Trang chủ / Nghiên cứu - trao đổi / Tổ chức khai thác và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia II trong đời sống xã hội

Tổ chức khai thác và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia II trong đời sống xã hội

  1. Nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

Từ sau ngày miền Nam giải phóng đến nay, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (dưới đây gọi là Trung tâm II) đã tổ chức thu gom tài liệu từ nhiều nơi trong các tỉnh, thành phía Nam tổ quốc, từng bước xử lý khoa học – kỹ thuật, để hình thành nên các hồ sơ, các phông tài liệu, giúp độc giả dễ dàng tra tìm và khai thác sử dụng. Đến nay, Trung tâm II đang quản lý một khối lượng lớn tài liệu – lớn nhất trong cả nước, với hơn 14.000 mét giá. Đây là những tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan trung ương thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc; cơ quan trung ương chế độ Việt Nam Cộng hòa và các cơ quan của Mỹ trong 21 năm xâm lược Việt Nam; của chính quyền cách mạng (Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trụ sở ở phía Nam. Nội dung phản ánh quá trình khẩn hoang lập làng ở vùng Nam bộ trong thời kỳ phong kiến (dưới triều đại nhà Nguyễn 1802 – 1945); phản ánh quá trình xâm lược và đô hộ vùng đất phía Nam tổ quốc của các thế lực thực dân đế quốc; và cuộc kháng chiến thần kỳ của nhân dân Nam bộ, của dân tộc Việt Nam chống ngoại xâm; cùng với quá trình phát triển của vùng đất Nam bộ trong hai thế kỷ XIX, XX và hơn thập niên đầu thế kỷ XXI.

Khối tài liệu do Trung tâm II quản lý bao gồm nhiều loại hình như tài liệu hành chính, tài liệu khoa học kỹ thuật, bản đồ, tài liệu nghe nhìn,… và được ghi tin trên nhiều chất liệu khác nhau như tài liệu giấy, giấy dó, bản đồ nổi, băng từ, microfilm,… Về mặt thời gian, có thể phân làm các thời kỳ chính như sau:

  • Thời kỳ nhà Nguyễn (1802 – 1945)

Khối tài liệu thời nhà Nguyễn được lưu trữ tại Trung tâm II bao gồm: Châu bản triều Nguyễn, Mộc bản triều Nguyễn, Địa bạ Hán Nôm, Sổ bộ Hán Nôm. Tuy nhiên trong quá trình phát triển của Trung tâm II, theo sự phân cấp của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Châu bản triều Nguyễn, Địa bạ Hán Nôm được chuyển giao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và Mộc bản triều Nguyễn chuyển giao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV. Hiện Trung tâm II chỉ còn quản lý “Sưu tầm sổ bộ Hán Nôm”, một loại tài liệu được hình thành cách đây khoảng gần 200 năm, bao gồm các loại sổ sách thuế lệ như thuế đinh, thuế điền, thuế sản vật, thuế bến đò, thuế đầm vịnh các địa phương,… được viết bằng chữ Hán – Nôm trên giấy dó.

Nội dung tài liệu “sổ bộ Hán Nôm” (có thời gian từ 1822 đến 1933), phản ánh toàn diện đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở nông thôn Nam kỳ từ đầu thế kỷ XX, đặc biệt có giá trị đối với việc nghiên cứu quá trình biến đổi xã hội, những đặc điểm của nông thôn và cơ cấu làng xã ở Nam bộ nói riêng và cả nước nói chung – một vấn đề có vị trí quan trọng với quốc gia nông nghiệp như nước ta[1].

Khối tài liệu này phản ánh sinh động một thời kỳ lịch sử quan trọng của dân tộc. Nó gắn liền với 12/13 đời vua Nguyễn từ Minh Mạng đến Bảo Đại. Các nhà nghiên cứu đã khai thác loại tài liệu này với tần suất cao khi nghiên cứu về triều Nguyễn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.

  • Thời kỳ Pháp thuộc (1858 – 1945)

Từ năm 1859 đến 1867, Pháp đánh chiếm Gia Định và các tỉnh Nam kỳ. Năm 1862, triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất cắt 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ và 1874 ký Hòa ước Giáp Tuất cắt nốt 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ cho Pháp. Pháp nhanh chóng biến vùng đất Nam kỳ thành thuộc địa và thiết lập chính quyền đô hộ lên vùng đất này và rồi mở rộng ra cả nước, thiết lập guồng máy cai trị trên toàn cõi Việt Nam. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, chấm dứt gần một thế kỷ đô hộ của người Pháp và người Nhật.

Quá trình hoạt động của các cơ quan chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam kỳ đã hình thành khoảng 5.000 mét giá, bao gồm 24 phông tài liệu: Phông Phủ Thống đốc Nam kỳ; Phông Hội đồng Tư mật Nam kỳ; Phông Hội đồng Thuộc địa Nam kỳ; Phông Tòa hòa giải Rộng quyền Tây Ninh; Phông Sở Thương chánh Nam kỳ; Phông Tòa Đốc lý Sài Gòn; Phông Tòa Đốc lý Chợ Lớn; Phông Văn phòng các tỉnh, gồm 14 phông của 14 tỉnh: Bà Rịa, Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Tân An, Trà Vinh, Vĩnh Long; Phông Công ty Bia và Nước đá Đông Dương (B.G.I); Phông Công ty Đồn điền Cao su Đông Dương; Phông Công ty  Cai su Đất Đỏ; Sưu tập bản đồ thời kỳ Pháp thuộc; Sưu tập Công báo Đông Dương

Nội dung cụ thể của khối tài liệu này bao gồm: Các văn bản pháp quy, các công văn trao đổi của chính quyền thực dân Pháp về quá trình xâm lược, đô hộ Nam kỳ; Hồ sơ nhân sự; Tài liệu liên quan đến tổ chức chính quyền trung ương và địa phương; Tài liệu về chính trị, quốc phòng, an ninh và ngoại giao; Tài liệu về tư pháp; Tài liệu về công chánh; Tài liệu về khai thác thuộc địa trong các lĩnh vực thương mại – kỹ nghệ, nông – lâm nghiệp; Tài liệu về giáo dục, khoa học, y tế, xã hội,…

Ngoài ra còn một số tài liệu liên quan đến các vấn đề về bưu chính, nghệ thuật, lưu trữ, thư viện,…

  • Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 – 1975)

Thời kỳ diễn ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân Việt Nam (1945 – 1975) đã hình thành ở phía Nam ba khối tài liệu có tính chất và nội dung khác nhau:

Một là, khối tài liệu được sản sinh trong quá trình hoạt động của các cơ quan trung ương chế độ Quốc gia Việt Nam (do Pháp dựng lên), gồm Phông Phủ Thủ tướng Quốc gia Việt Nam; Phông Phủ Thủ hiến Trung Việt; Phông Phủ Thủ hiến Nam Việt.

