chánh quyền Nixon vẫn tìm cách phá hoại Hội nghị Paris về Việt Nam, đồng thời không ngừng tăng cường chiến tranh trên toàn Đông Dương. Đặc biệt là trong những ngày gần đây họ tăng cường việc dùng không quân ném bom, bắn phá hết sức ác liệt và bừa bãi trên hai miền Nam Bắc Việt Nam. Để phản đối hành động đó của Mỹ, đoàn đại biểu Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố hoàn toàn nhất trí với đoàn đại biểu Chánh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngưng phiên họp hôm nay tại đây và phiên 146 sẽ họp vào thứ năm, ngày 2-3-1972”[4].

Trong khi đó, ngày 17-2-1972, Nixon tới Trung Quốc để ký kết bản Thông cáo chung Thượng Hải với nhiều nội dung quan trọng liên quan đến cách mạng Việt Nam, như việc Trung Quốc cam kết không can thiệp quân sự vào Đông Dương; không tiếp tục viện trợ và ủng hộ sự thống nhất Việt Nam; Trung Quốc đồng ý công nhận Chính quyền Sài Gòn và không ủng hộ việc thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam. Với kết quả đó, Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra những yêu sách phi lý, đặc biệt là về vấn đề tù binh Hoa Kỳ.

Tại Washington, ngày 10-3-1972, nhằm xoa dịu dư luận và tỏ ra thách thức Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nixon đọc bản tuyên ngôn phát động tuần lễ hoạt động trợ tán các tù binh Hoa Kỳ từ ngày 26-3 đến ngày 1-4-1972. Trong đó, ông ta lớn tiếng vu cáo và đổ lỗi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chấp nhận đàm phán về vấn đề tù binh với những luận điệu bịa đặt, như:

– Vu cáo Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không cho phép các phái đoàn quan sát quốc tế giám sát việc giam giữ tù binh Hoa Kỳ ở miền Bắc Việt Nam. Trong khi, từ đầu năm 1970, khi Hoa Kỳ nêu ra vấn đề tù binh, đã có nhiều phái đoàn của các tổ chức quốc tế, bao gồm cả một số tổ chức của Hoa Kỳ được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép đến thăm và trò chuyện với các binh lính Hoa Kỳ bị giam giữ.

– Vu cáo Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngăn cản việc trao đổi thư từ giữa tù binh Hoa Kỳ với gia đình họ. Mà thực tế, nhờ có sự trao đổi thư từ, dư luận Hoa Kỳ đã có thông tin để so sánh chính sách nhân đạo của cách mạng với sự đàn áp dã man của Chính quyền Sài Gòn đối với cán bộ, chiến sĩ cách mạng bị giam giữ trong các trại giam ở miền Nam Việt Nam….

Với những luận điệu xuyên tạc như vậy, Nixon khẳng định: “Chúng ta nhất định đi tới cùng vấn đề này” [5]. Và tuyên bố một cách mập mờ về thời gian ấn định để đưa tù binh Hoa Kỳ về nước. Lời tuyên bố có các đoạn như sau: “Hoa Kỳ đã không từ một nỗ lực nào bằng đường lối ngoại giao, bằng thương thuyết, bằng đủ mọi cách để cho các con em chúng ta đã bị bắt được hưởng một sự đối xử thỏa đáng và sau rốt, được trả lại khi chúng ta dành riêng một tuần để toàn dân bày tỏ mối quan tâm… và dành riêng một ngày để cầu nguyện cho sự kết thúc… Để làm bằng, tôi đã ký vào bản tuyên ngôn ngày 10-3-1972 và là năm thứ 196 kể từ khi Hoa Kỳ độc lập” [6].

Cũng như Hoa Kỳ, phái đoàn Sài Gòn trở lại gây sức ép về vai trò, vị thế của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngày 27-1-1972, phiên họp thứ 142, phái đoàn Sài Gòn đưa ra đề nghị 8 điểm với nội dung không có gì thay đổi so với đề nghị trước. Trừ việc cố ý bỏ những điểm đề cập tới Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được đưa ra trong bản đề nghị năm 1970. Đồng thời, cố tình lôi kéo các vấn đề của Lào, Campuchia vào giải quyết chung với cuộc chiến tranh Việt Nam, như ý tưởng về một “hội nghị hòa bình Đông Dương” của Hoa Kỳ đã đề ra. Nguyên văn đề nghị của phái đoàn Sài Gòn như sau:

“1. Tất cả các lực lượng Hoa Kỳ và Đồng minh sẽ hoàn toàn triệt thoái khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 6 tháng sau khi một thỏa hiệp được ký kết.

  1. Sự phóng thích tất cả các quân nhân và thường dân vô tội bị bắt trên toàn cõi Đông Dương sẽ được thực hiện song song với việc triệt thoái quân đội nói trong quan điểm 1, cả hai bên sẽ trình bày danh sách đầy đủ các quân nhân và thường dân vô tội bị giam cầm trên toàn cõi Đông Dương vào ngày thỏa hiệp được ký kết. Sự phóng thích sẽ bắt đầu cùng ngày quân đội triệt thoái và sẽ hoàn tất khi quân đội triệt thoái xong.
  2. Tương lai chánh trị miền NamViệt Nam sẽ dựa trên các nguyên tắc sau đây:

– Tương lai chánh trị của miền Nam Việt Nam sẽ do chính nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định mà không có sự can thiệp nào từ bên ngoài.

– Sẽ có một cuộc bầu cử tổng thống tự do và dân chủ tại miền Nam Việt Nam trong vòng sáu tháng sau khi thỏa hiệp được ký kết.

Cuộc bầu cử nói trên sẽ do một cơ quan độc lập đại diện tất cả các lực lượng chánh trị tại miền Nam Việt Nam đứng ra tổ chức. Cơ quan này nhận lãnh trách nhiệm trên vào ngày thỏa hiệp được ký kết. Ngoài các trách nhiệm khác liên hệ đến cuộc bầu cử, cơ quan này sẽ quyết định tánh cách hợp lệ của các ứng cử viên.

Tất cả các lực lượng chánh trị tại miền Nam Việt Nam đều có thể tham gia bầu cử và giới thiệu ứng cử viên ra tranh cử. Cuộc bầu cử sẽ được quốc tế giám sát.

– Một tháng trước ngày bầu cử, đương kim Tổng thống và Phó tổng thống VNCH sẽ từ chức. Trong thời gian này ông chủ tịch thượng viện với tư cách xử lý chánh phủ sẽ đảm nhiệm các trách nhiệm hành chánh, ngoại trừ các trách nhiệm liên hệ tới cuộc bầu cử là thuộc quyền của cơ quan độc lập.

Chánh phủ Hoa Kỳ về phần mình tuyên bố rằng:

– Sẽ không ủng hộ một ứng cử viên nào và sẽ đứng hoàn toàn trung lập trong cuộc bầu cử.

– Sẽ tôn trọng kết quả cuộc bầu cử và mọi thể thức chánh trị do nhân dân miền Nam Việt Nam tự hoạch định.

– Sẵn sàng ấn định các liên hệ trên phương diện viện trợ quân sự và kinh tế với bất cứ chánh phủ nào cầm quyền tại miền Nam Việt Nam.

Cả hai bên thỏa thuận rằng:

– Nam Việt Nam cùng với các quốc gia khác ở Đông Dương phải theo một chánh sách ngoại giao phù hợp với các điều khoản quân sự của các hiệp định Genève năm 1954.

– Việc thống nhất lãnh thổ Việt Nam phải được quyết định trên căn bản thảo luận và thỏa hiệp giữa Bắc Việt và Nam Việt, không bên nào được ép buộc và sát nhập bên kia và không có sự can thiệp nào từ bên ngoài.

  1. Cả hai bên sẽ tôn trọng các Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương và năm 1962 về Ai-Lao. Sẽ không có sự can thiệp của ngoại quốc vào các quốc gia Đông Dương và các dân tộc Đông Dương tự mình giải quyết lấy các vấn đề riêng của mình.
  2. Các vấn đề giữa các quốc gia Đông Dương sẽ được giải quyết trên căn bản hỗ tương tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bất can thiệp. Việc thực thi nguyên tắc quân lực quốc gia Đông Dương nào chỉ được ở trong ranh giới quốc gia đó là một trong những vấn đề sẽ được giải quyết.
  3. Một cuộc ngưng bắn trên toàn cõi Đông Dương sẽ bắt đầu khi thỏa hiệp được ký kết. Một trong những điều khoản của cuộc ngưng bắn là không được có những vụ xâm nhập nào thêm của các lực lượng ngoại quốc vào trong bất cứ một quốc gia nào.
  4. Sẽ có giám sát quốc tế về các khía cạnh quân sự của thỏa hiệp gồm cả cuộc ngưng bắn và các điều khoản ngưng bắn, việc phóng thích các tù binh và các thường dân vô tội, việc triệt thoái các lực lượng ngoại nhập ra khỏi Đông Dương, và việc thi hành nguyên tắc các quân lực của quốc gia Đông Dương nào phải ở trong ranh giới quốc gia đó.
  5. Sẽ có bảo đảm quốc tế về các quyền căn bản của các dân tộc Đông Dương, qui chế của các quốc gia Đông Dương, và hòa bình vĩnh cửu trong vùng này. Cả hai bên đều tỏ ý định sẵn sàng tham gia một hội nghị quốc tế về mục đích trên và về các mục đích thích hợp khác”[7].

 Năm 1972 là năm có những diễn biến chính trị quan trọng tại Hoa Kỳ, nhất là cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38 vào tháng 11, là thời cơ thuận lợi có thể làm tiêu tan ý chí xâm lược và buộc Hoa Kỳ phải đi vào đàm phán thực chất. Tháng 10-1971, Trung ương Cục miền Nam Việt Nam đề ra nhiệm vụ cho Quân Giải phóng “tranh thủ thời gian, phấn đấu hoàn thành công tác chuẩn bị, xây dựng thế tiến công chiến lược mới bằng ba quả đấm mạnh trên cả ba vùng chiến lược; tiếp đó, mở cuộc tiến công và nổi dậy rộng lớn nhằm đánh suy sụp nặng ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại cơ bản kế hoạch bình định của địch”.

Tại Hội nghị Paris, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam được chỉ thị chuẩn bị cho bước quyết định vào năm 1972. Vì vậy, trong những tháng đầu năm 1972, cả hai phái đoàn đều kiên định trong việc đòi hỏi triệt thoái quân đội Hoa Kỳ và thay thế Chính quyền Sài Gòn, nhưng tỏ ra mềm dẻo và có những nhượng bộ nhất định.

Ngày 3-2-1972, ông Nguyễn Văn Tiến phát biểu tại phiên họp thứ 143, đã thể hiện sự nhượng bộ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đối với hai vấn đề cơ bản, như sau:

“1. Vấn đề rút quân Mỹ, chấm dứt chiến bằng không quân và mọi hoạt động quân sự của Mỹ ở Việt Nam.

Chánh phủ Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng không quân và mọi hoạt động quân sự ở Việt Nam, rút nhanh và rút hết toàn bộ quân đội, cố vấn, nhân viên quân sự, võ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, hủy bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Chánh phủ Mỹ phải đưa ra một thời hạn dứt khoát cho việc rút hết toàn bộ quân đội, cố vấn, nhân viên quân sự, võ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không kèm theo điều kiện gì. Thời hạn dứt khoát đó cũng là thời hạn thả hết quân nhân của các bên và dân thường bị bắt trong chiến tranh (bao gồm cả những người lái máy bay Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam).

  1. Vấn đề chính trị ở miền NamViệt Nam.

Chánh phủ Mỹ phải thật sự tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt mọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Nguyễn Văn Thiệu và bộ máy áp bức, kềm kẹp của Thiệu, công cụ của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, là trở ngại chính cho việc giải quyết vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam. Do đó, Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức ngay, chánh quyền Sài Gòn phải chấm dứt chánh sách hiếu chiến, phải thủ tiêu ngay bộ máy áp bức, kềm kẹp nhân dân, phải chấm dứt chánh sách bình định, giải tán các trại tập trung, trả lại tự do cho những người bị bắt vì lý do chính trị, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam quy định”[8].

Qua phát biểu của ông Nguyễn Văn Tiến, quan điểm giải quyết hai vấn đề căn bản của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam có sự nhượng bộ rõ rệt liên quan đến vấn đề tù binh và chính quyền Thiệu. Cụ thể, hai điểm khác so với lập trường 7 điểm nêu ra ngày 1-7-1971: 1. Nếu Hoa Kỳ xác định được thời hạn rút quân đội Hoa Kỳ và các đồng minh khỏi miền Nam Việt Nam thì thời diểm rút hết quân sẽ là thời điểm bắt đầu trao trả tù binh của các bên (nghĩa là không cần chờ đến khi Hiệp định được ký kết); 2. Không yêu cầu thay đổi chính thể hiện hữu ở miền Nam Việt Nam mà chỉ yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức ngay. Đồng thời, chính thể này phải thay đổi chính sách: chấm dứt bình định, giải tán các trại tập trung, chấm dứt khủng bố dân chúng, thả các tù chính trị, bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ của dân chúng như Hiệp định Genève đã quy định năm 1954.

Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định và ủng hộ lập trường của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, phái đoàn tập trung tiến công vào chính sách theo đuổi chiến tranh và chiến thuật đàm phán của Hoa Kỳ. Ngày 16-3-1972, tại phiên họp thứ 146, đại diện phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nguyễn Minh Vỹ lên án chính quyền Nixon:

“1. Rõ ràng chính quyền Nixon ngày càng điên cuồng đẩy mạnh những cuộc tiến công bằng không quân chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tiếp theo những đợt đánh phá lớn cuối năm 1971, từ đầu năm 1972 đến nay, không quân Mỹ, kể cả máy bay B-52, không ngừng tiến công, tăng cường những đợt đánh phá lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay các nguồn tin Mỹ (mặc dù còn xa sự thật) cũng nhận rằng mức độ đánh phá miền Bắc Việt Nam trong năm 1971 đã tăng gấp 5 lần so với năm 1970, thế mà chỉ từ đầu năm 1972 đến nay, số lần đánh phá miền Bắc Việt Nam đã vượt xa thời gian 10 tháng tính từ đầu năm 1971.

Thông báo đặc biệt ngày 11-3-1972 của Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam nêu rõ: từ 1 đến 10-3-1972, theo số liệu đầu tiên, hơn 300 lần máy bay phản lực chiến thuật Mỹ đã ném hơn 500 bom phá và hơn 100 bom mẹ, tung ra hàng nghìn bom bi, bom mảnh nhỏ và bom xuyên, rất nhiều loạt tên lửa, rốc két và đạn 20mm, xuống 48 điểm dân cư nằm trong 37 xã thuộc 9 huyện ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, làm 50 người chết và hơn 110 người bị thương, thiêu hủy 70 nhà, phá hoại nhiều đồng ruộng, giết hại nhiều gia súc. Đặc biệt nghiêm trọng là máy bay Mỹ đã cố tình đánh phá mục tiêu dân cư như nông trường, hợp tác xã, trường học, cửa hàng, trạm y tế và nhà thờ thiên chúa giáo….

Lên án việc Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc Việt Nam trong những ngày đầu tháng 3 vừa rồi, tuyên bố ngày 6-3-1972 của Bộ ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nêu rõ: “Đây là những hành động chiến tranh cực kỳ nghiêm trọng, xâm phạm thô bạo chủ quyền và an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vi phạm trắng trợn lời cam kết của Chính phủ Mỹ về chấm dứt hoàn toàn việc ném bom, bắn phá trên toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là sự thách thức láo xược đối với dư luận tiến bộ ở Mỹ…Những hành động chiến tranh nghiêm trọng của Mỹ chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phơi bày bản chất xâm lược ngoan cố và hiếu chiến của chính quyền Nixon và bóc trần những luận điệu hòa bình bịp bợm của họ…Chính phủ Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả do những hành động tội ác của họ gây ra”….

Trước sau, Mỹ vẫn ngang ngược chủ trương thương lượng trên thế mạnh. Một khi đối phương kiên quyết không chấp nhận lập trường thực dân xâm lược của Mỹ thì Mỹ tìm mọi cách để phá hoại hội nghị, đồng thời tăng cường và mở rộng chiến tranh. Điều đó rõ như ban ngày, qua thái độ của đại biểu Mỹ tại bàn Hội nghị Paris về Việt Nam:

– Tháng 9-1971, trước sự phản đối kiên quyết của đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với những cuộc ném bom của Mỹ, đại biểu Mỹ trắng trợn để lộ ra rằng, vì đối phương không chấp nhận những điều kiện phi lý về ngừng bắn của Mỹ nên Mỹ đã ném bom.

– Tháng 10 và 11-1971, đại biểu Mỹ đến Hội nghị không làm gì khác ngoài việc leo thang trong việc dùng lời lẽ khiêu khích, gọi những đề nghị đứng đắn, hợp tình hợp lý của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được dư luận thế giới kể cả dư luận Mỹ đồng tình và ủng hộ là con số không.

– Tháng 12-1971, Mỹ đã vịn vào những lý do vu vơ để bỏ họp ba tuần liên tiếp, đúng vào lúc không quân Mỹ mở những đợt đánh phá lớn trong nhiều ngày vào nhiều vùng đông dân ở miền Bắc Việt Nam.

– Tháng 2-1972, sau khi chính quyền Nixon làm trái với lời cam kết của họ, đơn phương công bố các cuộc gặp riêng giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã đưa ra kế hoạch 8 điểm.

– Ngày 23-2-1972, đại biểu Mỹ tỏ ý tiếp tục phá hoại Hội nghị Pa-ri. Tiếp đó, họ lại vịn vào những lý do cực kỳ vô lý để bỏ hai phiên họp ngày 2 và 9-3-1972, trong khi máy bay liên tục đánh phá miền Bắc Việt Nam”[9].

Tuy nhiên, trong sự lạc quan vào kết quả của chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh”, ngày 23-3-1972, phiên họp thứ 147, phái đoàn Hoa Kỳ ngoan cố phá hoại Hội nghị Paris về Việt Nam bằng hành động đơn phương tuyên bố ngừng đàm phán vô thời hạn.

Đầu tháng 3-1972, sau thời gian chuẩn bị, Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục miền Nam quyết định phát động chiến dịch tổng tiến công Xuân – Hè 1972. Ngày 8-3-1972, Quân ủy Trung ương Quân đội nhân dân Việt Nam gửi điện cho Trung ương cục miền Nam nêu rõ: “Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh… trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Nhiệm vụ cần kíp là đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị, binh vận.. và ngoại giao… tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện trên chiến trường miền Nam và cả trên bán đảo Đông Dương. Buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh… bằng một giải pháp chính trị… mà Mỹ có thể chấp nhận được”[10]. Ngày 10-3-1972, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn gửi thư cho Trung ương cục miền Nam và Khu ủy các khu xác định: “Mục tiêu của ta trong giai đoạn này là tạo ra tình hình có hai chính quyền song song tồn tại”[11].

Ngày 30-3-1972, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam mở màn cuộc tấn công chiến lược Xuân – Hè bằng các cuộc tấn công lớn từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.

Ngày 6-4-1972, Nixon ra lệnh ném bom miền Bắc Việt Nam, nhưng không thể làm giảm khí thế tiến công của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Vì vậy, ngày 26-4-1972, tại Washington, trên hệ thống truyền hình, Nixon tuyên bố trở lại bàn đàm phán ở Paris:

“Căn cứ vào nhận xét thực tế của Đại tướng Abrams và sau khi tham khảo ý kiến với Tổng thống Thiệu, Đại sứ Bunker, Đại sứ Porter và những Cố vấn cao cấp tại Hoa Thịnh Đốn, tôi có ba quyết định để loan báo tối nay.

  1. Trước hết, tôi đã quyết định rằng chánh sách Việt hóa đã chứng tỏ đầy đủ là thành công và chúng ta có thể tiếp tục chương trình triệt thoái lực lượng Hoa Kỳmà không làm hại cho mục tiêu tổng quát của chúng ta là đảm bảo sự tồn tại của Nam Việt Nam như là một quốc gia độc lập.

Vì vậy, tối nay tôi loan báo rằng trong 2 tháng tới 20 ngàn binh sĩ hoa kỳ sẽ được hồi hương đưa từ Việt Nam về. Quyết định này đã được sự chấp thuận hoàn toàn của Tổng thống Thiệu và Đại tướng Abrams. Quyết định này sẽ đưa mức quân số cao nhất còn có 49.000 người vào ngày 1-7 một sự giảm quân số được nửa triệu người kể từ khi chánh phủ này nhậm chức.

  1. Tôi đã cho chỉ thị Đại sứ Porter trở lại bàn Hội đàm Ba Lê ngày mai với mục tiêu duy nhất đặc biệt.

Chúng ta không trở lại Hội đàm Ba Lê… để tiến hành công việc xây dựng mưu tìm hòa bình. Chúng ta trở lại hội đàm Ba Lê với một niềm hy vọngg rằng những cuộc hội đàm xây dựng và có kết quả sẽ đưa đến một sự tiến bộ mau chóng qua mọi hệ thống có thể có được…

  1. Sau hết, tôi đã ra lệnh cho lực lượng không quân và hải quân tấn công vào những căn cứ quân sự ở Bắc Việt Nam, tiếp tục tấn công cho tới khi nào người Bắc Việt Nam chấm dứt cuộc tấn công của họ vào miền NamViệt Nam” [12].

Cùng ngày, tại Sài Gòn, Phạm Đăng Sum – phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Chính quyền Sài Gòn phân phát cho báo chí bản tuyên bố nguyên văn như sau:

Bộ Ngoại giao VNCH, đồng ý với chính phủ Hoa Kỳ, đã chấp nhận đề nghị của phe Cộng sản tái nhóm các cuộc Hòa đàm tại Ba Lê vào ngày 27-4-1972. Chính phủ VNCH ghi nhận phe bên kia đã nhiều lần kêu gọi mở lại các cuộc thương thuyết tại Ba Lê, nên đã chấp nhận tái nhóm vì nghĩ rằng phe bên kia sẵn sàng thảo luận nghiêm chỉnh và đứng đắn hầu có thể tiến đến một giải pháp hòa bình cho cuộc tranh chấp hiện tại”[13].

Ngày 27-4-1972, Hội nghị Paris về Việt Nam được mở lại với phiên họp thứ 148, nhưng cũng không có nội dung gì mới. Các bên tiếp tục tranh luận bằng các lập luận mang tính đấu tranh chính trị nhiều hơn là đàm phán các vấn đề căn bản để đi đến chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 4-5-1972, phiên họp thứ 149 vẫn không có sự tiến triển. Ngược lại, Hội nghị Paris một lần nữa bị ngưng vô thời hạn.

Ngày 8-5-1972, Washington, Nixon công bố giải pháp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Nội dung gồm các điềm:

“- Khi tất cả tù binh Hoa Kỳ được phóng thích

– Khi một cuộc ngưng bắn trên toàn cõi Đông Dương có quốc tế giám sát bắt đầu có hiệu lực.

Lúc đó:

– Hoa Kỳ sẽ ngưng tất cả hành động chiến sự trên toàn cõi Đông Dương (gồm cả ngưng oanh tạc và gài mìn Bắc Việt)

– Hoa Kỳ sẽ bắt đầu xúc tiến việc triệt thoái hoàn toàn quân lực của mình ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng bốn tháng” [14].

Ngày 9-5-1972, Nixon gửi thư cho Nguyễn Văn Thiệu để thông báo về tuyên bố phong tỏa các hải cảng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào 9 giờ tối cùng ngày (giờ Washington). Nội dung bức thư có đoạn:

“Tôi sẽ tuyên bố rằng tôi đã chỉ thị gài mìn tất cả các ngả vào hải cảng Bắc Việt và tôi đã ra lịnh cho lực lượng Hoa Kỳ ngăn chặn mọi sự tiếp tế cho Bắc Việt bằng đường thủy trong hải phận mà họ nói là của họ. Mọi sự tiếp tế bằng đường bộ và bằng cách khác cũng sẽ được ngăn chặn.

Tất cả tàu ngoại quốc tại hải cảng Bắc Việt sẽ được rời bến một cách an toàn trong vòng ba ngày trong những giờ còn ánh sáng mặt trời. Những chiếc neo bến lâu hơn hoặc lại gần các hải cảng sẽ phải gánh chịu hậu quả.

Những hành động kể trên sẽ tiếp tục cho đến khi nào đạt được những điều kiện sau đây:

  • Thực thi một cuộc ngừng bắn trên toàn lãnh thổ Đông Dương, có quốc tế giám sát và
  • Phóng thích tất cả tù binh.

Trong diễn văn của tôi, tôi sẽ nói rằng khi nào những điều kiện nói trên được thỏa mãn, chúng ta sẽ chấm dứt những hành động võ lực trên toàn lãnh thổ Đông Dương và lực lượng Hoa Kỳ sẽ được triệt thoái khỏi Nam Việt Nam trong vòng bốn tháng”[15].

Qua tuyên bố của Nixon có thể thấy rõ chính sách đàm phán trên thế mạnh của Hoa Kỳ. Nixon đòi hỏi chỉ khi đối phương thực hiện các yêu sách của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ mới chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược. Một yêu sách mà ngay từ những ngày đầu khai diễn Hội nghị Paris về Việt Nam, các lãnh đạo cách mạng Việt Nam không chấp nhận. Ngược lại, họ đòi hỏi điều kiện tiên quyết là Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam vô điều kiện. Vì vậy, tuyên bố của Nixon vẫn bị các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam bác bỏ và tiến trình đàm phán rơi vào bế tắc.

Hà Kim Phương 

Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, Tập 1 – Đánh và đàm

[1] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 144 ngày 28-3-1972.

[2] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 144 ngày 28-3-1972.

[3] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Thủ tướng VNCH (1954-1975), hồ sơ 17719: Hội đàm Ba Lê về Việt Nam phiên họp thứ 145, Bộ Ngoại giao VNCH.

[4] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Thủ tướng VNCH (1954-1975), hồ sơ 17719: Hội đàm Ba Lê về Việt Nam phiên họp thứ 145, Bộ Ngoại giao VNCH.

[5]Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 146 ngày 12-4-1972.

[6]Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 146 ngày 12-4-1972.

[7] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 142 ngày 15-3-1972.

[8] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu về Hội đàm tại Ba Lê về Việt Nam số 143, Bộ Ngoại giao VNCH.

[9] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 146 ngày 12-4-1972.

[10] Lưu Văn Lợi – Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2002.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tập 33, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[12] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, hồ sơ 1469: Tài liệu của Nha Chính trị Âu châu Bộ Ngoại giao VNCH về Hội đàm Ba Lê, số 146 ngày 12-4-1972.

[13] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1182: Việt Nam Thông Tấn Xã – số 7707 thứ 4 ngày 26-4-1972.

[14] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1231: Tài liệu mật, chung quanh các cuộc mật đảm về một hiệp định chấm dứt chiến tranh vãn hồi hòa bình tại Việt Nam.

[15] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975), hồ sơ 1289: Bản dịch thư của Tổng thống Nixon ngày 9-5-1972.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *