Trang chủ / Từ điển

Từ điển

Định mức thu phỉ khai thác, sứ dụng tài liệu lưu trữ theo quy định của Bộ Tài chính
Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi khai thác
sử dụng tài ỉiệu lưu trữ để bù đắp lại các chi phí của Nhà nước trong việc quản lý tài ỉiệu lưu trữ.
Việc thu phí sử dụng tài liệu lưu trữ được quy định tại Thông tư số 30/2004/TT-BTC ngày 07/4/2004 hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ.
Theo Thông tư này, ngoài các đối tượng phải nộp nguyên mức thu phí, còn có các trường hợp được miễn thu, hoặc giảm phí bao gồm:
Không thu phí khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ đối với:
1. Các cá nhân, gia đình, dòng họ khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ do chính mình đã tặng, cho, kỷ gửi vào lưu trữ lịch sử,
2. Thân nhân (cha, mẹ đẻ, cha, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi) liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho việc giải quyết chế độ chính sách của chính mình,
3. Người hưởng chế độ hưu trí, mất sức lao động, tai nạn ỉao động hoặc người bị mắc bệnh nghề nghiệp hàng tháng khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho việc giải quyết chế độ chính sách của chính minh theo quy đinh của Nhà nước.
Mức giảm phí:
Áp dụng mức thu 50% phí khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ đổi với: học sinh, sinh viên các trường trung học, cao đẳng, đại học,
học viên cao học và nghiên cứu sinh khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu.
Bổ sung tài lỉệu lưu trữ - Acquisition of archives documents
Thu thập tài liệu lưu trữ định kỳ, theo hệ thống vào bào quàn ở lưu trừ có thâm quyển
Bổ sung tài liệu lưu trữ được thực hiện đối với cơ quan, tổ chức ià nguồn nộp lưu vào lưu trữ lịch sử có thẩm quyền nhằm hoàn thiện phông lưu trữ.
Việc bổ sung tài liệu còn được áp dụng đối với phông lưu trữ mở để thu thập định kỳ những tài liệu lưu trữ đến hạn nộp lưu, làm cho tải liệu của phông lưu trừ tiếp tục được hoàn thiện, phản ánh đúng với các hoạt động đã diễn ra của cơ quan hình thành phông.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thời hạn thu thập bổ sung tài liệu lưu trữ được quy định ỉà:
1. Tài liệu hành chính, tài ỉiệu nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ, tài liệu xây dựng cơ bản: sau mười năm, kể từ năm tài liệu được giao nộp vào lưu trữ hiện hành của các cơ quan, tổ chức ở trung ương, sau năm năm, kể từ năm tài liệu được giao nộp vào lưu trữ hiện hành của các cơ quan, tổ chức ở địa phương.
2. Tài liệu phim, ảnh, phim điện ảnh, microfilm, tài liệu ghi âm, ghi hình, tài liệu khác: sau hai năm, kể từ năm tài liệu được giao nộp vào ỉưu trữ hiện hành của cơ quan, tô chức.
Tài ỉiệu của các ngành quốc phòng, công an, ngoại giao: sau 1. ba mươi năm kể từ năm tài liệu được giao nộp vào lưu trữ hiện hành của cơ quan, tổ chức, trừ tài liệu chưa được giải mật và tài liệu còn giá trị hiện hành.
Thời hạn thu thập bổ sung theo quy định trên được nghiên cứu, đề nghị thay đổi như sau:
1. Tài liệu lưu trữ hành chính, tài liệu khoa học và công nghệ, tài liệu xây dựng cơ bản nộp lưu trong thời hạn mười năm, kể từ năm công việc kết thúc.
2. Tài liệu lưu trữ phim, ảnh, phim điện ảnh, tài liệu ghi âm, ghi hình, tài liệu điện tử nộp lưu trong thời hạn hai năm, kể từ năm công việc két thúc.
3. Tài liệu chuyên môn nghiệp vụ có giá trị lịch sử của các ngành nộp lưu sau khi hết giá trị hiện hành.