Với khối lượng khoảng hơn 300 mét, nội dung có thời gian từ năm 1945 đến năm 1955.

Hai là, tài liệu được sản sinh trong quá trình hoạt động của các cơ quan trung  ương chế độ Việt Nam Cộng hòa và các cơ quan của Mỹ tham gia vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam có trụ sở ở miền Nam Việt Nam. Tài liệu có khoảng 6.000 mét giá.

Ba là, tài liệu được sản sinh trong quá trình hoạt động của chính quyền cách mạng ở miền Nam Việt Nam (Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh và hoạt động luôn phải đảm bảo tuyệt đối yếu tố bí mật nên số lượng tài liệu về hoạt động của cách mạng còn lại không nhiều và hiện còn nằm rải rác ở các địa phương và trong nhân dân. Hiện nay, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II mới thu gom được một phông tài liệu của khối tài liệu trên, Phông Bộ Y tế Xã hội và Thương binh với 73,4 mét giá tài liệu. Nội dung tài liệu của Phông có thời gian từ năm 1970 đến năm 1976, phản ánh cơ cấu tổ chức và các mặt hoạt động của Bộ Y tế Xã hội và Thương binh Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng như thời kỳ tiếp quản miền Nam Việt Nam.

Khối lượng tài liệu trên chưa phản ánh được đầy đủ quá trình hoạt động của chính quyền cách mạng, cũng như quá trình đấu tranh cách mạng của quân dân miền Nam trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

  • Thời kỳ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Từ sau ngày 30.4.1975, Trung tâm II được Đảng, Nhà nước giao quản lý tài liệu lưu trữ quốc gia ở vùng đất phía Nam (trên địa bàn từ Đồng Nai trở vào). Bên cạnh việc thu gom tài liệu của các thời kỳ trước, Trung tâm II đã, đang thu thập tài liệu của các cơ quan trung ương có trụ sở đóng trên địa bàn Nam bộ và hình thành các phông tài liệu như: Phông Liên hiệp Cung ứng Vật tư Khu vực II; Phông Văn phòng II Bộ Vật tư; Phông Công ty Vật tư Thứ liệu Thành phố Hồ Chí Minh; Phông Công ty Vật tư Thiết bị Công nghiệp; Phông Công ty Kinh doanh Thép và Thiết bị Công nghiệp; Phông Công ty Kim khí Thành phố Hồ Chí Minh; Phông Công ty Hóa chất và Vật liệu Điện; Phông Xí nghiệp liên hiệp Rượu bia nước giải khát II; Phông Tổng cục Cao su; Phông Tổng Công ty Cao su Việt Nam; Phông Công ty Vật tư Thiết bị; Phông Công ty Xuất nhập khẩu Cao su; Phông Công ty Phục vụ đời sống; Phông Trường Kỹ thuật Nghiệp vụ Cao su; Phông Công ty liên doanh Vietsovlighter; Phông Ban Quản lý Dự án Mỹ Thuận; Phông Ban Quản lý Công trình Dầu khí Vũng Tàu.

Ngoài ra, Trung tâm II đã sưu tầm tài liệu của các cá nhân, gia đình, dòng họ tiêu biểu về các mặt như nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ; các nhà khoa học, các nghệ sĩ,… Từ năm 2007, thực hiện Chỉ thị số 05 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ, xác định tài liệu của các gia đình, dòng họ, cá nhân tiêu biểu là những tài liệu quý, có giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhìn chung, có thể khái quát tình hình tài liệu lưu trữ ở Trung tâm II như sau: Theo số liệu năm 2011, Trung tâm II đang quản lý khoảng 14 km giá tài liệu và 1.024 mét tư liệu lưu trữ, 4.396 đĩa, 600 cuộn băng ghi âm và hơn 70.000 phim ảnh, có thời gian từ năm 1813 đến nay, bao gồm các khối tài liệu chính:

  1. Tài liệu hành chính: Phản ánh đầy đủ các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá… của các thời kỳ phong kiến Pháp thuộc, thời kỳ Mỹ – Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam, qua một số phông tiêu biểu như: Phông Thống đốc Nam kỳ, phông Toà đại biểu Chính phủ Việt Nam, phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hoà, phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hoà.
  2. Tài liệu khoa học kỹ thuật: Chủ yếu là sưu tập bản đồ các loại qua các thời kỳ từ 1862 – 1975 gồm: Bản đồ hành chính, quân sự, giao thông, nông ngư nghiệp và bản đồ địa lý các nước Đông Dương và thế giới.
  3. Tài liệu nghe nhìn: Chủ yếu là phim, ảnh thời sự, ghi lại các cuộc tiếp xúc của các quan chức, tướng lãnh các nước với quan chức Nguỵ quyền Sài Gòn. Các cuộc hội thảo, kinh lý của các quan chức cao cấp nguỵ quyền miền Nam trước năm 1975…
  4. Hoạt động khai thác tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

Khối tài liệu do Trung tâm II quản lý là khối tài liệu rất có giá trị đối với công cuộc xây dựng vào bảo vệ tổ quốc, cũng như đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và đời sống xã hội. Giá trị đó được thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Trung tâm II thường xuyên tổ chức các cuộc triển lãm, trưng bày chuyên đề giới thiệu tài liệu lưu trữ trên truyền hình và phối hợp với các nhà xuất bản, các cơ quan báo chí trong việc xuất bản các ấn phẩm lưu trữ.

Trong thực tế, hơn 40 năm qua, nhiều nhà sử học trong và nước ngoài đã  khai thác nguồn sử liệu có ở Trung tâm II để phục vụ cho công trình nghiên cứu của mình. Từ các phông tài liệu lưu trữ tại Trung tâm cho thấy, Trung tâm II có thể cung cấp nhiều tài liệu có giá trị đáp ứng nhu cầu cho việc tập trung nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ thời Nguyễn đến thời thuộc Pháp, thời Việt Nam Cộng hòa,… nhất là các tài liệu về cuộc chiến tranh của Mỹ tiến hành ở Việt Nam. Ngoài ra, các nhà sử học có thể tham cứu về công cuộc khai phá vùng đất Nam bộ, việc xác lập chủ quyền quốc gia Việt Nam và mối bang giao quốc tế qua các thời kỳ; khôi phục bức tranh lịch sử nước ta ở khu vực phía nam từ lúc Pháp xâm lược cho đến năm 1975.

Đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu lịch sử hoàn thành trên cơ sở sự góp phần không nhỏ của những nguồn tài liệu lưu trữ ở Trung tâm II, từ khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các bộ địa chí, lịch sử Đảng bộ các tỉnh thành, huyện thị, cũng như sách chuyên khảo về các mặt đời sống xã hội, các nhân vật lịch sử chính diện và phản diện,…

  1. Trung tâm II chủ động công bố tài liệu và xuất bản các ấn phẩm theo chủ đề

Trong gần 40 năm qua, công tác công bố, triển lãm, trưng bày giới thiệu tài liệu lưu trữ trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng được nâng cao về chất lượng, mở rộng về quy mô.

Từ năm 2001, Trung tâm II chủ động thực hiện công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ tới công chúng. Tuy không có cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ chuyên môn cho công tác này, song trong những năm 2001 – 2006, Trung tâm đã tổ chức một số cuộc trưng bày triển lãm và xuất bản ấn phẩm lưu trữ, cụ thể đã hợp tác với Bảo tàng Cách mạng Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I tiến hành triển lãm, trưng bày tài liệu về Nam bộ kháng chiến; 25 năm Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhân dịp Hội nghị tổng kết 5 năm thi hành Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia của các tỉnh, thành trong cả nước được tổ chức tại Đà Lạt, Trung tâm II tổ chức cuộc triển lãm, trưng bày tài liệu Mộc bản. Năm 2004, Trung tâm xuất bản sách Mộc bản triều Nguyễn – Đề mục tổng quan. Quyển sách đã có dịp trưng bày, giới thiệu tại Hội nghị Lưu trữ quốc tế SARBICA tổ chức tại Hà Nội năm 2004. Năm 2005, nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung tâm II phối hợp với Trung tâm I xuất bản ấn phẩm Tuyên truyền Cách mạng trước năm 1945 – Sưu tập tài liệu lưu trữ. Năm 2007, Trung tâm II xuất bản Sách chỉ dẫn các phông, sưu tập lưu trữ bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II nhằm giới thiệu đến đông đảo công chúng toàn bộ tài liệu do đơn vị quản lý.

Trong những năm gần đây, nhằm đưa tài liệu lưu trữ phục vụ các nhu cầu phát triển của xã hội, Trung tâm chủ động tiến hành giới thiệu tài liệu lưu trữ tới công chúng dưới các hình thức tổ chức biên soạn, trưng bày, viết bài công bố tài liệu lưu trữ,… Đặc biệt từ năm 2007, thực hiện chỉ thị số 05/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát huy giá trị tài liệu lưu trữ, hoạt động công bố giới thiệu tài liệu của Trung tâm II phát triển mạnh và đạt được hiệu quả cao.

Nhân kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, Trung tâm phối hợp với Dinh Độc Lập tổ chức trưng bày, triển lãm các chuyên đề: Từ Dinh Norodom đến Dinh Độc Lập; Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 và mũi tiến công vào Dinh Độc Lập; Đường mòn Hồ Chí Minh qua tài liệu lưu trữ. Đặc biệt, nhân kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975 – 30.4.2010), ngay tại Dinh Độc Lập, Trung tâm II phối hợp với BQL Hội trường Thống Nhất tổ chức trưng bày tài liệu chuyên đề Từ Hiệp định Paris đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã thu hút hơn 458.575 khách tham quan; công bố 02 ấn phẩm Cuộc Tổng tiến công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1968 – qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn (2008) và Về Đại thắng mùa xuân năm 1975 – qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn[2] (hơn 5.000 cuốn, 2010). Cũng trong năm 2010, nhằm giới thiệu tới bạn bè quốc tế, Trung tâm tiến hành lựa chọn, số hóa tài liệu tham gia triển lãm Văn hóa Lưu trữ quốc tế tổ chức tại Seoul Hàn Quốc.

Năm 2011, nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập, Trung tâm II phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách Trung tâm Lưu trữ quốc gia II – 35 năm trên đường phát triển (1976 – 2011); Phú Quốc xưa qua tài liệu lưu trữ; Sưu tập sổ bộ Hán Nôm Nam Kỳ (1819 – 1918) tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

Năm 2012, Trung tâm cho xuất bản sách Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn gồm 2 tập (tập 1: Đánh và đàm, năm 2011; tập 2: Ký kết và thực thi, năm 2012), Nxb. Chính trị quốc gia. Sách lần đầu tiên công bố những tài liệu gốc một cách hệ thống bằng hai thứ tiếng Việt và Anh,… Trong dịp này, Trung tâm II biên soạn sách Từ Xuân – Hè 1972 đến Điện Biên Phủ trên không qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn; Cuộc tổng tiến công xuân hè 1972 của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn,…

Hoạt động công bố vừa có ý nghĩa giới thiệu tài liệu lưu trữ, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu trong việc tiếp cận và khai thác tài liệu lưu trữ ở Trung tâm II phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội.

  1. Phục vụ đắc lực các công trình nghiên cứu khoa học

Trong gần 40 năm qua, khối tài liệu do Trung tâm II quản lý đã, đang và ngày càng được phát huy giá trị của nó trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc, đáp ứng nhu cầu khai thác của các nhà khoa học và các nhu cầu phát triển khác của xã hội.

Ngay từ khi mới thành lập, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Trung tâm II đã bằng mọi cách phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu tài liệu của các tổ chức Đảng, Nhà nước, phục vụ sự nghiệp khôi phục, ổn định và phát triển đất nước trong thời gian đầu sau ngày đất nước thống nhất. Trong 10 năm sau giải phóng, Trung tâm II đã phục vụ được 3.833 lượt độc giả với 11.777 hồ sơ, liên quan đến nhiều lĩnh vực, mang lại giá trị thiết thực về lịch sử, kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.

Từ ngày đất nước đổi mới, Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia năm 2001 được ban hành, các Đề án Châu bản – Mộc bản, Đề án Nâng cấp phông tài liệu được thực hiện, công tác tổ chức sử dụng tài liệu đạt hiệu quả cao, số lượng độc giả trong và ngoài nước đến khai thác tài liệu ở Trung tâm II ngày càng đông, đề tài nghiên cứu cũng phong phú, đa dạng hơn.

Theo thống kê của Trung tâm II, từ năm 2001 đến tháng 6 năm 2014, đã có 2.848 lượt độc giả sử dụng tài liệu tại phòng Đọc của Trung tâm (2.496 độc giả trong nước, 352 độc giả nước ngoài). Trung tâm đã phục vụ 76.537 hồ sơ tài liệu với 242.150 trang bản sao. Mục đích khai thác tài liệu là phục vụ cho việc thực hiện 233 luận án Tiến sĩ, 205 luận văn Thạc sĩ, 407 công trình nghiên cứu lịch sử và xuất bản thành sách, 1.631 báo cáo khoa học và các loại hình nghiên cứu khác[3]. Với độc giả trong nước, tài liệu lưu trữ ở Trung tâm II đã góp phần tạo nên các công trình khoa học có giá trị, có thể kể đến:

  • Đề tài luận văn, luận án:

Luận văn Thạc sĩ Sử học: Trần Thị Thu Hường với đề tài nghiên cứu “Quá trình phân định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia trong thời kỳ Pháp thuộc 1870 – 1945” (2010); Phạm Dương Mỹ Thu Huyền với đề tài “Tôn Đức Thắng với phong trào công nhân tại Sài Gòn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930” (2001); Nguyễn Văn Kết với “Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống văn bản hành chánh Việt Nam thời thuộc Pháp (1882 – 1945)” (2002); Cù Thị Dung với đề tài “Hoạt động giáo dục ở Nam kỳ thời Pháp thuộc 1982 – 1945” (2011); Tô Tuấn Đạt với “Hoạt động phòng thủ của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam thời Mỹ – Diệm (1961 – 1965); Nguyễn Xuân Hoài với Chế độ độc tài Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955 – 1959  (2007);…

Luận án Tiến sĩ Sử học: Lê Hữu Phước với đề tài “Lịch sử nhà tù Côn Đảo (1862 – 1930)” (1992); Trịnh Công Lý với đề tài “Đấu tranh của những người Cộng sản ở nhà tù Côn Đảo 1930 – 1945” (2005); Nguyễn Văn Thưởng nghiên cứu “Phong trào yêu nước và cách mạng ở Phú Yên từ cuối thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945” (2007); Bùi Thị Huệ với “Những biến đổi kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước thời Pháp thuộc 1862 – 1945” (2009); Phạm Thị Huệ với “Phong trào dân tộc dân chủ ở Nam kỳ từ 1930 – 1945”, (2011); Trịnh Thị Mai Linh với “Chính sách của chính quyền Sài Gòn đối với người Hoa ở miền Nam Việt Nam (1954 – 1975); Phong trào chống, phá ấp chiến lược ở miền Đông Nam bộ (1961 – 1965) của Huỳnh Thị Liêm; Phong trào đấu tranh của công nhân cao su Thủ Dầu Một trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 – 1975) của Nguyễn Thị Mộng Tuyền; Những chuyển biến kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương từ năm 1945 đến 2005 của Nguyễn Văn Hiệp; Nguyễn Xuân Hoài với luận án Chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955 – 1963 (2011);

Trong số các luận văn, luận án được thực hiện trên cơ sở sử dụng nguồn tài liệu từ Trung tâm II có thể chia ra các mảng cụ thể như sau:

– Về kinh tế có các đề tài như: Lịch sử kinh tế xã hội ở Nam bộ Việt Nam; Kinh tế ở Đông Dương trước thế kỷ XX; Đồn điền cao su 1896 – 1942; Lịch sử kinh tế Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc 1858 – 1945; Lịch sử các chế độ và sở lâm nghiệp tại Đông Dương từ 1862 – 1945; Hệ thống kênh rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long và tác động của việc đào kênh từ thời Nguyễn đến nay; Lịch sử đô thị Việt Nam; Lịch sử đô thị Sài Gòn thời Pháp thuộc; Thiên tai, thảm họa ở Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn 1804 – 1945; Lịch sử nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trước 1975; Các mạng lưới thương lái ở Nam Kỳ từ 1880 – 1920; Lịch sử Kinh tế – Xã hội Việt Nam 1920 – 1930; Kinh tế tư bản chủ nghĩa ở miền Nam (1954 – 1975); Cải cách điền địa ở miền Nam Việt Nam; Công thương nghiệp miền Nam; Kinh tế Mỹ ở miền Nam Việt Nam;…

– Về chính trị – xã hội có: Những người đói nghèo ở Sài Gòn trong thời kỳ Pháp đô hộ 1858 – 1945; Lịch sử người nghèo thành thị ở Sài Gòn thời kỳ Pháp đô hộ (1865 – 1955); Thân phận người phụ nữ thế kỷ XVIII – XX; Tổ chức nông dân ở miền Nam Việt Nam từ thế kỷ XVIII – XX; Thân phận người phụ nữ thế kỷ XVIII – XX; Sự di cư tình nguyện và không tình nguyện từ 1860 – 1975; Những người đói nghèo ở Sài Gòn trong thời kỳ Pháp đô hộ từ 1858 – 1945; Các điều kiện của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ thuộc Pháp; Lịch sử kinh tế Đông Á trong thời kỳ Pháp thuộc; Phát triển giao thông vận tải và sự thay đổi Kinh tế xã hội thời Pháp thuộc; về Luật 10/59; về ấp chiến lược; về khu trù mật, khu dinh điền; về Đường Hồ Chí Minh trên biển; về thuốc khai quang Dioxin; về Các chuyến bay cô nhi viện miền Nam;Chính sách tố cộng, diệt cộng; Chính sách bình định ở miền Nam; Trung ương Cục miền Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Hiệp định Genève; Hiệp định Paris;…

– Nghiên cứu về tộc người, có các đề tài như Các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long; Người Hoa ở Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 1859 – 1975; Lịch sử về người Java (Indonesia) sinh sống tại Nam kỳ giai đoạn 1900 – 1940; Các học giả Chăm, Phan Thiết và các ghi nhớ về cương vực giai đoạn 1651 – 1969; Người Hoa ở miền Nam Việt Nam; Người Khmer Nam bộ;Các tộc người Tây Nguyên: Êđê, Ba Na, Raglai, Châu mạ, Stiêng,…

– Về các cuộc đấu tranh ở Việt Nam thời Pháp thuộc, thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có đề tài: Mặt trận dân chủ 1936 – 1940; Hoạt động của các nhà cách mạng và trí thức ở miền Nam (1930 – 1975); Cuộc cách mạng năm 1909 – 1930; Mối quan hệ giữa nhà thờ Thiên Chúa giáo và chính quyền thuộc địa và ảnh hưởng của các phong trào tôn giáo ở Việt Nam trước mối quan hệ này (1870 – 1954); Lịch sử Thanh niên niên thời Pháp thuộc (1870 – 1945); Phong trào đô thị miền Nam; Phong trào giáo chức và học sinh – sinh viên miền Nam; Phong trào công nhân miền Nam; Biệt động Sài Gòn; Tôn giáo miền Nam;…

– Về lĩnh vực y tế có: Y tế trước năm 1945; Tổ chức y tế Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX; Lịch sử y học Việt Nam; Lịch sử môi trường, sức khỏe và phát triển tại Việt Nam 1858 – 1975; Các vấn đề môi trường sức khỏe và chính trị tại vùng Đông Dương thuộc Pháp từ 1890 – 1940; Lịch sử y tế cộng đồng thời kỳ thuộc địa Pháp; Các tổ chức y tế ở miền nam thời Việt Nam Cộng hòa; Các bệnh viện lớn ở miền Nam Việt Nam; Các quân y viện ở miền Nam Việt Nam;…

– Nghiên cứu thông sử Việt Nam có Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX; Lịch sử Nam kỳ từ 1858 – 1880; Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chí và Lịch sử các tỉnh thành ở miền Nam;…

Về văn hóa có các đề tài như Văn hóa lịch sử nông thôn Việt Nam thế kỉ XIX – XX; Quá trình phát triển và phổ biến chữ Quốc ngữ trong nửa đầu thế kỉ XX; Kiến trúc nhà ở tại miền Nam Việt Nam đầu thế kỷ XX; Khoa Kiến trúc Trường Mỹ Thuật Đông Dương; Đua ngựa tại Sài Gòn đầu thế kỷ XX; Kiến trúc ở Đông Dương từ năm 1880 đến nay; Lịch sử Văn hóa – xã hội Nam bộ 1900 – 1975; Tìm hiểu về sự hình thành phong tục tập quán ở nông thôn của người Khmer Nam bộ 1975 trở về trước; Lịch sử văn hóa Phật giáo từ đầu thế kỷ đến 1975; Thể thao và phong trào thanh niên Đông Dương; Bản sắc Trung Hoa ở Đông Nam Á từ thời kỳ thuộc địa đến hậu thuộc địa; Hệ thống tổ chức giáo dục ở miền Nam Việt Nam;Người Công giáo di cư vào Nam; Sự tiến hóa hoạt động của đoàn trí thức Việt Nam;…

– Nghiên cứu lịch sử ngành nghề có Lịch sử báo chí Việt Nam; Lịch sử báo chí Việt Nam giai đoạn 1858 – 1963; Lịch sử Du lịch Đông Dương thời thuộc địa; Lịch sử hiệu buôn Denis Freres từ Sài Gòn đến Madagascar 1862 – 1975; Lịch sử xuất bản báo chí và phương tiện truyền thông mới trong thế kỷ XX ở Việt Nam;…

– Nghiên cứu về tổ chức chính quyền thực dân và đế quốc cùng chính sách khai thác ở thuộc địa có các đề tài như Nhân viên tòa án ở các nước thuộc địa của Pháp; Quản lý hành chánh và thương mại ở Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ thời Pháp thuộc; Lịch sử của Tp. Hồ Chí Minh trong thời gian thuộc địa Pháp (khoảng từ năm 1900 đến năm 1945); Sự quản lý hành chánh và thương mại của Đông Dương từ năm 1920 – 1950; Công chức người Việt trong chính quyền thực dân Pháp và sự thuyên chuyển của những công chức đó từ năm 1904 đến năm 1945; Sự quản lý hành chánh và thương mại của Đông Dương từ năm 1920 – 1950; Vấn đề quản lý và khai thác rừng ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc; Sự quản lý hành chánh và thương mại của Đông Dương từ năm 1920 – 1950; Chế độ công chức viên chức nhà nước thời kỳ thuộc địa và thời kỳ chống Pháp (1859 – 1954); Cơ quan mật thám Pháp ở Đông Dương giai đoạn 1917 – 1945; Hệ thống bảo an thuộc địa và sự quản lí của Pháp ở Đông Dương 1885 – 1963; Trường thông ngôn và các thông ngôn viên phục vụ ở Việt Nam và bị tù ở các trại giam; Vấn đề và chức năng thông dịch ngôn; Chính sách ngoại giao của chính quyền Việt Nam Cộng hòa; Chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với người Thượng Tây Nguyên; Tổ chức chính quyền ở Tây Nguyên dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa;…

– Nghiên cứu về quan hệ quốc tế như Mối quan hệ giữa các nước thuộc địa của Pháp và các nước thuộc địa của Anh (Miến Điện, Malaysia) 1860 – 1920; Quan hệ kinh tế xã hội giữa Ấn Độ và Nam bộ Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc, Lịch sử quan hệ Việt Nam – Singapore 1965 – 2005;…

Ngoài ra, các nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu các vấn đề khác nữa, đặc biệt qua báo chí tại Sài Gòn;

  • Đề tài nghiên cứu và xuất bản thành sách:

Các độc giả khai thác tài liệu lưu trữ tại Trung tâm II phục vụ cho việc biên soạn sách tập trung vào các chủ đề sau: Lao động bắt buộc ở thuộc địa thời kỳ Đông Dương; Đạo Cao Đài 1930 – 1945; Các mối quan hệ gia tộc ở Châu Á và cuộc sống gia đình của những người di cư đã từng ở thuộc địa Đông Dương; Các hội tuyên giáo Pháp và chính trị ở Trung kỳ; Sự phát triển kinh tế và xã hội miền nam Việt Nam thời kỳ 1958 – 1920; Lịch sử kinh tế, xã hội, chính trị của Sài Gòn – Chợ Lớn 1858 – 1975; Lịch sử giáo hội công giáo trong thời kỳ thuộc địa; Y tế của thế kỷ XVIII – XIX; Phụ nữ và trẻ con nghèo 1870 – 1975; Phụ nữ, trẻ con Việt Nam và con lai Việt – Pháp 1870 – 1975; Phụ nữ, trẻ con Việt Nam và con lai Việt – Pháp 1870 – 1956; Sự trở lại của Pháp ở Đông Dương sau thế chiến thứ 2; Đường sắt Việt Nam; Sự hình thành thần thoại từ thời phong kiến đến cận đại; Nghiên cứu thần thoại, lễ hội Hùng Vương trong giai đoạn Pháp thuộc thời VNCH; Mạng lưới đường sắt Việt Nam trong chiến tranh và hoà bình 1881 đến nay; Âm nhạc và đời sống âm nhạc ở Việt Nam giai đoạn 1860 – 1920; Lịch sử công nghệ được sử dụng trong thời kỳ Pháp thuộc; Quân lính Việt Nam trong Quân đội thực dân Pháp từ năm 1858 cho tới 1939; Phát triển du lịch ở Đông Nam Á năm 1880 – 1950; Kế hoạch đô thị hóa và hệ thống chính trị ở Hà Nội, Sài Gòn và Phnom Pênh từ năm 1910 – 1943; Lịch sử y tế và y học Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa; Quan hệ giữa Hà Lan và Việt Nam (1850 – 1945); Những biến đổi Văn hóa và xã hội tại Việt Nam từ 1925 – 1975; Lịch sử khẩn hoang và nông nghiệp đồng bằng Sông Cửu Long thời kỳ Pháp thuộc;… Các công trình tiêu biểu có thể kể đến:

Dương Kinh Quốc với Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918) (Nxb. Giáo dục, 1999); Nguyễn Khánh Toàn chủ biên sách Lịch sử Việt Nam tập 2 (1858 – 1945) (Nxb. Khoa học xã hội); Tạ Thị Thúy, Ngô Văn Hòa, Vũ Huy Phúc biên soạn sách Lịch sử Việt Nam tập 8 1919 – 1930 (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007); Vũ Huy Phúc chủ biên công trình Lịch sử Việt Nam 1958 – 1896 (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003); Phạm Hồng Thụy, Mỹ Hà, Đinh Thu Xuân viết Lịch sử xí nghiệp liên hợp Ba Son (1863 – 1998) (Nxb. Quân đội nhân dân, 1998); Cục Văn thư & Lưu trữ Nhà nước – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I & II xuất bản sách Tuyên truyền cách mạng trước năm 1945 qua sưu tầm tài liệu lưu trữ (Nxb. Quân đội nhân dân, 2005); Bùi Văn Toản viết Tù nhân Côn Đảo 1940 – 1945 (Nxb. Thanh niên, 2010); sách Nhà tù Côn Đảo: Danh sách hy sinh và từ trần giai đoạn 1930 – 1975 (Nxb. Thanh niên, 2009);  Nhóm Nguyễn Đình Thống, Nguyễn Linh, Hồ Sĩ Hành viết Lịch sử Nhà tù Côn Đảo 1862 – 1975 (Nxb. Tổng hợp Tp. HCM, 2010); PGS.TS. Nguyễn Phan Quang với một loạt các công trình: Thị trường lúa gạo Nam Kỳ (1860 – 1945) (Nxb. Tổng hợp Tp. HCM, 2004); Theo dòng lịch sử dân tộc (sự kiện và tư liệu) (tập1 & 2, Nxb. Tổng hợp Tp. HCM, 2004, 2005); Theo dòng lịch sử dân tộc; Việt Nam Cận đại: Những sử liệu mới, Tập 1,2,3, Nxb. Tp. HCM; Việt Nam Thế kỷ XIX (1802 – 1884) (Nxb. Tp. HCM, 2002); Góp thêm tư liệu Sài Gòn – Gia Định (1859 – 1945) (Nxb. Trẻ, 1998); PGS.TS. Nguyễn Phan Quang cùng TS. Lê Hữu Phước viết Khởi nghĩa Trương Định (Nxb. Tp. HCM, 1989); PGS.TS. Nguyễn Phan Quang kết hợp với TS. Phan Văn Hoàng viết Luật sư Phan Văn Trường (Nxb. Tp. HCM, 1995); PGS.TS. Nguyễn Phan Quang cùng TS. Võ Xuân Đàn viết Lịch sử VN từ nguồn gốc đến năm 1884 (Nxb. Tp. HCM, 2000); TS. Bùi Văn Toản biên soạn sách Côn Đảo 6694 ngày đêm (Nxb. Trẻ, 2009); Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Lịch sử Phú Quốc qua tài liệu lưu trữ (sách tham khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia, 2012; Trịnh Văn Thảo với Ba thế hệ trí thức người Việt (1862 – 1954);

  • Ngoài những công trình nghiên cứu và biên soạn với quy mô lớn như sách, luận án, luận văn,… tài liệu ở Trung tâm II còn được các nhà khoa học khai thác để viết báo cáo khoa học đăng trên các tạp chí, các tham luận tại các hội thảo, hội nghị khoa học quốc tế và trong nước, tiêu biểu có thể kể đến:

Trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, PGS.TS. Nguyễn Phan Quang đã sử dụng nhiều mảng tài liệu của phông Phủ Thống đốc Nam kỳ để nghiên cứu và công bố một loạt các bài viết như: “Giới thiệu ba bức thư của Kỳ Đồng gửi Toàn quyền, công sứ Pháp” (số 5(206), 1982); “Bản khẩu cung của Kỳ Đồng ngày 22-9-1897” (số 1(208), 1983); “Hai bản đồ đầu tiên về nhà tù Côn Đảo” (số 3-4(246-247), 1989); “Ba bức thư từ Nam kỳ năm 1863” (số 5(252), 1990); “Cuộc nổi dậy của tù nhân Côn Đảo tại hòn Bảy Cạnh (tháng 8 – 1883)” (số 2(261), 1992); bài “Độc quyền thuốc phiện ở Nam kỳ cuối thế kỷ XIX” (số 6(277), 1994); bài viết “Dân Số Sài Gòn thời Pháp thuộc” (số 2(297), 1998); “Tương quan kinh tế Pháp – Nhật tại Nam kỳ (1940-1945)” (số 1(302), 1999); “Cảng Sài Gòn thời Pháp thuộc” (số 2(309), 2000); “Sài Gòn và thị trường lúa gạo Nam kỳ (1860 – 1938)” (số 5(312), 2000); “Người Hoa trên thị trường lúa gạo Nam kỳ thời Pháp thuộc (1859-1945)” (số 1(320), 2002); “Nghề tằm tơ Nam kỳ thời thuộc Pháp (1911 – 1925)” (số 7(399), 2009); “Nghề tằm tơ Nam kỳ thời thuộc Pháp (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX)” (số 1(405), 2010). PGS.TS. Nguyễn Phan Quang và TS. Phạm Thị Huệ có bài viết “Về hoạt động của các đảng phái chính trị ở Nam kỳ năm 1938 nhìn từ phía chính quyền thực dân Pháp” đăng trên số 6(362), năm 2006; Tạ Thị Thuý, “Công nghiệp Việt Nam giai đoạn khai thác thuộc địa lần thứ 2 của người Pháp (1919-1930)”, số 7(375), năm 2007; Nguyễn Thuỳ Dương viết “Tình hình kinh tế Nam kỳ” đăng trên số 3(310), năm 2000;  “Tìm hiểu các loại ngân sách của thực dân Pháp trên địa bàn Hà Tiên – Rạch Giá (1867 – 1914)” (số 1(314), năm 2001); Phạm Quang Trung có bài “Sắc luật 21-7-1925 của thực dân Pháp với vấn đề sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ ở Nam kỳ trong thời kỳ Pháp thuộc” đăng trên số 3-4(240-241), năm 1988 và bài “Bức thư của Nguyễn An Ninh gửi Uỷ ban Điều tra” đăng trên, số 1(284), năm 1996, bài “Bức thư của một số tù chính trị tại Sài Gòn gửi Uỷ ban Điều tra Quốc hội Pháp” đăng trên số 2(293) năm 1997, Vũ Huy Phúc với bài “Thái độ của của thực dân Pháp đối với vấn đề ruộng đất ở Nam kỳ vào nửa cuối thế kỷ XIX” đăng trên số 5(230), năm 1986,… TS. Lê Huỳnh Hoa với “Sự thật về vụ đầu độc Trại giam Phú Lợi năm 1958” số 2.2012;…

– Trên tạp chí Xưa & Nay của Hội Sử học Việt Nam có những bài viết của Hoàng Trang, Hoàng Anh, Phạm Thị Huệ,… Cụ thể, bài viết của Hoàng Trang, Hoàng Anh: “Thị trường lúa gạo Nam kỳ 120 năm trước” đăng trên số 3/1997 hay bài viết của Hoàng Trang và Phạm Thị Huệ: “Tờ báo La Lutte xuất bản tại Nam Kỳ thời Pháp thuộc” đăng trên số 5 (10-2006),…

– Trên tạp chí Văn thư Lưu trữ của Cục Lưu trữ Nhà nước Việt Nam đăng tải nhiều bài viết về các chủ đề khác nhau, trong đó nhiều bài viết đã khai thác một cách có hiệu quả khối tài liệu ở Trung t6am II. Trong nhóm độc giả này, có thể nhận ra những gương mặt quen thuộc như TS. Phạm Thị Huệ, TS. Đào Thị Diến, TS. Phan Văn Hoàng, TS. Nguyễn Xuân Hoài, TS. Bùi Thị Huệ, ThS. Nguyễn Văn Kết, Cù Thị Dung, Vũ Văn Tâm, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư,… Nội dung được trải rộng trên nhiều mảng đề tài khác nhau, chủ yếu là những vấn đề Nam kỳ trong thời kỳ cai trị của thực dân Pháp, miền Nam Việt Nam thời Việt Nam Cộng hòa. Chẳng hạn, bài “Giải quyết tranh chấp ruộng đất trực canh của nông dân tỉnh Trà Vinh hồi đầu thuộc Pháp” của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư, đăng trên số 6/2008; bài “Những giá trị về lịch sử và ngôn ngữ qua công báo tiếng Việt thời thuộc Pháp” của ThS. Nguyễn Văn Kết đăng trên số 1/2008 viết về giá trị sử liệu qua công báo tiếng Việt thời Pháp thuộc; TS. Phạm Thị Huệ với một loạt bài viết như “Một tài liệu của Xứ uỷ Nam kỳ chỉ đạo các tổ chức cơ sở Đảng năm 1934” đăng trên số 4 (8-2006); bài “Tờ báo La Lutte xuất bản tại Nam kỳ thời Pháp thuộc” đăng trên số 5 (10-2006); bài “Án nghị quyết của liên địa phương chấp Uỷ toàn thể hội nghị, năm 1934” đăng trên số 7/2009; bài “Vài nét về phong trào báo chí công khai tại Nam Kỳ (1936 – 1939)” đăng trên số 5/2010; bài “Vài nét về phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ giai đoạn 1930-1931 qua tài liệu lưu trữ” đăng trên số 6/2010. TS. Phạm Thị Huệ còn phối hợp với TS. Nguyễn Xuân Hoài để xây dựng bài viết “Vài nét về cảng Sài Gòn và con tàu La Touche Treville năm 1911” đăng trên số 5/2011. Phạm Thị Huệ – Nguyễn Xuân Hoài – Phan Văn Hoàng với bài viết “Hoạt động của các nhà cách mạng Việt Nam qua tài liệu lưu trữ của thực dân Pháp – nghiên cứu về trường hợp Trần Văn Giàu” đăng trên số 12/2011; TS. Đào Thị Diến với bài “Sự thành lập kho lưu trữ Nam kỳ cơ quan lưu trữ mang tính chất khu vực đầu tiên ở Đông Dương” đăng trên số 2 (6-1995); bài “Những văn bản đầu tiên về lưu trữ Việt Nam thời kỳ thuộc địa đã ra đời như thế nào?” đăng trên số 1(3-1995); TS. Bùi Thị Huệ với bài “Mấy đặc trưng về quyền sở hữu ruộng đất nông nghiệp ở Bình Phước (1862 – 1945) qua các nguồn tài liệu” đăng trên số 10/2010; Hà Kim Phương với bài “Tổng quan tài liệu lưu trữ về Nam Kỳ khởi nghĩa hiện đang bảo quan tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II” đăng trên số 11/2010; Cù Thị Dung cũng công bố một loạt bài về giáo dục của Pháp ở Nam kỳ trên tạp chí Văn thư Lưu trữ. Bài “Hệ thống giáo dục ở Nam kỳ từ khi Pháp xâm lược đến trước cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906)” đăng trên số 4/2011; bài “Vài nét về các trường nghề ở Nam Kỳ trong những năm đầu thế kỷ XX” đăng trên số 6/2011; bài “Những cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam thời thuộc Pháp (1862 – 1945)” đăng trên số 1/2012; Vũ Văn Tâm với bài “Một số cải cách bộ máy hành chính và quản lý tài chính của Pháp đối với các tỉnh Nam Kỳ trong những đầu thế kỷ XX” đăng trên số 7/2012; Trần Thị Mai với bài viết “Góp thêm một vài tư liệu và suy nghĩ về chính sách thuế ruộng đất của chính quyền thực dân Pháp ở Nam kỳ dưới thời thuộc Pháp”, hay GS. Trần Giang với bài viết “Sự tàn bạo của Đế quốc Pháp đối với cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ”, đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học “Chứng tích Pháp – Nhật trong chiến tranh xâm lược Việt Nam (1858 – 1954)” (Nxb. Trẻ);… TS. Lê Huỳnh Hoa đã cho công bố các bài viết: “Tầm vóc đường Hồ Chí Minh trên biển qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn” số 10.2011; “Về tổ chức “địa thế” trong hoạt động phòng thủ ấp chiến lược của Mỹ – Diệm ở miền nam Việt Nam giai đoạn 1961 – 1963”, số 9.2013;…

Một số bài viết khác được hình thành từ tài liệu ở Trung tâm II như: Tác động từ viện trợ của Hoa Kỳ đến kinh tế Việt Nam Cộng hòa qua tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn (Phạm Thị Hồng Hà); “Hoạt động phòng thủ và phát triển kinh tế” của hệ thống ấp chiến lược ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965) qua tài liệu lưu trữ Việt Nam Cộng hòa; Phong trào chống chiến tranh, đòi hòa bình ở Sài Gòn (1965 – 1973) qua một số tài liệu lưu trữ Việt Nam Cộng hòa; Cuộc Tổng tiến công Tết mậu Thân (1968) – Một bất ngờ đối với chính quyền và quân đội Sài Gòn (Qua tài liệu lưu trữ Việt Nam Cộng hòa); Công tác quản lý giáo dục đại học ở miền nam Việt Nam (1954 – 1975) qua tài liệu lưu trữ Việt Nam Cộng hòa; Tài liệu về điện lực Việt Nam thời kỳ chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975) qua tài liệu lưu trữ; Tài liệu lưu trữ trong nghiên cứu Xã hội học, trong nghiên cứu lịch sử các địa phương, đặc biệt trong nghiên cứu chủ quyền biển đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;…

  1. Thay lời kết

Không thể phủ nhận rằng, khối tài liệu thuộc các phông Phủ Thống đốc Nam kỳ, phông Việt Nam Cộng hòa, Đệ nhất Cộng hòa, Đệ nhị Cộng hòa,… là những di sản tư liệu có giá trị to lớn, giúp các nhà khoa học không chỉ trong nước mà cả trên thế giới có thể dựng lại bức tranh sinh động của xã hội vùng đất Nam kỳ và cả nước ta từ trước khi thực dân Pháp chiếm đóng đến năm 1975 và cả cho đến ngày nay, giúp hậu thế hiểu rõ hơn về chủ nghĩa thực dân, về chính sách cai trị của thực dân Pháp trên đất nước ta và toàn cõi Đông Dương; về toàn bộ quá trình hoạt động của chính quyền Mỹ – Diệm trong khoảng thời gian kéo dài 20 năm (1955 – 1975), về hoạt động của Mặt trận Dân tôc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và cả lịch sử nước ta diễn ra sau năm 1975. Đây là loại tài liệu có tầm quan trọng hết sức to lớn dùng trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn; loại tài liệu chính thống, đã được phân loại hết sức kỹ lưỡng để tiện cho việc lưu trữ và sử dụng khi cần thiết. Mỗi thông tin trong các tài liệu này có độ chính xác cao, văn phong khoa học, súc tích,… nên hết sức thuận lợi cho người sử dụng.

Các nhà nghiên cứu có thể tìm thấy trong kho tàng tài liệu lưu trữ ở Trung tâm II nhiều cứ liệu quan trọng để xây dựng các luận điểm khoa học cho đề tài nghiên cứu của mình. Các nhà lãnh đạo các cấp tham khảo tài liệu lưu trữ để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách kinh tế – xã hội của cả nước cũng như của từng địa phương ở các chặng đường phát triển. Trên cơ sở đó, có thể nhận thấy rằng, bản thân tài liệu lưu trữ ở Trung tâm II đã góp phần đáng kể cho việc tạo ra những giá trị to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,…

PGS.TS. Trần Thuận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Xuân Hoài (Cb, 2011), Trung tâm Lưu trữ quốc gia II – 35 năm trên đường phát triển (1976 – 2011), Nxb. Chính trị quốc gia.
  2. Trường ĐHKHXH&NV Tp. HCM – Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước Việt Nam (2014), Tài liệu phông Thống đốc Nam kỳ Tiềm năng di sản tư liệu, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb. ĐHQG Tp. HCM.
  3. Trường ĐHKHXH&NV Tp. HCM – Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (2014), Lưu trữ Việt Nam Cộng hòa (1955 – 1975) – Từ góc nhìn Lịch sử và Lưu trữ học, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb. ĐHQG Tp. HCM.

[1] Khối Sổ bộ bao gồm 17 loại sổ: Đinh bộ, Điền bộ, Đinh điền bộ, Thế bộ, Binh đinh bộ, Hôn thú bộ, Sinh tử bộ, Thanh nhân bộ, Ngưu bộ, Thuyền bộ, Công nghệ bộ, Đà chử bộ, Kiều lộ bộ, Thâu xuất bộ, Thâu nhập bộ, Diêm điền bộ, Viên chức bộ. Theo Nguyễn Xuân Hoài (Cb, 2011), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II – 35 năm trên đường phát triển (1976 – 2011), Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 228 – 229.

[2] Bộ Nội vụ – Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước  Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (2010), Cuộc Tổng tiến công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1968 – qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, Nxb. Chính trị quốc gia; Bộ Nội vụ  Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước  Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (2010), Về Đại thắng mùa Xuân năm 1975 – qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, Nxb. Chính trị quốc gia.

[3] Chỉ riêng phông Thống đốc Nam kỳ đã có 221 người nước ngoài đến khai thác, trong đó có 75 người nước ngoài (23 người Pháp; 18 người Mỹ; 18 người Nhật; 03 người Canada; 03 người Newzealand; 04 người Anh; 02 người Đức; 01 người Hà Lan; 01 người Úc; 01 người Trung Quốc; 01 người Singapore) khai thác tài liệu thuộc phông Phủ Thống đốc Nam kỳ để làm 11 luận văn Thạc sĩ, 64 luận án Tiến sĩ; có 31 người nước ngoài (04 người Đức; 04 người Nhật Bản; 03 người Anh; 06 người Pháp; 12 người Mỹ; 01 người Canada; 01 người Hà Lan) đến đọc tài liệu thuộc phông Phủ Thống đốc Nam kỳ để viết sách với những đề tài liên quan; có 95 độc giả (02 người Liên Xô; 02 người Hà Lan; 38 người Pháp; 06 người Australia; 14 người Mỹ; 03 người Anh; 12 người Nhật Bản; 03 người Canada; 01 người Campuchia; 02 người Thái Lan; 02 người Hàn Quốc; 01 người Đức; 01 người Thụy Điển; 01 người Singapore và 05 người không rõ quốc tịch) với các mục đích khác..

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *