Những ảnh hưởng về tâm lý trong việc sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân

Tài liệu lưu trữ là di sản của dân tộc, gia đình, dòng tộc và có giá trị, thậm chí giá trị rất cao, nhiều khi trở thành vô giá, nhất là đối với tài liệu quý hiếm. Vì vậy, việc sưu tầm, thu thập và lưu trữ tài liệu quý, hiếm đóng một vai trò quan trọng và cũng rất khó khăn, phức tạp; đặc biệt là trong việc sưu tầm thu thập tài liệu quý hiếm của tư nhân thì ngoài những vấn đề khó khăn, phức tạp trong công tác thu thập tài liệu lưu trữ nói chung, sẽ còn bị tác động, ảnh hưởng bởi những vấn đề về tâm lý sở hữu, giao nộp, bảo quản, khai thác sử dụng tài liệu quý hiếm. Từ những vấn đề đặt ra, bài viết đi vào nghiên cứu làm rõ những ảnh hưởng về tâm lý trong việc sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân.

  1. Một số vấn đề về thu thập, lưu trữ tài liệu quý hiếm
    • Quan điểm về tài liệu quý hiếm

Tài liệu quý, hiếm là hai loại tài liệu khác nhau, bao gồm tài liệu quý và tài liệu hiếm. Tuy nhiên, chúng có mối liên quan chặt chẽ, gắn liền với nhau, vì tài liệu quý thì thường là hiếm, thậm chí rất hiếm và tính chất hiếm của tài liệu lại làm cho nó càng quý và có giá trị hơn cao hơn. Vì vậy, người ta thường đồng nhất thành tài liệu quý hiếm. Hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về các tiêu chí xác định tài liệu quý hiếm, chính những quan điểm khác nhau đó đã ảnh hưởng đến công tác sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm của các cơ quan lưu trữ. Tùy theo lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu, mà ta đưa ra những tiêu chí về tài liệu quý hiếm, như: về thời gian hình thành tài liệu, về nội dung thông tin chứa đựng trong tài liệu, về cách thức hình thành tài liệu,… Có thể kể đến một số quan điểm về tài liệu quý hiếm, như:

  • Quan điểm của các thư viện về tài liệu quý hiếm: Các thư viện thường lấy tiêu chí về thời gian hình thành tài liệu, giá trị thông tin lưu trữ trong tài liệu và cách hình thành tài liệu để xác định tài liệu quý hiếm, như:

– Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã coi vốn tài liệu bao gồm sách báo, tạp chí, bản đồ, từ điển,… đặc biệt có những loại sách được xuất bản từ thế kỷ 16-18 là thuộc tài liệu quý hiếm. Ví dụ như các tài liệu: Dell’historria delta china, xuất bản năm 1586, Dictinarium annamiticum Lusitanum… / Alexandre de Rhodes, xuất bản năm 1651, Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản 1875, Bản đồ xưa Annam đại quốc hoạ đồ,….

– Thư viện Quốc gia Việt Nam phân loại vốn tài liệu quý hiếm như: Sách Hán Nôm, sách báo từ thời Pháp thuộc cho đến năm 1954 (gọi chung là sách báo Đông Dương), các Luận án của các tiến sĩ, phó tiến sĩ người Việt Nam được bảo vệ trong và ngoài nước và người nước ngoài bảo vệ tại Việt Nam là tài liệu quý hiếm.

– Thư viện Viện Sử học Việt Nam cũng coi các tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học về lịch sử được xuất bản từ thời Pháp thuộc đến năm 1954 là những tài liệu quý hiếm,…

– Thư viện Quốc gia nước cộng hòa Kazakhstan giới thiệu một phông lưu trữ sách, tư liệu quý hiếm. Đây là phông lưu trữ lịch sử duy nhất của toàn nước Kazakhstan, hiện đang lưu trữ những thông tin ở dạng viết tay, in ấn; nội dung của chúng là mô tả lịch sử đất nước, con người Kazakhstan. Chúng được thu thập từ khắp nơi trên thế giới. Phông lưu trữ này có chứa hơn 5,5 triệu đơn vị mang tin ở dạng in, trong số đó có tới 25 nghìn các bản viết tay. Ví dụ: Cuốn bách khoa toàn thư của thế kỷ 18, những cuốn sách do các nhà xuất bản nổi tiếng xuất bản như Abaja, Zhambưla, Auzzova, những cảo bản cổ viết tay là những viên ngọc quý giá nhất của phông lưu trữ lịch sử Kazakhstan…

  • Quan điểm của cơ quan, nhà nghiên cứu:

Trong tài liệu Quy định về danh mục nhà nước những tài liệu quý, hiếm thuộc Phông Lưu trữ Liên bang Nga (Cơ quan Lưu trữ Liên bang Nga, 2001) đã đề cập đến khái niệm về tài liệu quý, hiếm: Là những tài liệu có những phẩm chất hay giá trị đặc sắc về tinh thần, thẩm mỹ hoặc về phương pháp tài liệu hóa; đem lại giá trị lịch sử và ý nghĩa văn hóa đặc biệt; là những sản phẩm duy nhất, độc đáo xét về phương diện nội dung và vị trí của chúng trong lịch sử của Nhà nước và xã hội Nga và là những thứ không thể bù đắp và thay thế được trong trường hợp bị tổn thất nếu xét từ góc độ ý nghĩa pháp lý, bút tích và các đặc trưng bên ngoài của chúng.

  • Từ điển thuật ngữ về Công tác thư viện của Nga, xuất bản năm 1986 – Định nghĩa về sách quý hiếm: là cuốn sách được bảo quản hoặc xuất bản với số lượng tương đối nhỏ và giữ được giá trị nghệ thuật, khoa học, thư mục và các giá trị khác. Là một bản của xuất bản phẩm có những dấu hiệu khác thường giúp phân biệt nó với những số bản còn lại của xuất bản phẩm, trang trí đặc biệt bằng tay, có thủ bút của tác giả và đóng bìa cứng đặc biệt.
  • Trong cuốn Từ điển giải nghĩa Thư viện học và Tin học Anh – Việt (ALA) được dịch từ nguyên bản tiếng Anh do nhà xuất bản Galen Press Ltd (Mỹ) phát hành đã định nghĩa về sách hiếm (Race book) như sau: Một quyển sách đượcao ước nhưng khó tìm, ít khi hay đôi khi xuất hiện trên thị trường sách cổ, theo truyền thống được liệt kê vào loại sách hiếm là các loại sách như là các sách in cổ ở thế kỷ thứ 15, các sách xuất bản ở Hoa Kỳ trước năm 1800, các ấn bản đầu tiên của các văn bản hay tác phẩm văn học quan trọng, các loại sách đóng bìa quý, các bản duy nhất, các sách quan trọng đối với các hội đoàn,…
  • Cũng trong cuốn từ điển giải nghĩa Thư viện học và tin học Anh – Việt này đã định nghĩa về sưu tập sách hiếm như sau: Một sưu tập đặc biệt các tài liệu thư viện được tách rời ra khỏi sưu tập tổng quát vì tính hiếm của nó và thông thường vì tính dễ hư hỏng của nó hay vì giá trị hiện kim hay khảo cứu hiển nhiên của nó. Cách định nghĩa này càng ngày càng được các thư viện hay các trạm ký thác khác sử dụng nhiều hơn.

Quan điểm và quy định của các cơ quan lưu trữ Việt Nam về tài liệu quý hiếm: Ở Việt Nam chúng ta chưa có luật riêng về tài liệu quý hiếm. Tuy nhiên, chúng ta có Nghị định số 93/2020/NĐ-CP về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Thư viện, do Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 8 năm 2020.

Theo đó, tại Điều 6 của Nghị định quy định tài liệu quý hiếm phải đáp ứng một trong các tiêu chí, cụ thể:

“- Là bản chính, bản gốc bản thảo viết tay hoặc có bút tích của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử tiêu biểu.

– Là tài liệu được tạo ra trong khoảng thời gian hoặc tại nơi diễn ra các sự kiện là dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam; chứa thông tin về các sự kiện, biến cố và hiện tượng đặc biệt của tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy, có ý nghĩa nền tảng đối với quản lý nhà nước, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, nghiên cứu khoa học, lịch sử, văn học và đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí sau:

+ Được thể hiện trên vật mang tin độc đáo, tiêu biểu của thời kỳ lịch sử;

+ Chỉ có một hoặc lưu giữ được rất ít bản cùng loại mà không thể hoặc rất khó bổ sung, thay thế nếu bị mất hoặc hư hỏng;

+ Độc đáo về ngôn ngữ thể hiện, hình thức trình bày, kỹ thuật chế tác hoặc tiêu biểu đại diện cho khuynh hướng, phong cách, thời đại” (Chính phủ, 2020).

  • Còn theo văn bản hướng dẫn của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước Việt Nam quy định việc lựa chọn và thống kê tài liệu lưu trữ thuộc diện bảo hiểm đã đưa ra tiêu chí về tài liệu quý (còn gọi là tài liệu có giá trị cao): Là những tài liệu chứa thông tin về các sự kiện, biến cố và hiện tượng đặc biệt của tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy, có ý nghĩa nền tảng đối với quản lý nhà nước, kinh tế quốc dân, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, trong quan hệ đối ngoại, nghiên cứu khoa học lịch sử và không thể bổ khuyết được nếu như bị mất hoặc hư hỏng, xét về ý nghĩa pháp lý và bút tích của chúng.
  • Quan điểm và những hiểu biết của người dân về tài liệu quý hiếm: Việc sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân (do tư nhân sở hữu, quản lý) phụ thuộc nhiều vào quan điểm và tâm lý của người dân về tài liệu quý hiếm. Để hiểu rõ những quan điểm của người dân về đề tài tài liệu quý hiếm (TLQH), chúng tôi đã lập phiếu khảo sát người dân, kết quả như sau:

Biểu đồ 1: Quan điểm của người dân về tài liệu quý hiếm

Qua kết quả khảo sát cho thấy, đa phần người dân có quan điểm tài liệu quý hiếm giống như quan điểm của các cơ quan nghiên cứu và lưu trữ, đó là các tài liệu cổ có thời gian hình thành từ lâu, số lượng bản ít, giá trị thông tin cao… Tuy nhiên, có tới 71,20% người được phỏng vấn cho rằng đó là các bí truyền và 33,80% không rõ tiêu chí về tài liệu quý hiếm; điều đó ảnh hưởng đến tâm lý việc giao nộp tài liệu quý hiếm về cơ quan lưu trữ.

  • Tình hình thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân về Lưu trữ Nhà nước

Tài liệu quý hiếm vốn đã hiếm và khó sưu tầm, thu thập; đặc biệt là tài liệu quý hiếm tư nhân; kết quả khảo sát 227 người về sở hữu tài liệu quý hiếm của chúng tôi cho thấy có tới 76,6% người nói chưa từng có, số hiện có chỉ chiếm 0,9% và có tới 18,2% trả lời không biết tài liệu mình có là quý hiếm hay không, như kết quả trên biểu đồ 2 sau:

Biểu đồ 2: Thực trạng cá nhân có tài liệu quý hiếm

Tuy nhiên, do tính chất quý và hiếm của tài liệu, nhiều khi nó trở thành vô giá, nên việc sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân vẫn được các cơ quan lưu trữ Nhà nước quan tâm thực hiện. Thế nhưng, việc thu thập tài liệu quý hiếm trong tư nhân đang chịu ảnh hưởng của nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề cần được giải quyết đó là tâm lý của người dân về giao nộp tài liệu quý hiếm cho cơ quan lưu trữ và tâm lý của người đi sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm.

  1. Những vấn đề tâm lý ảnh hưởng việc thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân

Để nghiên cứu về những vấn đề tâm lý ảnh hưởng đến việc sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân về cơ quan lưu trữ Nhà nước, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát về tâm lý của người dân về sở hữu, giao nộp tài liệu quý hiếm về cơ quan lưu trữ và tâm lý của cán bộ, cơ quan lưu trữ về công tác sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân, kết quả khảo sát cho thấy:

  • Tâm lý của người dân khi sở hữu, giao nộp tài liệu quý hiếm về cơ quan lưu trữ

Thứ nhất, về tâm lý người dân trong việc quản lý, sử dụng tài liệu quý hiếm tư nhân:

Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn người dân có quan điểm nên giao nộp tài liệu quý hiếm về cơ quan lưu trữ (với 48,5% số người phỏng vấn); tuy nhiên còn một số lượng không ít người có quan điểm chỉ cần chia sẻ với mọi người để cùng sử dụng (với 46,3% số người phỏng vấn) và đặc biệt số người có tâm lý cất kỹ còn chiếm tới 33,0% số người trả lời, thể hiện ở biểu đồ 3:

Biểu đồ 3: Tâm lý về quản lý, sử dụng tài liệu quý hiếm tư nhân

Thứ hai, người dân kỳ vọng gì khi giao nộp tài liệu quý hiếm vào cơ quan lưu trữ Nhà nước:

Để phân tích đánh giá về kỳ vọng của người dân khi giao nộp tài liệu quý hiếm vào cơ quan lưu trữ Nhà nước, đề tài đã đưa ra 10 tiêu chí đánh giá (10 biến) theo thang đo Likert cho điểm đánh giá từ 1 đến 5 với các mức ý nghĩa: (1) rất tệ, (2) tệ, (3) chấp nhận được, (4) tốt, (5) rất tốt. Như vậy, điểm tối thiểu đánh giá cho một tiêu chí (mục hỏi) là 1, điểm tối đa là 5, điểm trung bình của mức đánh giá là 2.50; với kết quả khảo sát, phân tích đánh giá cụ thể, như:

  • Chỉ số Cronbach’s Alpha đạt 0.938 là đạt mức rất cao (quy định từ 0.700 đến 1.000); chứng tỏ tập hợp biến này có liên kết tốt để phản ánh về sự kỳ vọng của người dân khi giao nộp tài liệu quý hiếm về cơ quan lưu trữ Nhà nước.

Điểm đánh từng tiêu chí cũng đạt kết quả khá và đồng đều. Tiêu chí được đánh giá cao nhất là: Đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, có điểm trung bình đạt 3.33, còn tiêu chí đánh giá thấp nhất là tạo tâm lý chia sẻ tri thức trong xã hội, cũng đạt điểm trung bình là 3.13. Kết quả thể hiện ở các bảng dưới đây.

Reliability Statistics (Chỉ số liên kết các tiêu chí)

Cronbach’s Alpha N of Items
.938 10

Item Statistics (Điểm trung bình về kỳ vọng từng tiêu chí)

Mean (Trung bình) Std. Deviation (Độ lệch chuẩn) N (Số người trả lời)
Đảm bảo an toàn tài liệu 3.27 .682 227
Đảm bảo khai thác sử dụng tài liệu đúng mục đích 3.23 .595 227
Đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học và nâng cao tri thức 3.25 .729 227
Đáp ứng yêu cầu của người sử dụng 3.14 .721 227
Đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế, xã hội 3.33 .783 227
Giới thiệu cho mọi người biết về sự tồn tại và giá trị tài liệu 3.17 .759 227
Giới thiệu khách quốc tế biết về sự tồn tại và giá trị tài liệu 3.15 .659 227
Tạo tâm lý chia sẻ tri thức trong xã hội 3.13 .739 227
Đảm bảo sự tin tưởng, hài lòng của người giao nộp, tặng tài liệu 3.27 .823 227
Những kỳ vọng khác 3.27 .576 227

Từ kết quả khảo sát cho thấy, người dân kỳ vọng vào việc giao nộp tài liệu quý hiếm vào cơ quan lý trữ là tốt; nhưng vẫn còn những yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến việc giao nộp tài liệu quý hiếm về cơ quan lưu trữ, như: đó là kỷ vật (chiếm 58.3% người trả lời), khi giao nộp như cảm thấy mất mát lớn lao (chiếm 50.3% người trả lời), hay sở hữu chúng là niềm hạnh phúc (chiếm 47.1% người trả lời),…

Biểu đồ 4: Lý do không giao nộp tài liệu quý hiếm của người dân

  • Tâm lý của cán bộ, cơ quan lưu trữ trong việc sưu tầm tài liệu quý hiếm tư nhân

Do sự hiếm hoi của tài liệu quý hiếm tư nhân, cùng với đó là tâm lý của nhiều người chưa muốn giao nộp tài liệu quý hiếm về cơ quan lưu trữ đã ảnh hưởng đến tâm lý của cán bộ và cơ quan lưu trữ nhà nước về việc sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm, coi đó như công việc “mò kim đáy biển”, dẫn đến việc cơ quan lưu trữ Nhà nước, cán bộ được phân công thực hiện sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm chưa thường xuyên tổ chức tuyên truyền, vận động, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân. Trong kết quả khảo sát thì có tới 91.6% số người trả lời là chưa từng có cán bộ lưu trữ đến gặp để sưu tầm tài liệu quý hiếm và chỉ có 8.4% số người trả lời là từng có cán bộ lưu trữ đến gặp sưu tầm tài liệu quý hiếm (biểu đồ 5).

Biểu đồ 5: Tần suất gặp gỡ của cán bộ lưu trữ với người dân trong việc sưu tầm tầm tài liệu quý hiếm

Kết luận

Từ kết quả khảo sát, phân tích dữ liệu về những ảnh hưởng tâm lý đến công tác sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân về cơ quan lưu trữ nhà nước đã nêu, chúng tôi đi đến kết luận, đó là:

Thứ nhất, có sự ảnh hưởng về tâm lý đối với việc giao nộp tài liệu quý hiếm tư nhân về cơ quan lưu trữ, đó tâm lý không muốn rời xa tài liệu quý hiếm mà mình có, vì nhiều lý do mà nghiên cứu đã chỉ ra.

Thứ hai, cơ quan lưu trữ nhà nước và cán bộ được giao nhiệm vụ sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân cũng ngại đi sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân, vì cho rằng đó là công việc “mò kim đáy biển”.

Tuy nhiên, do tầm quan trọng của việc sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân nên chúng ta vẫn cần kiên trì tiến hành công tác sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân về cơ quan lưu trữ nhà nước. Để vượt qua những vướng mắc về vấn đề tâm lý khi sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm, chúng tôi đề xuất một số giải pháp như:

Một là, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân giao nộp tài sản quý hiếm vào các cơ quan lưu trữ Nhà nước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, để nhiều người có thể khai thác phục vụ nghiên cứu khoa học, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, qua đó nâng cao hơn nữa giá trị của tài liệu; đồng thời để bảo quản tài liệu quý hiếm một cách an toàn.

Hai là, cơ quan lưu trữ quốc gia phải có cơ chế rõ ràng, công khai trong việc quản lý, khai thác tài liệu quý hiếm; có chế độ định giá, hỗ trợ một phần kinh phí cho người giao nộp tài liệu quý hiếm.

Bà là, cần tổ chức sưu tầm, thu thập tài liệu quý hiếm tư nhân một cách thường xuyên, liên tục, cho dù kết quả thu thập được không nhiều.

TS Đỗ Thị Nga – TS Đỗ Văn Thắng*

* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. (1996). Từ điển giải nghĩa Th­ư viện học và tin học Anh – Việt. Galen Press Ltd., USA.
  2. Chính phủ. (2020). Nghị định số 93/2020/NĐ-CP về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Thư viện. Hà Nội.
  3. Cơ quan Lưu trữ Liên bang Nga. (2001). Quyết định số 75 ngày 9/10/2001.
  4. Hair J.F., Tatham R.L., Anderson R.E. and Black W. (1998). Multivariate Data Analysis, 5th Edition, New Jersey: Prentice-Hall, Inc.
  5. Kết quả khảo sát và phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu thực hiện năm 2022.
  6. Quốc hội. (2011). Luật Lưu trữ. Hà Nội.
  7. Quốc hội. (2001). Pháp lệnh Th­ư viện. Hà Nội.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *