Kinh Vĩnh Tế – Thoại Hà và những công trình thủy lợi phục vụ phát triển KT-XH vùng Tứ giác Long Xuyên-An Giang

Phải có sự hiểu biết về lịch sử, địa lý, thủy văn của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Tứ giác Long Xuyên nói riêng từ khi người Việt đến khai khẩn vùng đất này, chúng ta mới thấy rõ thêm giá trị to lớn của các công trình thủy lợi mà người Việt Nam nối tiếp nhau làm nên. Có thể nói, cho đến đầu thế kỷ 17, khi người Việt đến lập nghiệp ở đây, thì vùng này là một đồng nước hoang vu, người Chân Lạp đã không đủ sức khai khẩn và quản lý, mà chỉ có từng nhóm nhỏ người Khmer quần tụ trên những gò đất cao ở Sóc Trăng, Trà Vinh, ở Bảy Núi – An Giang và các hòn ven biển ở Kiên Giang. Cùng thời đó, một bộ phận người Hoa bị nhà Mãn Thanh khủng bố, bỏ đất nước chạy sang, được Chúa Nguyễn cho cư trú ở Tiền Giang hoặc tự khai khẩn ở Hà Tiên và một vài nơi khác. Chúng tôi hiểu rằng: Từ 300 năm trước, trên vùng đất hoang ngập úng thường xuyên này, thiên tai, thú dữ luôn luôn đe dọa những nhóm cư dân người Việt, người Khmer, người Hoa mà phần lớn là hạng người tận cùng của xã hội đương thời. Một vùng đất bị bỏ quên cùng với những con người cùng khổ. Thử hỏi nếu không có những bậc công thần như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Văn Thoại… và với những tài năng, đức độ của các vị thì làm sao có được như ngày nay.

I. TỪ KINH VĨNH TẾ, THOẠI HÀ HÌNH THÀNH TỨ GIÁC LONG XUYÊN VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

  1. Quá trình hình thành vùng Tứ giác Long Xuyên

Theo Gia Định Thành Thông Chí, kinh Vĩnh Tế được khởi đào từ tháng Chạp năm Kỷ Mão (1819) đến tháng 5 năm Giáp Thân (1824) thì hoàn thành. Kinh dài 44.412 tầm tương đương với 97,706 km, rộng 15 tầm và sâu 6 thước. Trên tuyến có 7.574 điểm đất cắm do người Việt đảm trách. Tổng số nhân công tham gia là 80 ngàn người, khởi đầu là 5 ngàn người, cao điểm có hơn 55 ngàn người (chia 3 phiên) và giai đoạn cuối cũng có mặt 25 ngàn người. Mỗi người đi đào kinh hàng tháng được cấp 6 quan tiền và một vuông gạo (khoảng 36-40 lít – Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang Miền Nam).

Nói kinh Vĩnh Tế, chúng ta không chỉ có biết con kinh đào từ sông Hậu, Châu Đốc chạy thẳng ra biển Hà Tiên do Thoại Ngọc Hầu chỉ huy thực hiện, mà phải thấy rằng hình như ông đã có ý đồ “quy hoạch” vùng tứ giác này bằng việc trước đó (1818) đã đào kinh Thoại Hà nối với rạch Long Xuyên, từ Ba Bần (Vĩnh Trạch – Thoại Sơn) đến thị xã Rạch Giá (Kiên Giang) dài 37 km để hình thành một vùng tứ giác: phía Bắc là kinh Vĩnh Tế dài 97 km, phía Nam là rạch Long Xuyên và kinh Thoại Hà dài 87 km, phía Đông là sông Hậu dài 56 km và phía Tây là biển Rạch Giá-Hà Tiên có chiều dài gần 90 km, với tổng diện tích khoảng 500 ngàn ha, trong đó phần thuộc An Giang ngày nay là 239.200 ha, chiếm 47,43% diện tích toàn vùng tứ giác và bằng 69,80% diện tích của tỉnh An Giang.

Quá trình đào kinh Thoại Hà – Vĩnh Tế là quá trình triều đình tổ chức di dân, dùng chính sách chiêu mộ dân miền ngoài vào định cư và khai hoang. Các khu vực Châu Đốc, Long Xuyên, Châu Phú, Núi Sập và dọc 2 tuyến kinh mới đào (Thoại Hà, Vĩnh Tế) là những khu dân cư đầu tiên. Năm 1823 lập được 5 làng mới dọc tuyến kinh Vĩnh Tế đang đào, khai khẩn được 770 mẫu ruộng phía sau thành An Giang. Thoại Ngọc Hầu còn tổ chức đắp đường Châu Đốc-Núi Sam, Châu Đốc-Hà Tiên, Châu Đốc-Lò Gò (Campuchia)… có giao thông bộ cùng với thông thương đường thủy, thúc đẩy càng nhanh công cuộc mở mang xứ này.

Theo địa bạ năm 1836 thì đất thực canh của 2 huyện Đông Xuyên, Tây Xuyên, tức là phần thuộc An Giang ngày nay, có diện tích nông nghiệp là 16.495 ha, trong đó phần ở Châu Đốc là 12.315 ha (chiếm 74,6%). Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì năm Minh Mạng thứ 13 (1832), số dân định cư ở An Giang là 25.645 người. Dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, công cuộc di dân, khai hoang, lập thêm thôn, ấp mới được đẩy mạnh. Triều đình thu thuế hàng năm trên 5 vạn hộc lúa, tiền 10 vạn quan tiền và hàng ngàn lạng bạc… Năm 1854, Nguyễn Tri Phương báo cáo đợt khai hoang này ở An Giang lập thêm 23 ấp mới. Đến năm 1853, 3 huyện Tây Xuyên (tức Long Xuyên), Hà Dương (Vĩnh Quỳnh), Hà Âm (Giang Thành) tức là gần như toàn vùng Tứ giác Long Xuyên, đã thành lập được 9 tổng 118 thôn xã. Năm 1866, doanh điền sứ An Giang-Hà Tiên là Trần Hoàn báo cáo đã mộ được 1.646 dân đinh, thành lập được 149 thôn và khẩn được 8.333 mẫu ruộng. Như vậy, sau 110 năm, kể từ ngày Chúa Nguyễn chính thức quản lý và tổ chức bộ máy cai trị (1757) nối tiếp 86 năm (từ 1671) khai khẩn của người Việt trên phần đất Bảy Núi, người Hoa trên phần đất Hà Tiên do Mạc Cửu lãnh đạo, cho đến khi Pháp xâm lấn hoàn toàn, chiếm đóng Nam kỳ (1867), vùng Tứ giác Long Xuyên đã được đầu tư xây dựng thủy lợi, tổ chức định cư, khai hoang sản xuất và sắp đặt các đơn vị hành chính như vừa kể, mà tiến bộ nhất là vua Minh Mạng, năm 1832 đã cho tổ chức lại đơn vị hành chính trên cả nước từ 27 trấn dinh thành 31 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Tiên và tỉnh An Giang, tỉnh lỵ An Giang được đặt tại thành Châu Đốc. Vùng Tứ giác Long Xuyên bao gồm phần lớn diện tích của 2 tỉnh đã ổn định và thống nhất quản lý từ đó cho đến nay được 167 năm (1832 – 1999). Nhưng nếu tính về mặt chủ quyền thì chính thức là 242 năm (từ 1757), nếu tính về quyền khai thác và làm chủ sử dụng thì được 328 năm, kể từ (1671) ngày Mạc Cửu khai khẩn Hà Tiên thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên.

  1. 108 năm thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bọn tay sai khai thác vùng Tứ giác Long Xuyên

Thực dân Pháp xâm lược nước ta, sau khi đặt bộ máy cai trị, đã bắt tay ngay vào việc khai thác nông nghiệp vùng này, bằng việc tiếp tục làm thủy lợi, trên cái khung tứ giác mà Thoại Ngọc Hầu đã vạch. Hơn 80 năm đô hộ, nhưng phải từ năm 1916 đến 1945, trải qua 30 năm, chúng chỉ mới đào được 9 kinh trục như: kinh Rạch Giá-Hà Tiên, Tám Ngàn, Tri Tôn, Ba Thê, Kinh Đào, Cần Thảo, Vịnh Tre, Núi Chóc-Năng Gù và Bốn Tổng. Trong đó, kinh Tám Ngàn dở dang đoạn Giồng Cát mà suốt 2 thời kỳ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ không phá được.

Chúng làm thủy lợi, khai hoang, thúc đẩy sản xuất nhằm vơ vét cho xuất khẩu, nên diện tích và sản lượng lúa ở vùng đồng bằng Cửu Long không ngừng gia tăng từ 522 ngàn ha (1880) lên 2.200.000 ha (1937) và lúa xuất khẩu cũng từ 284 tấn lên 1.548.000 tấn. Trong đó, riêng tỉnh An Giang (Châu Đốc + Long Xuyên) từ 11.275 ha (1872) lên 272.250 ha (1954) và sản lượng cũng từ trên 10 ngàn tấn lên khoảng 300 ngàn tấn. Chúng khai thác và vơ vét xuất khẩu 5/6 sản lượng lúa toàn vùng đồng bằng Cửu Long, mà theo một nhà kinh tế Pháp Paul Bernard nhận xét: nhờ đóng góp lương thực của đồng bằng Cửu Long mà Chính phủ Pháp có thể đài thọ cho toàn bộ bộ máy cai trị, cả quân đội Pháp toàn cõi Đông Dương.

Trong thời gian Mỹ xâm lược (1954-1975), Ngô Đình Diệm đào được duy nhất chỉ có 1 con kinh Mới (năm 1962), nối kinh Vĩnh Tế với kinh Tám Ngàn, nhưng không phải mục đích là sản xuất nông nghiệp mà để chống phá cách mạng, ngăn chia vùng căn cứ kháng chiến. Con kinh này cho đến nay vẫn không phát huy được tác dụng, vì về mặt kỹ thuật nó không bảo đảm dẫn ngọt.

Nhờ thủy lợi của các thời kỳ trước để lại, đến năm 1969, diện tích sản xuất lúa ở An Giang đã lên đến 275.000 ha (kể cả huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Cần Thơ ngày nay), sản lượng đạt 465.400 tấn, năng suất bình quân 1,69 tấn/ha. Nhưng từ đó, Mỹ ngụy lại đẩy mạnh Việt Nam hóa chiến tranh, đồng ruộng bị hoang hóa ngày càng nhiều, mặc dù năm 1968 chúng đã du nhập giống lúa TN 8, TN 5 vào sản xuất ở An Giang với diện tích khá lớn (1972 là 47.100 ha, trong đó có 23.500 ha sản xuất 2 vụ) nhưng sản lượng lương thực vẫn không tăng, nhân dân thiếu đói. Đến năm 1975, miền Nam giải phóng, Trung ương phải cứu đói.

  1. Đầu tư, khai thác Tứ giác Long Xuyên (An Giang) từ sau giải phóng đến nay

Từ sau ngày miền Nam giải phóng, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn đặt sản xuất nông nghiệp là nền tảng, mà lương thực là mặt trận hàng đầu, và thủy lợi là khâu then chốt, đột phá. Từ đó đến nay, tập trung chủ yếu là từ 1988, khi Chính phủ thành lập BCĐ chương trình Tứ giác Long Xuyên, tỉnh An Giang đã ưu tiên đầu tư, xây dựng, đào mới trên vùng tứ giác thuộc An Giang được 1.255 công trình kinh mương từ cấp 3 đến cấp 1, tổng chiều dài là 3.107 km, với khối lượng đất đào trên 56 triệu m3. Đó là chưa kể 39,6 triệu m3 nạo vét các con kinh cũ. Trong khối lượng đất đào mới, có 35 triệu m3 đào mới từ năm 1988 đến nay. Với hệ thống thoát lũ, rửa phèn, đã phục vụ cho khai hoang, phục hóa, chuyển vụ trong hơn 10 năm qua được 132.000 ha, nâng tổng sản lượng lương thực của vùng tứ giác thuộc An Giang từ 289.000 tấn (1976) lên 444.000 tấn (1987) và 1,5 triệu tấn (1998), tức là trong 10 năm đổi mới tăng lên hơn 3 lần (trong khi hơn 10 năm trước – 76-87 chỉ tăng 53,63%), góp phần quan trọng cho cả tỉnh ước đạt 2,343 triệu tấn năm 1999. Nhờ khai khẩn vùng tứ giác Long Xuyên, An Giang từ chỗ bình quân lương thực năm 1976 chỉ 397 kg/người, năm 1988 đạt 564 kg/người và năm 1999 lên đến trên 1,1 tấn/người. Nhờ có hệ thống thủy lợi mới, đã nâng năng suất vùng tứ giác từ 1,98 tấn/ha/vụ (năm 1976) lên 2,62 tấn/ha/vụ (năm 1987) và 4,82 tấn/ha/vụ (năm 1998). Và cũng nhờ có hệ thống thủy lợi kết hợp đê bao và giao thông, nhất là công trình thoát lũ Vĩnh Tế – T6 – T5 – T4 mà độ ngập ở phía vùng trũng của tứ giác giảm rất rõ rệt, sản xuất từ 1 vụ sang 2 vụ ăn chắc và đang tiến lên 3 vụ, đưa hệ số sử dụng đất toàn tỉnh từ 1,2 lần (1976) lên 2,07 lần/năm (1999). Nhà ở không còn bị ngập và đường sá khô ráo, người dân mà nhất là học sinh đi lại trong mùa lũ thuận tiện, không phải nghỉ học tránh lũ như mọi năm.

Dân số vùng tứ giác, bao gồm thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc năm 1976 là 631.487 người, năm 1988 là 959.675 người, năm 1999 là 1.141.501 người. Qua hơn 20 năm đầu tư phát triển, dân số tăng lên trên nửa triệu người, trong đó có 136.662 người được định cư theo chương trình “di dân kinh tế mới”. Tổ chức đơn vị hành chính cơ sở từ 51 xã, phường, thị trấn thuộc 2 thị xã và 5 huyện, được tổ chức lại thành 83 đơn vị cơ sở, 1 thành phố, 1 thị xã và 5 huyện. Không kể thành phố, thị xã, thì từ chỗ chỉ có 3 bệnh viện huyện, 35 trạm xá xã (1976), nay có 5 bệnh viện huyện, 66 trạm xá xã (100%). Chỉ tính 5 huyện nông thôn, năm 1976 chỉ có 61 trường, nay có 207 trường, trong đó có 45 trường cấp 2, cấp 3.

Năm 1995, 100% số xã của tỉnh được phủ lưới điện quốc gia. Chỉ tính 5 huyện vùng tứ giác (không kể 2 đô thị), có 34.665 hộ dùng điện (26,18%), 35.961 hộ sử dụng nước sạch (27,10%). Năm 1999, có 162.385 hộ dùng điện (49,34%), 46.412 hộ dùng nước sạch (28,58%). Số hộ có nhà gỗ bền và nhà xây tăng gần gấp đôi, chiếm khoảng 50%. Số hộ có hố tiêu hợp vệ sinh từ chỗ không đáng kể, trước khi thực hiện Chỉ thị 200 của Thủ tướng Chính phủ, nay đã có gần 80% hộ. Các chỉ tiêu về tiện nghi sinh hoạt, học hành và chăm sóc sức khỏe đều gia tăng đáng kể.

Có thể nói từ sau giải phóng, nhất là từ khi có chương trình Tứ giác Long Xuyên của Thủ tướng Chính phủ, Chương trình 327, 773, Quyết định 99, Quyết định 256, Chỉ thị 200, Nghị định 36 v.v… toàn bộ vùng Tứ giác Long Xuyên của An Giang đã có một bước đột phá về sự phát triển toàn diện: kinh tế-xã hội, đời sống người dân được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần, hệ thống chính trị càng được củng cố vững chắc hơn. Một cuộc đổi đời lịch sử. Một bức tranh quê đã được vẽ lại với những đường nét và màu sắc tươi tắn hơn. Thật là: Xanh rừng, vàng lúa, đỏ ngói, đường quang, rộn ràng chợ búa.

II. TỪ KINH VĨNH TẾ ĐẾN CÔNG TRÌNH THOÁT LŨ RA BIỂN TÂY

Bằng sự quan sát thực tiễn, chúng tôi hình dung: về mùa mưa, toàn bộ lượng nước mưa trên hơn phân nửa lãnh thổ Campuchia như một mái nhà, mà dãy Đôn-Rếch là nóc, một lượng nước khổng lồ, nhưng là nước xấu không có phù sa đổ về vùng trũng, khi gặp một lượng nước lớn hơn gấp hàng chục lần từ thượng nguồn sông Mekong đổ về qua nhánh sông Tiền và Biển Hồ-sông Hậu thì dội lại chứa trong lòng chảo Tứ giác Long Xuyên, qua 7 cầu (Châu Đốc – Nhà Bàn) với 2.000 đến 2.400 m3/giây. Lượng nước qua 7 cầu chẳng những gây ngập úng nặng nề mà còn chảy ngược ra sông Hậu theo rạch Mặc Cần Dưng, làm cho phù sa không vào được vùng tứ giác. Như vậy, kinh Vĩnh Tế gợi ý cho ta như là một máng xối, nếu ta bịt kín 7 cầu, thì 3.000 m3/giây sẽ đổ ra biển Tây, vùng Tứ giác Long Xuyên sẽ rước nước phù sa màu mỡ từ sông Hậu đổ về, đồng thời lại giảm độ ngập sâu trong vùng.

Nhận thức này có được phải trải qua thực tiễn lâu dài, được các nhà khoa học và cán bộ kỹ thuật dày công đo đạc, theo dõi, nghiên cứu, nhất là chương trình quốc gia sông Mekong. Bộ Thủy lợi – nay là Bộ Nông nghiệp & PTNT qua nhiều năm khảo sát, đã tiến hành quy hoạch thủy lợi cho toàn vùng đồng bằng Cửu Long, trong đó có vùng Tứ giác Long Xuyên. Nhưng phải nói thực tình rằng: ý tưởng về thoát lũ ra biển Tây đã có từ tình cảm, nhận thức bằng quan sát và cả đề xuất khoa học, nhưng việc quyết định thực hiện còn phải chờ đợi cho đến năm 1996, Thủ tướng Võ Văn Kiệt mới ra Quyết định 99/TTg ngày 9/2/1996 về công tác thủy lợi – kiểm soát lũ, xây dựng giao thông, bố trí lại dân cư… cho toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có Tứ giác Long Xuyên.

Từ Quyết định 99/TTg đến việc thực hiện các công trình thoát lũ là một thời gian rất ngắn ngủi, với những tính toán kỹ thuật hết sức khẩn trương và chính xác, với nhịp độ thi công cũng hết sức hối hả. Thật là chưa từng có xảy ra trường hợp nào tương tự. Nhưng cán bộ khoa học-kỹ thuật tham gia chương trình không phải là không gặp khó khăn, đa số cán bộ và nhân dân trong vùng thì hồ hởi, hăm hở, người khác thì vô tư hoặc thậm chí lời ra, tiếng vào không ít. Nhưng thời gian là thước đo chân lý, chỉ mới 3 năm mà chân lý đã được khẳng định. Đây cũng là “cây thước” ngắn nhất!

Năm 1990, kinh T6 đoạn dưới nối vào giữa kinh Mới được khởi công và căn bản hoàn thành. Năm 1997 khởi công và hoàn thành kinh T5 trước lũ tháng 8. Năm 1998 khởi công kinh T4, đồng thời nạo vét kinh Vĩnh Tế và làm tuyến đê ngăn lũ bờ nam kinh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến Hà Tiên và các công trình cống, đập trên tuyến, bịt kín 7 cầu. Năm 1999 đào tiếp đoạn kinh T6 nối dài, mở vàm từ kinh Vĩnh Tế nối vào đoạn đã đào năm 1976 để thoát lũ lớn hơn.

Toàn bộ công trình thoát lũ, ngăn mặn cho toàn vùng Tứ giác Long Xuyên, khởi đầu từ kinh Vĩnh Tế, có liên quan đến tỉnh Kiên Giang nên trong báo cáo này tôi không nói được đầy đủ về khối lượng, giá trị và thời gian cụ thể của các công trình. Bộ Nông nghiệp & PTNT sẽ nói đầy đủ hơn. Ở đây, tôi tâm đắc nhất phần lợi ích bước đầu mà nó mang lại cho An Giang, tuy các công trình chỉ mới hoàn thành phần căn bản là ngăn và thoát lũ.

Cuối tháng 9/1999, các phần việc ngăn lũ như tuyến đê và 2 đập cao su (Tha La và Trà Sư) đã hoàn thành thì lũ cũng xuất hiện gần điểm đỉnh. Ngày 27/9, khi mực nước Tân Châu lên đến 4 m, Châu Đốc 3,55 m, lũ đã dâng tương đương (lấp ló) mặt đập Trà Sư, Tha La, thì toàn bộ khối nước với lưu lượng gần 3.000 m3/giây hàng năm, nay được phân về cho các tuyến kinh T6, T5, T4 và Vĩnh Tế (đoạn Vĩnh Điều-Giang Thành). Ngày 29/9, nước tràn mạnh qua 2 đập cao su với độ chênh lệch tại chân đập trên 1 m. Cùng ngày này, mực nước thực đo tại Tân Châu 4,03 m, thấp hơn đỉnh lũ 1996 là 0,84 m, tại Châu Đốc 3,63 m thấp hơn đỉnh lũ 1996 là 0,91 m, tại cầu Hữu Nghị 3,57 m so đỉnh lũ 1996 thấp hơn 0,65 m, tại cầu 13 Tri Tôn (là cái chuẩn đánh giá tác dụng ngăn lũ của tuyến ngăn lũ ở 7 cầu) so đỉnh lũ 1996 thấp hơn 1,12 m.

Qua số liệu thực đo ngày 29/9/99, khi mực nước Tân Châu 4,03 m (còn 0,17 m đạt mức báo động 3) và lấy một mặt bằng thống nhất năm 1996 là năm cao nhất từ những năm 90 và là năm các công trình thoát lũ chưa khởi công (trừ T6 cũng chỉ mới khởi công nhưng chưa thông tuyến), thì chúng ta thấy mức chênh lệch lớn nhất là tại điểm cầu kinh 13, là nơi đo thực chất ngăn lũ của tuyến 7 cầu. Và khi tôi viết đến đây, thì mực nước Tân Châu đã đạt báo động 3 (4,20 m – 4/10/99) và tôi cũng mới đi khảo sát trong vùng tứ giác mới về, bằng quan sát thông thường cũng đã thấy rất rõ: các tuyến đê, đường bộ, những năm nước ở Tân Châu báo động 3 thì ở đây đã ngập hoặc lấp ló, nhưng nay thì không có bất cứ nơi nào tái diễn tình trạng đó, mà phần lớn là còn rất cao ráo, việc đi lại, học hành như không có lũ lớn xảy ra, thậm chí có người còn có phát biểu là “lũ năm nay không lớn”, phù sa từ sông Hậu chảy mạnh vào kinh Mặc Cần Dưng chứ không như mọi năm là ngược lại. Cùng với những công trình đê bao sản xuất 3 vụ ở trong vùng đang phát huy tác dụng, nhân dân rất hồ hởi, có việc làm. Tuy còn phải tiếp tục theo dõi diễn biến để đánh giá công trình này đầy đủ hơn, kể cả tác dụng dẫn ngọt, rửa phèn và ngăn mặn ở phần đất Kiên Giang, (và có lẽ phải qua vài năm lũ lớn, vượt báo động 3), nhưng tôi cũng là một trong những người rất tâm huyết với công trình thoát lũ này, mặc dù có hình dung kết quả của nó, nhưng nay tận mắt thấy được những gì nó mang lại, lòng không khỏi ngạc nhiên, xúc động, có khi còn ngẩn ngơ như nằm mơ vậy! Từ đáy lòng mình, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn của nhân dân và cán bộ An Giang đối với Đảng, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & PTNT cùng các Bộ, ngành Trung ương, các nhà khoa học và các cán bộ kỹ thuật, mà đặc biệt là đối với Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu!

III. KINH VĨNH TẾ LÀ PHÒNG TUYẾN BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG BỜ CÕI

Mục đích đào kinh Vĩnh Tế như vua Gia Long nhân khi thành Châu Đốc xây xong (cuối năm 1816), ông xem họa đồ vùng Châu Đốc – Hà Tiên và nói: “Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên thì hai đàng nông thương đều lợi. Trong tương lai dân đến ở càng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to vậy”, “mà cũng là lợi chung cho việc canh nông và thương mại nữa”. Khi phủ dụ dân binh đào kinh, ông nói: “Công trình đào sông này rất khó khăn, nhưng kế giữ nước và cách biên phòng quan hệ chẳng nhỏ, chúng ngươi tuy rằng ngày nay chịu khó, nhưng mà lợi ích cho muôn đời về sau”.

Như vậy, ngoài yêu cầu về giao thông, dân cư, mở mang kinh tế, thì theo Gia Long: “Vị thế Châu Đốc – Hà Tiên cũng không kém Bắc Thành”. Và theo vua Minh Mạng thì đây là “vùng địa đầu quan yếu, ta đã từng xuống chỉ chiêu tập dân buôn bán, cho vay tiền, gạo để lập ấp khẩn điền, quây quần sinh nhai. Đó là ý niệm của ta trong vấn đề củng cố biên cương” (1830).

Năm 1841, vua Thiệu Trị ra lệnh rút quân từ Trấn Tây (Nam Vang) về Châu Đốc và giao trả lại vùng đất từ Campốt giáp Hà Tiên đến KongPongson, một vùng rộng lớn ven vịnh Xiêm La do vua Chân Lạp là Nặc Tôn dâng tặng cho Mạc Thiên Tứ năm 1757 để đền ơn giúp đỡ (và Tứ đã dâng hết cho Chúa Nguyễn). Kinh Vĩnh Tế từ đây được xem là tuyến chuẩn để hoạch định biên giới như ngày hôm nay. Thoại Ngọc Hầu có công lớn là khi chỉ huy quân đội và dân công, đã kiên quyết khắc phục địa hình hiểm trở, đá ngầm để đào được tuyến kinh như hình thể bây giờ, là một lợi ích khó tả.

Trải qua 180 năm, trên tuyến kinh này đã diễn ra bao cuộc hành binh chiến đấu của kẻ xâm lược và quân dân Việt bảo vệ đất nước hoặc giúp bạn (Chân Lạp) ổn định và bảo vệ đất nước. Lịch sử cũng chỉ ra rằng mọi biến động chính trị, quân sự của bên này biên giới thì cũng đều có ảnh hưởng đến phía bên kia. Cho nên, mỗi cuộc hành quân vượt kinh Vĩnh Tế thì dù mục đích chính trị của nó như thế nào, nhưng vượt qua được kinh Vĩnh Tế là một điều cực kỳ khó khăn, nó như một “phòng tuyến mềm” mà vững chắc trên vùng đồng nước trống trải. Trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã bị nhiều tổn thất trên tuyến này, nên trong bộ đội ta cũng có người cải tên nó là kinh “Vĩnh biệt”! Kinh nghiệm trong hai cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng trong chiến tranh biên giới Tây Nam, ai ai cũng thấy vị trí chiến lược quân sự của tuyến kinh này. Do vậy mà trên tuyến này phía An Giang có 9 xã thì đã có 5 xã được nhà nước tuyên dương anh hùng (chưa kể 4 xã liền kề cùng được tuyên dương anh hùng).

IV- MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ TÍNH XÃ HỘI – NHÂN VĂN TỪ VÙNG KINH VĨNH TẾ VÀ CÔNG CUỘC KHAI KHẨN CỦA NGƯỜI XƯA VÀ NAY

Những cư dân đầu tiên ở đây phần lớn là lớp người tận cùng trong xã hội đương thời, người Việt, người Khmer, người Hoa và cả người Chăm. Có cả binh triều giải ngũ, tù hàng binh của lực lượng thua trận. Nhưng dù xuất thân từ đâu, khi đã định cư rồi thì vẫn là con dân nước Việt, đoàn kết và bình đẳng lẫn nhau, chân thành và cởi mở, hào hiệp và khí khái…

Về đoàn kết cộng đồng, năm 1700 Nguyễn Hữu Cảnh khi hành quân qua Vàm Nao, Châu Phú, Châu Đốc, Tân Châu đã dạy dân Việt, dân Miên phải thương yêu giúp đỡ nhau. Trải qua hàng trăm năm chung sống, người Việt, Khmer, Hoa, Chăm đều họp sức với nhau đào kinh Thoại Hà, Vĩnh Tế, đắp đường…, cùng nhau khai khẩn đất sản xuất và làm chủ. Theo địa bạ triều Nguyễn năm 1836, trong số dân có đất thì 76,2% có từ 3,5 ha trở lên, trong đó trên 60% dưới 10 ha đến 50 ha, chỉ có ít người chiếm trên 50 ha và nhiều nhất là 164 ha. Khác hẳn thời thực dân Pháp đô hộ là tích tụ ruộng đất cho địa chủ, tước đoạt ruộng đất của nông dân. Về phía triều đình cũng dùng người không phân biệt sắc tộc: Dòng họ Mạc Cửu đời nối đời được cho làm tổng trấn Hà Tiên, chỉ khi không còn người nối được mới thôi, người Khmer, người Chăm đều có làm quan lính trong lực lượng binh triều và bộ máy ở cơ sở. Chính vì tinh thần hòa hợp của nhân dân và chính sách dân tộc phù hợp của triều đình, mà ở đây chưa hề có những biến cố lớn về sắc tộc và tôn giáo trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta.

Về dân chủ và bình đẳng, nhất là địa vị của người phụ nữ ở đây cũng như toàn vùng Nam Bộ, theo chúng tôi cũng đã có sự đổi mới sớm hơn cả nước và có những nét rất độc đáo.

Tại Đình Thần xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên được dựng từ 1856, có đôi câu đối (chưa biết năm xuất xứ và tác giả):

Quân phi quân, thần phi thần, quân thần giai cộng lạc

Phụ bất phụ, tử bất tử, phụ tử thị đồng hoan.

Có nghĩa là vua tôi có địa vị riêng, quyền lực khác nhau, nhưng phần quyền lợi hưởng thụ thì cùng hưởng với nhau, không phân biệt. Cha con cũng vậy, có khác nhau là ngôi thứ, nhưng hưởng thụ, vui vẻ thì cùng như nhau.

Ý tứ của hai câu đối ấy phản ánh tinh thần dân chủ, tự tôn của người dân Nam Bộ. Đọc sưu tập của nhà văn Sơn Nam (xuất bản 1970) có câu: “Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm, “bữa xụa” ông tham biện bạc tiền ông để ở đâu”. Anh nông dân nào đó chắc chưa hề làm việc đó, nhưng trong anh thì công đường, công quỹ là của chung, người dân phải được kiểm tra và phải được xài; quan không phải là “phụ mẫu” mà là “huynh đệ” nên “vỗ ván”, “bắt tay” bình đẳng và thân mật. Đó là khát vọng dân chủ của dân nghèo. Nhân đọc đoạn này, tôi bỗng liên tưởng và nhớ lại câu chuyện do một đồng chí lão thành cách mạng kể cho tôi nghe cách đây gần 40 năm: Thân phụ Bác Hồ là cụ Phó bảng khi bị thực dân Pháp cầm giữ ở Cao Lãnh, cô hai Thanh là chị của Bác Hồ theo nuôi cha, khi có việc cần phải đến cửa quan Tây, nhưng chúng đến không đúng giờ, cô “dám” vỗ bàn nói chuyện với chúng, khiến cả vùng ai ai cũng kính phục. Bà Nguyễn Thị Tồn, vợ của thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa làm quan tri huyện, có lúc trấn đồn Vĩnh Thông (gần đầu kinh T6 bây giờ), dám vượt đường xa từ Vĩnh Long đến triều đình Huế gặp vua Tự Đức kêu oan cho chồng, làm động lòng mẹ vua Tự Đức và được bà Từ Dũ tặng cho 4 chữ: “Liệt phụ khả gia”, có nghĩa là đàn bà giỏi giang.

Về quyền lực của phụ nữ trong kinh tế dưới thời nhà Nguyễn được ghi rõ: 30% phụ nữ đứng tên làm chủ và sở hữu đến 20% ruộng đất (địa bạ 1836). Điều này, ứng với câu đối trên, theo tôi thì vấn đề dân chủ xã hội và bình đẳng nam nữ được phát tiết trên mảnh đất này là của tự người Việt Nam, mang tính nhân văn độc đáo, chứ không phải đợi du nhập từ cách mạng tư sản ở Pháp hay Châu Âu. Việc vua Minh Mạng không lập chức Hoàng hậu như thông lệ, vì sợ “đàn bà” lộng quyền, nhưng việc vua Minh Mạng cho lấy tên vợ của Thoại Ngọc Hầu để đặt cho con kinh mới đào từ Châu Đốc ra Hà Tiên là điều chưa từng thấy trong lịch sử nước ta thời bấy giờ (có lẽ Thoại Ngọc Hầu cũng đồng tác giả chuyện này với vua Minh Mạng), điều đó càng minh chứng thêm điều tôi vừa nói. Lăng Thoại Ngọc Hầu tại Núi Sam hiện nay, nếu tinh ý chúng ta cũng sẽ thấy có nét nhân văn độc đáo: Ông tự thiết kế và xây dựng Lăng cho mình. Nhưng không phải chỉ cho mình, mà trước hết là chôn vợ (Bà Tê) và những dân binh đào kinh Vĩnh Tế bỏ mình, ông cho quy tập hài cốt về cải táng, ở đây còn có mồ mả của những người thân thuộc, hầu cận và cả của đoàn ca múa Quảng Nam. Đọc văn tế nghĩa trũng, chúng ta càng rõ thêm tấm lòng nhân hậu của ông. Quan sát khu Lăng mộ, chúng ta mới thấy thêm tầm cỡ văn hóa của ông. Đó là một xã hội nhân văn đương thời thu nhỏ mà ta ít thấy!

Theo các nhà khảo cổ thì Nam Bộ là trung tâm của nước Phù Nam, mà Óc Eo từng là thương cảng sầm uất của Vương quốc đó. Óc Eo nằm ở huyện Thoại Sơn, trung tâm Tứ giác Long Xuyên, nơi có một nền văn minh một thời rực rỡ đã bị vùi lấp không hiểu vì lý do gì từ khoảng thế kỷ thứ VII sau Công nguyên mà thế giới đã biết và đang tìm hiểu. Đó là điều đáng tiếc. Mặt khác, thành phần các cư dân đến đây lập nghiệp như nói ở trên, phần lớn đều là nghèo, dốt, một bộ phận khá đông là người phạm tội, trong khi đó lại cách xa trung tâm văn hóa ở Đàng Trong, mà Đàng Trong lại cắt quan hệ với trung tâm văn hiến là kinh thành Thăng Long do chiến tranh Trịnh-Nguyễn hàng trăm năm, và những cư dân đến đây để mà lao động (khai hoang, đào kinh, đắp đường) và chiến đấu liên tục, chỉ có đến năm Minh Mạng thứ 18 mới xây trường huyện học ở thôn Long Sơn (Tân Châu) và năm Thiệu Trị thứ 2 mới mở tỉnh học ở Châu Phú (chỉ tính riêng phần thuộc An Giang ngày nay). Như vậy, người dân ở đây, việc học hành, khoa bảng, cho đến ngày Pháp đô hộ xem ra là chuyện xa vời, nhưng nền văn minh nhân bản thì rõ ràng ở đây không thiếu, nó được kế thừa và phát huy từ nền văn hiến Đại Việt, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của người Chân Lạp, người Hoa, người Ấn… Có những điểm chúng ta thấy hình như có cả dấu ấn của người bản địa mà chúng ta hay gọi là Phù Nam còn vương lại trong sinh hoạt và sản xuất (mà người thủy Chân Lạp kế thừa) như: Nhà sàn trên nước, lúa mùa nước sạ thẳng, dùng gỗ sao chịu nước để đóng ghe xuồng, mặc áo bà ba, quấn khăn rằn… Nếu xem lại quá trình mở mang và ổn định vùng đất này thì chúng ta thấy nét đặc sắc là đã hình thành ở đồng bằng Cửu Long một nền văn minh sông nước, với: Nhà ở trên nước, đi lại và họp chợ trên nước, sản xuất trên nước (trồng lúa và đánh bắt thủy sản), đánh giặc cũng trên nước và thậm chí chết cũng chôn trên mặt nước! Ở An Giang có nét đặc sắc nữa là: Tất cả các bậc chí sĩ chống Tây, cụ nào cũng lập trại ruộng đồng thời cũng làm chùa để làm chỉ huy sở, như ở Láng Linh, Thới Sơn, Ba Chúc, Núi Sam, Núi Cấm v.v… Dân An Giang trước đây phần lớn đều học võ, mỗi trại ruộng và lẫm lúa lớn đều là một sân dạy võ, thầy dạy võ cũng được trân trọng như thầy dạy chữ Nho. Dân học võ để chiến đấu tự vệ, để chống Tây, nên tâm hồn cũng rất thượng võ phóng khoáng như câu chuyện Lục Vân Tiên, chuyện người giúp đỡ cọp ở cù lao Ông Hổ… mà ai cũng thuộc, cho nên người dân An Giang vừa làm ruộng giỏi, vừa hiền hòa và khẳng khái. Đó là nét đặc trưng được kế thừa từ nền văn hóa gốc và được phát huy trên vùng đất mới. Theo nhà văn Sơn Nam thì sau khi liệt kê những nét văn hóa độc đáo ở đồng bằng Cửu Long đã đặt cho cái tên nôm na, mộc mạc là văn minh miệt vườn.

Không biết đất này có phải là địa linh hay không, nhưng người Tàu lại sợ sinh nhân kiệt nên đã bí mật cho làm ếm ở một số nơi, như ở Bãi Bái xã Nhơn Hưng (Tịnh Biên) tại bờ kinh Vĩnh Tế, phát hiện có 1 cây yểm còn rõ chữ. Mùa thu, tháng 8, Càn Long nhà Thanh năm thứ 57 (1792). Sáu mươi năm sau, cụ Đoàn Minh Huyên đã cho làm “thẻ giải yểm”, cắm những nơi có “bia Càn Long”. Sự thật thì còn phải bàn thêm, nhưng đất này (Thất Sơn – An Giang) rõ ràng là nơi tụ hội nhân tài cứu nước và sinh ra nhân kiệt như chúng ta đã biết, mà tiêu biểu là Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Về tôn giáo và chùa miếu ở An Giang tuy có nhiều vấn đề phức tạp, nhưng vẫn có những nét độc đáo hiếm có, cần phải có công trình nghiên cứu công phu sẽ rút ra được nhiều vấn đề lý thú. Nếu trừ đi yếu tố mê tín cuồng nhiệt và mưu đồ chính trị do kẻ xấu bày ra và xúi giục, thì đạo Phật (hoặc có nguồn gốc đạo Phật), mà những người tín đồ đầu tiên đều là người yêu nước, chống xâm lược và biết cày cấy giỏi. Điều đó được minh chứng là hiện nay có đến 10/22 ngôi chùa, miếu được công nhận di tích lịch sử văn hóa và một số chùa khác được tặng thưởng Huân chương chống Mỹ cứu nước.

Ngày nay, cả nước vui mừng và yên tâm với vùng đất nông nghiệp trù phú, là vựa lúa của cả nước, trong đó nổi lên vùng Tứ giác Long Xuyên, một trong những mảng sáng chói tính cách mạng và tính nhân văn. Cùng với hàng triệu con người nối tiếp nhau lao động, chiến đấu và sáng tạo, những hình ảnh người xưa như: Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Cư Trinh, Thoại Ngọc Hầu và các bậc lãnh đạo đương thời của chúng ta, mà tiêu biểu là đồng chí Võ Văn Kiệt sẽ mãi mãi là một phần của cuộc sống ở đây, hôm qua, hôm nay và muôn đời mai sau!

Kinh Vĩnh Tế là công trình lịch sử vĩ đại ở đồng bằng sông Cửu Long đầu thế kỷ 19, là niềm tự hào của triều Nguyễn; được ghi trên Cao Đỉnh ở Huế, được đưa vào khai thác ngót 175 năm. Đến nay chúng ta còn chưa đánh giá được đúng và đầy đủ, mà theo tôi là chúng ta còn sẽ phải tiếp tục nghiên cứu, khám phá và phát huy trên tinh thần phát triển liên tục.

Song, những công trình thủy lợi ở vùng Tứ giác được đầu tư từ sau ngày giải phóng đến nay; nhất là công trình thoát lũ ra biển Tây, bao gồm: Vĩnh Tế, T5, T6, T4… mà chúng ta sắp hoàn thiện; theo tôi, cũng là một công trình có ý nghĩa lịch sử ở vùng này của thế kỷ 20!

Nếu kinh Vĩnh Tế thể hiện trí tuệ, ý chí và sức lực cơ bắp của người xưa, thì công trình thoát lũ Vĩnh Tế – T5 là biểu hiện sinh động của tấm lòng, ý chí, trí tuệ và phương tiện khoa học-kỹ thuật mà chúng ta có, đặc biệt là cái tâm và cái trí. Tôi đề nghị nghiên cứu đặt tên cho công trình thoát lũ xứng với tầm cỡ của nó để thống nhất gọi từ nay.

Còn không bao lâu nữa là thế giới bước sang thiên niên kỷ mới. Thế hệ chúng ta hôm nay chắc không còn ai sống đến cuối thế kỷ 21, nhưng chúng ta đều có trách nhiệm và thời gian để lo cho sự hạnh phúc và văn minh của quê hương đất nước trong những thập niên đầu của thế kỷ mới! Do đó, chúng ta còn phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu, đầu tư cơ sở vật chất mạnh hơn nữa, để tiếp tục phát huy thành quả cách mạng và lợi thế do thiên nhiên ưu đãi, đồng thời cũng ngăn ngừa được mọi bất trắc đang tiềm ẩn ở vùng này, mà chúng ta đã thấy hoặc chưa thấy hết.

 

NGUYỄN MINH NHỊ – PCT UBND tỉnh An Giang

Nguồn: Hội thảo phát triển kinh tế Vĩnh Tế tại Long Xuyên năm 1999

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *