Trang chủ / Tài liệu lưu trữ / Phông Phủ Thủ hiến Nam Việt

Phông Phủ Thủ hiến Nam Việt

  • Số lượng tài liệu: 178 mét.
  • Thời gian tài liệu:  9/1945 – 04/8/1954.
  • Loại hình tài liệu: Tài liệu hành chính (giấy).
  • Tình trạng vật lý: Tài liệu trong phông đã xuống cấp, nhiều tài liệu đã bị giòn, mủn và rách nát.
  • Công cụ tra cứu: Bộ mục lục đánh máy, được đánh số theo Khung phân loại Boudet.
  1. LỊCH SỬ ĐƠN VỊ HÌNH THÀNH PHÔNG:

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, hệ thống chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp sụp đổ trên toàn cõi Đông Dương. Tuy nhiên, sau khi Pháp trở lại xâm lược nước ta, tại Nam Kỳ, chúng đã ký với bè lũ bán nước kiểu mới một bản Thỏa ước ngày 20/5/1946 và Thỏa ước phụ ngày 03/6/1946 [1]. Theo đó, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ được thành lập. Thành phần, chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ này cũng được quy định tại đây. Cụ thể như sau:

– Thủ tướng Chính phủ Lâm thời do Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ bầu với 2/3 số phiếu.

– Thủ tướng làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

– Thủ tướng bổ nhiệm các chức vụ trong Chính phủ theo đề nghị của các Bộ trưởng. Dưới quyền Thủ tướng, các Bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý các nhiệm sở của mình.

– Việc bổ nhiệm các Giám đốc các nha, sở kỹ thuật phải được sự đồng ý của Ủy viên Cộng hòa Pháp.

– Các Tỉnh trưởng do Thủ tướng bổ nhiệm. Ủy viên Cộng hòa Pháp được thông báo trước về sự bổ nhiệm này.

– Thủ tướng Chính phủ ký các văn bản pháp qui, các Nghị định và Quyết định.

Tiếp theo là Dụ số 1 ngày 23/5/1948 v/v thành lập và tổ chức Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam và Dụ số 5 ngày 14/6/1948  ấn định tổ chức tạm thời các cơ quan công quyền Việt  Nam [2]. Theo đó, nước Việt Nam được chia làm 3 phần: Bắc Phần, Trung  Phần, Nam Phần. Mỗi phần đều có pháp nhân cách về mặt hành chánh và do một Tổng trấn cai trị, có tổ chức hành chánh và ngân quỹ riêng.

Tổng trấn do Thủ tướng bổ nhiệm và chọn trong những người ở địa phương. Tổng trấn ngang hàng với Quốc vụ Khanh và có 3 chức vụ:

– Vừa là Tổng trưởng trong Chính phủ Trung ương.

– Vừa là Đại diện của Chính phủ tại mỗi phần.

– Vừa là vị chỉ huy ở địa phương.

Như vậy Tổng trấn có rất nhiều quyền hành: vừa cai trị địa phương, vừa tham gia cả vào các công việc của Trung ương.

Tổng trấn có Ủy viên và Phó Ủy viên phụ tá. Các vị Ủy viên và Phó Ủy viên được đặt ngang hàng với  các vị  Quốc vụ khanh và Thứ trưởng và do Tổng trấn bổ nhiệm, sau khi được Thủ tướng Chánh phủ Trung ương Lâm thời đồng ý.

Tổng trấn là Phó Chủ chi ngân sách quốc gia.

Tổng trấn điều khiển và kiểm soát tất cả các công sở thuộc địa phương hành chánh và bổ nhiệm tất cả các công chức của các sở đó.

Chỉ một mình Tổng trấn có quyền quản trị nhân viên của các ngạch địa phương.

Tổng trấn là chủ chi ngân sách địa phương.

Tổng trấn có nhiều Hội đồng phụ tá.

Ngày 01/7/1949, Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam ban hành Dụ số 1 và 2 ấn định quy chế các cơ quan công quyền của Quốc gia Việt Nam [3]. Theo đó, nước Việt Nam được chia thành 3 phần: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt và đặt trực thuộc ba vị Thủ hiến. Tổ chức hành chính tại các phần được quy định như sau:

– Về phương diện hành chánh, lãnh thổ quốc gia Việt Nam có ba Phần: Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt. Mỗi phần có hành chánh pháp nhân và một ngân sách địa phương để thi hành thẩm quyền do Dụ này ấn định cho mỗi phần.

– Mỗi Phần đặt dưới quyền một ông Thủ hiến do Quốc trưởng bổ nhiệm bằng sắc lệnh, quyết định tại Hội đồng Tổng trưởng. Những ông Thủ hiến đầu tiên đặc cách do Quốc trưởng tự quyền bổ nhiệm.

– Thủ hiến là vị đại diện của Chính phủ trong địa hạt mình. Với tư cách ấy, Thủ hiến phụ trách sự thi hành trong địa hạt mình các dụ, sắc lệnh và nghị định. Thủ hiến săn sóc tới những sở thuộc quyền Chính phủ  đặt tại địa hạt mình để cho việc điều hành các sở ấy được hoàn bị. Thủ hiến trực tiếp giao thiệp với các Tổng trưởng và Bộ trưởng sở quan. Thủ hiến là Phó chủ chi ngân sách quốc gia.

– Thủ hiến điều khiển tổ chức hành chính địa phương. Với tư cách ấy, Thủ hiến bổ nhiệm nhân viên các cơ quan thuộc tổ chức này và có quyền lập qui. Quyền này Thủ hiến thi hành trong phạm vi luật lệ tổng quát, bằng cách ra các nghị định, Thủ hiến kiểm soát các tổ chức hành chánh các tỉnh, các thị xã và các xã. Trừ trường hợp định ở điều sáu của Dụ, Thủ hiến giao thiệp thẳng với Thủ tướng Chính phủ, nhưng các công văn phải do Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng chuyển đệ. Thủ hiến là chủ chi ngân sách bản phần. Ngân sách này phải do Quốc trưởng duyệt y bằng sắc lệnh. Tổng trưởng Bộ Tài chánh kiểm soát sự thi hành ngân sách này. Những phương pháp đặc biệt để duyệt y và kiểm soát ngân sách trong phạm vi mỗi phần có thể do sắc lệnh ấn định.

Thủ hiến chịu trách nhiệm về sự giữ gìn an ninh trật tự trong địa hạt mình. Về việc này, Thủ hiến tường trình Tổng trưởng hoặc Bộ trưởng Bộ Nội vụ những phương pháp đã thi hành hoặc sẽ thi hành. Thủ hiến có thể trưng tập binh lực để phụ trợ.

Sắc lệnh số 4 ngày 03/7/1949 đã bổ nhiệm vị Thủ hiến đầu tiên tại Nam Việt [4].

Năm 1954, Đạo Dụ số 21 ngày 4/8/1954 bãi bỏ chức Thủ hiến. Như vậy Phủ Thủ hiến Nam Việt chính thức chấm dứt hoạt động từ đây [5].

  1. NỘI DUNG KHÁI QUÁT TÀI LIỆU CỦA PHÔNG:

Tài liệu trong phông Phủ Thủ hiến Nam Việt là tài liệu của các chính phủ tại Nam Việt (Nam Kỳ cũ) qua các thời kỳ từ tháng 9/1945 – 8/1954.

Khối tài liệu này hiện đã được phân loại sơ bộ theo khung phân loại Boudet, gồm những nội dung chủ yếu như sau:

II.1. Văn bản pháp quy:

– Các nghị định, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ lâm thời Nam Kỳ, Tổng trấn, Thủ hiến Nam Việt.

II.2. Tổ chức chính quyền TW:

– Tài liệu về tổ chức nhân sự, các nghị định, quyết định về nhân viên, hồ sơ nhân viên.

– Tài liệu về các cuộc kinh lý của Thủ tướng, Thủ hiến tại tại các tỉnh.

– Hồ sơ các phiên họp hàng tháng của Hội đồng Nam Kỳ.

– Tài liệu về tình hình an ninh, quân sự tại các tỉnh Nam Việt.

– Báo các hàng ngày, hàng tháng của Nha Công an Nam Việt.

– Báo cáo hàng ngày, hàng tháng của Cảnh sát Đô thành Sài Gòn

– Hoạt động của Việt Cộng.

– Kiểm báo.

II.3. Tổ chức chính quyền địa phương :

– Tài liệu về tổ chức bộ máy, thành lập Hội đồng hàng tỉnh.

– Phúc trình tổng quát hàng năm, hàng tháng của các tỉnh Nam Việt.

– Phúc trình kinh lý của các tỉnh trưởng.

– Hội nghị hàng tháng của các Quận trưởng tại Nam Việt.

– Địa phương chí các tỉnh Nam Việt.

II.4. Chính trị:

– Hiệp ước Pháp – Việt.

– Tài liệu về thanh tra chính trị, hành chính các tỉnh Nam Việt.

II.5. Tư pháp:

– Hoạt động của Ủy ban chọn lọc tù binh và can cứu chính trị tại các tỉnh Nam Việt, phóng thích tù binh.

II.6. Công chánh – Giao thông:

– Xây cất, quản lý, duy tu nhà cửa, công thự.

– Xây cất, quản lý, duy tu, đổi tên, quy họach đường sá.

II.7. Văn hóa, giáo dục, xã hội:

– Tổ chức bộ máy, nhân sự ngành giáo dục.

– Các cuộc thi cử.

– Xây dựng đài kỷ niệm, hoạt động của các viện bảo tàng.

– Các hoạt động văn hóa xã hội khác.

[1] Công báo Liên bang Đông Dương (Journal Officiel de la Fédération Indochinoise) năm 1946, trang 488 – 491

[2] Công báo Việt Nam năm 1948,  trang 7, 21-23

[3] Công báo Việt Nam năm 1949, trang 1 –  4

[4] Công báo Việt Nam năm 1949, trang 6

[5] Công báo Việt Nam năm 1954, trang 1980

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *