Sự chỉ đạo của Đảng về Quân sự trong Đông – Xuân 1953-1954 với trận quyết chiến Điện Biên Phủ

Thắng lợi trong Chiến dịch Đông – Xuân 1953-1954 với trận quyết chiến Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã đánh bại kế hoạch Navarre, đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc được giải phóng. Thắng lợi này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó sự chỉ đạo của Đảng về quân sự giữ vai trò quyết định trực tiếp. Bài viết khái quát tình hình chiến sự Đông – Xuân 1953-1954, phân tích sự chỉ đạo của Đảng về quân sự trên các nội dung chính: chọn hướng tiến công đánh vào nơi hiểm và yếu, buộc địch phải phân tán lực lượng; phát động toàn dân đánh giặc, hình thành thế chiến lược chiến tranh nhân dân đánh địch trên các địa bàn chiến lược; tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; chọn địa bàn quyết chiến với phương châm đánh thích hợp để giành thắng lợi quyết định về quân sự.

1. Sơ lược về chiến sự Đông – Xuân 1953-1954
Đến năm 1953 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước sang năm thứ tám, quân và dân ta liên tiếp giành thắng lợi, đánh bại các kế hoạch quân sự của Pháp gồm: kế hoạch D’Argenlieu (8/1945), kế hoạch Leclerc chung toàn cõi Đông Dương và Nam Bộ (8, 9/1945), kế hoạch Revers (7/1949), kế hoạch de Lattre de Tassigny (1951). Chi phí chiến tranh ở Đông Dương ngày một lớn vượt quá khả năng ngân sách của nước Pháp, buộc Pháp phải lệ
thuộc vào Mỹ. Nhưng với bản chất phản động, ngoan cố, giới cầm quyền Pháp tranh thủ thêm sự viện trợ của Mỹ, tìm mọi cách đẩy mạnh chiến tranh ở Đông Dương hòng tìm ra lối thoát “danh dự”. Được sự hậu thuẫn của Mỹ, tháng 5/1953, Chính phủ Pháp cử tướng Henri Navarre Tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Để cứu vãn tình hình, Navarre đề ra kế hoạch quân sự gồm
hai bước, trong vòng 18 tháng hòng xoay chuyển tình thế:

Bước thứ nhất: Thu – Đông 1953 và Xuân 1954, giữ vững thế phòng ngự chiến lược từ 18 độ vĩ tuyến Bắc trở ra, tiến công bình định miền Nam, miền Trung Đông Dương, xóa bỏ vùng tự do Liên khu 5.

Bước thứ hai: Tiến công chiến lược miền Bắc, giành thắng lợi quân sự to lớn, buộc ta phải đàm phán theo những điều kiện có lợi cho Pháp.

Kế hoạch quân sự Navarre là cố gắng cao nhất của Pháp và Mỹ trong chiến tranh Đông Dương với quân số đông nhất, phương tiện chiến tranh nhiều nhất, cùng kế hoạch chủ động tiến công hòng “chuyển bại thành thắng”. Để thực hiện kế hoạch đó, Pháp tăng viện quân viễn chinh, mở rộng khối quân cơ động, ráo riết bắt lính mở rộng ngụy quân, phát triển phỉ ở vùng rừng núi. Bước vào Thu – Đông 1953, Navarre đã tập trung ở Đồng bằng Bắc Bộ một lực lượng cơ động mạnh gồm 44 tiểu đoàn trong tổng số 84 tiểu đoàn quân cơ động của Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương. Mùa Hè và mùa Thu năm 1953, Navarre cho mở hàng chục trận càn quét lớn nhỏ ở Bắc Bộ, Bình – Trị – Thiên và Nam Bộ, đánh phá ác liệt các căn cứ của ta, cho quân nhảy dù tập kích Lạng Sơn (7/1953); rút lực lượng ở Nà Sản về tập trung ở Bắc Bộ (8/1953).

Phát hiện quân chủ lực của ta tiến lên Tây Bắc (15/11/1953) và tiến sang Trung Lào (20/11/1953), Navarre thực hiện cuộc hành binh Hải Ly (Castor) đưa 6 tiểu đoàn đánh chiếm Điện Biên Phủ, vừa để yểm trợ cho Lai Châu, vừa bảo vệ Thượng Lào. Ngày
3/12/1953, Navarre tăng cường thêm 3 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo binh để xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh. Tổng số binh lực của Pháp ở Điện Biên Phủ vào lúc cao nhất là 16.200 người, bố trí trong 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu để hỗ trợ lẫn nhau. Xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh là điểm bổ sung ngoài dự kiến ban đầu của Navarre.

Để xoay chuyển cục diện chiến trường đi đến kết thúc chiến tranh, Bộ Chính trị (BCT) thông qua phương án mở chiến dịch Điện Biên Phủ của Tổng Quân ủy. Trận quyết chiến Điện Biên Phủ kéo dài 56 ngày đêm, diễn ra thành 3 đợt: đợt 1 bắt đầu từ ngày 13/3 đến 17/3; đợt 2 bắt đầu từ ngày 30/3 đến 30/4; đợt 3 bắt đầu từ ngày 1/5 và kết thúc ngày 7/5/1954. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh bại kế hoạch Navarre, kết thúc cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 của quân và dân ta, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở cho đấu tranh ngoại giao thắng lợi ở Giơ-ne-vơ, miền Bắc được giải phóng.

Thắng lợi của tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là trận quyết chiến Điện Biên Phủ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó sự chỉ đạo của Đảng về quân sự giữ vai trò quyết định trực tiếp

2. Một số điểm nổi bật về sự chỉ đạo của Đảng về quân sự trong chiến dịch Đông – Xuân 1953-1954 với trận quyết chiến Điện Biên Phủ
Một là, xác định phương hướng tiến công, đánh vào nơi hiểm và yếu, buộc địch phải phân tán lực lượng, làm đảo lộn thế bố trí phòng ngự của địch trên chiến trường.

Kế hoạch Navarre đầy tham vọng, nhưng chứa đựng mâu thuẫn: nếu tập trung lực lượng lại ứng phó với ta một cách chủ động hơn để thoát thế bị động thì lực lượng chiếm đóng lại bị yếu đi. Lực lượng chiếm đóng bị yếu thì không đạt được mục đích cuối cùng của chiến tranh xâm lược là chiếm giữ đất đai. Đảng đã khoét sâu mâu thuẫn đó bằng cách chọn hướng tiến công đánh vào nơi hiểm và yếu của địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng. Tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn kế hoạch quân sự Đông – Xuân năm 1953-1954 đã quyết định sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tấn công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta. Theo phương hướng
chiến lược đó, BCT nhấn mạnh đến nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là “tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt; chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ
động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng” (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, 2014, tr.168).

Chỗ hiểm, chỗ yếu là nơi binh lực, hỏa lực, bố trí phòng ngự của địch yếu và có nhiều sơ hở; là vùng rừng núi địch không phát huy được sở trường, nhưng lại phù hợp sở trường tác chiến của ta. Thực hiện hướng tiến công theo tinh thần trên, bộ đội chủ lực của ta tiến công lên Tây Bắc và một bộ phận tiến sang Trung Lào (giữa tháng 11/1953), tiến công địch ở Lai Châu (10/12/1953), Trung Lào (hạ tuần tháng 12/1953), Tây Nguyên (26/1/1954) và Thượng Lào (hạ tuần tháng 1/1954). Sự sáng suốt về chỉ đạo của Đảng là chủ động đánh địch, buộc địch phải đánh theo cách đánh của ta. Địch tập trung lực lượng lớn ở đồng bằng để uy hiếp vùng tự do của ta, nhưng ta không để lực lượng lớn ở đồng bằng, không phân tán lực lượng để rơi vào thế bị động bảo vệ vùng tự do, mà tập trung lực lượng đánh vào nơi hiểm và yếu của địch. Việc chọn đúng hướng tiến công này có ý nghĩa to lớn là phá tan được ý đồ của địch là tập trung lực lượng ở đồng bằng, buộc chúng phải phân tán. Từ một điểm tập trung quân ban đầu là Bắc Bộ, trước các đòn tiến công của ta, địch buộc phải phân tán thành các điểm tập trung quân tiếp theo là Điện Biên Phủ, Trung Lào (Xênô), Tây Nguyên (An Khê và Pleiku), Thượng Lào (Luông Phabang và Mường Sài). Khối cơ động “nổi tiếng của Nava ở đồng bằng đã từ 44 tiểu đoàn rút xuống
20 tiểu đoàn. Kế hoạch Nava đã bắt đầu phá sản từ đó” (Võ Nguyên Giáp, 1975, tr.137). Với các đòn tiến công như trên, ta đã tiêu diệt một lực lượng lớn sinh lực địch, giải phóng đất đai, hãm địch, dồn địch vào thế bị động, làm đảo lộn thế bố trí phòng ngự của địch,
trong khi đó vùng tự do của ta không bị uy hiếp, đồng bào ở đó có điều kiện làm ăn và tiếp tế cho tiền tuyến.

Hai là, phát động toàn dân đánh giặc, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân, buộc địch phải đối phó với ta trên các địa bàn chiến lược và hạn chế khả năng tăng cường cho Điện Biên Phủ.

Toàn dân đánh giặc là cơ sở để xây dựng thế chiến lược chiến tranh nhân dân, chủ động đánh địch. Ngay từ buổi đầu của cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân đứng lên chống giặc:

Hỡi đồng bào!.
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy
gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 8, 2000, tr.160).

Lực lượng toàn dân tham gia đánh giặc được Đảng xây dựng thành tổ chức quần chúng chống giặc hoạt động khắp địa bàn trên cả nước và ngay cả trong vùng địch kiểm soát, như: đội công tác, đội binh vận, đội trừ gian, diệt ác, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên
cứu quốc, Đoàn sinh viên Việt Nam, Thanh niên kháng chiến, Thanh niên Công giáo, Thanh niên dân chủ, những thanh niên xung phong tham gia diệt gian, phá tề (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 9, 2001, tr.254). Tổ chức quần chúng hoạt động có hiệu quả thì
phải kết hợp với đấu tranh vũ trang, vì vậy “Trong mỗi cuộc tranh đấu, phải phối hợp công tác chính trị với hành động quân sự một cách chặt chẽ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 9, 2001, tr.477). Khi cuộc kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mỹ bước vào giai đoạn
quyết liệt, thì đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang vùng sau lưng địch càng được đẩy mạnh. Chỉ thị của BCT ra ngày 22/2/1954 đề ra chủ trương “vận động quần chúng đấu tranh chống bắt lính, tham gia ngụy vận, địch vận. Đồng thời ra sức chống lại
chính sách lừa bịp của bọn địch, ngụy (độc lập giả hiệu, đàm phán trò hề, dân chủ hóa quốc gia, cải cách điền địa, v.v.). Đặt biệt về công tác chống bắt lính, cần vận động thành phong trào quần chúng đấu tranh bằng mọi cách, phối hợp hình thức đấu tranh từ thấp đến cao…, nơi nào có đủ điều kiện thì dùng võ trang đấu tranh, tiêu diệt bọn đi càn quét, bắt lính, giải vây, đánh tháo, v.v..” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 15, 2001, tr.33-34). Trong khi lực lượng vũ trang của ta mở các đợt tấn công vào nơi hiểm yếu của địch và nổ súng mở màn trong chiến dịch Điện Biên Phủ, thì ở thành thị “nhiều cuộc
mít tinh biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị của các tầng lớp nhân dân ở các đô thị đòi chồng con, chống bắt lính và đòi hòa bình liên tiếp nổ ra. Chưa bao giờ đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị lại kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng như thời kỳ này” (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, 2014, tr.180).

Phát động toàn dân đánh giặc, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang cho phép ta xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân một cách sáng tạo, đánh địch trên từng chiến trường cũng như trong phạm vi cả nước, tạo nên thế bao vây chia cắt, chủ động trong cách đánh địch. Thế trận chiến tranh nhân dân cho phép ta đánh địch mọi lúc, mọi nơi, mọi địa hình, đánh địch phía trước, đánh địch phía sau, kéo địch ra mà đánh, làm cho địch mất ăn, mất ngủ, luôn trong thế bị động, bất ngờ, không tìm đâu ra một nơi gọi là an toàn, buộc địch phải phân tán trên các địa bàn chiến lược để đối phó với ta và hạn chế tập trung lực lượng vào Điện Biên Phủ.

Ba là, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, từng bước giải phóng đất đai.

Sinh lực chủ yếu của thực dân Pháp gồm lực lượng quân sự, phương tiện chiến tranh, cơ sở hậu cần và chính quyền tay sai phản động. Muốn thắng lợi phải tiêu diệt sinh lực địch, làm cho sinh lực địch bị tổn thất, không có khả năng giữ đất đai, duy trì bộ máy thống trị. Nhận thức rõ tầm quan trọng của tiêu diệt sinh lực địch có ý nghĩa quyết định đến thay đổi cục diện chiến trường để đi đến kết thúc chiến tranh, BCT nhấn mạnh “lúc nào cũng phải nắm thật vững phương châm tiêu diệt sinh lực địch là chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 14, 2001, tr.351); “Công tác trung tâm trước mắt của toàn thể quân và dân ta là tập trung lực lượng đánh thắng địch trong những trận sắp tới, tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn nữa, làm cho kế hoạch Nava của Pháp – Mỹ phải hoàn toàn thất bại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 15, 2001, tr.32). Chủ trương của ta là dùng bộ đội chủ lực tiêu diệt lực lượng cơ động tinh nhuệ và phương tiện chiến tranh của địch ở hướng chính, vì đây là xương sống tạo nên sức mạnh của địch trên chiến trường lúc này. Phối hợp với bộ đội chủ lực là bộ đội địa phương đánh tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch khi chúng đánh vào vùng tự do của ta. Chỉ thị của BCT tháng 11/1953 về tích cực chuẩn bị phá âm mưu địch đánh ra vùng tự do nêu rõ “Để cho chủ lực của ta có thể tập trung ở một hướng địch yếu và sơ hở đặng tiêu diệt địch, bất luận trong khi địch đánh ra một nơi nào hay trong khi ta tấn công địch, các địa phương phải tích cực chuẩn bị về tư tưởng cũng như về tổ chức, lấy lực lượng
địa phương là chính, có kế hoạch đối phó với địch khi địch đến, tiêu diệt hoặc tiêu hao một bộ phận địch, hạn chế những thiệt hại do chúng gây ra nên, phối hợp với chủ lực tiêu diệt địch ở hướng chính. Có như thế ta mới luôn luôn nắm vững chủ động” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, tập 14, 2001, tr.351).

Cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, Đảng ta chỉ đạo dân quân du kích, dân quân tự vệ, lực lượng biệt kích đánh phá cơ sở hậu cần của địch, phá tề, trừ gian, tiêu diệt lực lượng tay sai của địch. Tinh thần này được quán triệt từ Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II tháng 1/1953: “Ở vùng địch tạm chiếm, trong điều kiện không có hại đến cơ sở thì có thể tổ chức những đội biệt kích phá các kho tàng, xe cộ, v.v. của địch, và tiêu diệt cán bộ lợi hại của chúng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 14, 2001, tr.79). Trong Chiến dịch Đông – Xuân 1953-1954, hoạt động của đấu tranh du kích được đẩy mạnh ở mức cao hơn, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị nhằm diệt địch, phân tán, giam hãm, chia cắt, bao vây, tạo điều kiện cho chiến trường chính hoạt động tiêu diệt địch. Thông báo của Ban Bí thư ra ngày 21/10/1953 đưa ra chủ trương đấu tranh du kích ở vùng sau lưng địch là “phải hết sức lợi dụng khi địch sơ hở mà mở rộng chiến tranh du kích, tùy điều kiện thuận lợi tiêu diệt từng vị trí nhỏ và trung bình của địch một cách ăn chắc. Ra sức ngụy vận, kết hợp tác chiến với ngụy vận, làm tan rã một phần tinh thần binh lính ngụy. Những chiến trường xa (Bình – Trị – Thiên, Liên khu 5 và Nam Bộ) thì tùy theo điều kiện và khả năng mà ra sức hoạt động để chia xẻ lực lượng địch, không cho chúng tập trung đánh vùng tự do Liên khu 3 và Liên khu 4” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 14, 2001, tr.338).

Như vậy tiêu diệt sinh lực địch là chủ trương nhất quán của Đảng trong kháng chiến chống Pháp nói chung và chiến dịch ĐôngXuân 1953-1954 nói riêng. Lực lượng nòng cốt để tiêu diệt sinh lực địch là lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương, dân quân du kích). Đảng đã tổ chức ba thứ quân đánh địch trên các địa bàn phù hợp và có sự phối hợp chặt chẽ, nên đạt được hiệu quả cao. Chủ trương trên được thể hiện sinh động trên chiến trường Đông – Xuân 1953-1954. Chiến dịch phản công địch ở Tây Nam Ninh Bình tháng 11/1953 ta tiêu diệt và bắt trên 4.000 tên địch. Chiến dịch Bắc Tây Nguyên ta đã diệt nhiều sinh lực địch giải phóng 14.000 km
2, 20 vạn dân (Xem: Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, 2014, tr.171-387). Ở vùng Nam Bộ “lực lượng vũ trang, kết hợp với phát động quần chúng nổi dậy phá tề, trừ gian đã diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều đoàn xe, tàu chiến của địch, cắt đứt nhiều giao thông. Sân bay Tân Sơn Nhất bị tập kích làm nổ hàng trăm tấn bom, một khách sạn ở Vũng Tàu bị đánh làm thiệt hại nhiều sĩ quan địch. Hơn 1.000 đồn trại, tháp canh địch bị tiêu diệt và bức rút. Hàng ngàn địch bỏ ngũ” (Lê Mậu Hãn (chủ biên), 1997, tr.119). Tiêu diệt nhiều lực lượng địch và phá hủy các phương tiện chiến tranh, cơ sở hậu cần là ta đã khét sâu vào chỗ yếu của quân Pháp vốn phụ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất, ỷ lại vào phương tiện chiến tranh hiện đại, làm cho chúng hoang mang, bạc nhược, mất tinh thần chiến đấu, sức chiến đấu bị giảm sút.

Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta là “hai mặt của một quá trình, có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và không thể tách rời” (Vũ Quang Hiển, 2019, tr.478). Địch bị thiệt hại nặng nề về quân số và phương tiện chiến tranh, mất đất
bị thu hẹp địa bàn chiếm đóng, rơi vào tình thế bị động, suy yếu toàn diện. Theo đó, sinh lực của ta được bồi dưỡng, càng ngày càng mạnh, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong chỉ đạo và tổ chức chiến đấu, tinh thần cán bộ chiến sĩ được nâng cao để đánh địch mở
rộng vùng giải phóng. Vùng giải phóng được mở rộng, có điều kiện tổ chức hậu phương vững chắc, huy động sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến được tốt hơn, vì vậy, ngày 8/2/1954 BCT ra chỉ thị nhấn mạnh “Nơi nào vùng mới giải phóng, thì phải kết hợp giữa tác chiến với củng cố vùng mới giải phóng về mọi mặt như đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng vũ trang, sửa chữa đường sá, phục hồi sản xuất, chăm lo đời sống của nhân dân để giữ vững thắng lợi và giúp cho tiền tuyến liên tục đánh giặc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 15, 2001, tr.15). Thực hiện tốt việc tiêu diệt sinh lực địch và bồi dưỡng lực lượng ta là quá trình thực hiện phương châm càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, đất đai được giải phóng, thế tiến công chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển để đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Bốn là, chọn địa bàn quyết chiến và phương châm đánh thích hợp để giành thắng lợi quyết định về quân sự.

Khi địch tăng cường lực lượng tập trung ở Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, ngày 6/12/1953, BCT thông qua phương án mở chiến dịch Điện Biên Phủ của Tổng Quân ủy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được chỉ định trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy của chiến dịch. BCT đề ra quyết tâm khắc phục mọi khó khăn “ráo riết tập trung lực lượng mới làm kịp, nhưng nếu kiên quyết khắc phục khó khăn, hoàn thành được chiến dịch thì thắng lợi này sẽ là một thắng lợi rất lớn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 14, 2001, tr.594). Như vậy, Đảng đã chuyển hướng tiến công từ chọn nơi địch tương đối yếu và sơ hở mà đánh, sang tiến công ở nơi địch mạnh nhất, chọn Điện Biên Phủ là địa bàn quyết chiến với địch. Việc chọn Điện Biên Phủ là nơi giao chiến với địch đã thể hiện sự linh hoạt của Đảng về chỉ đạo quân sự. Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm rất mạnh của địch, nhưng có nhiều điểm bất lợi cho chúng. Điện Biên Phủ thuộc chiến trường rừng núi, bị cô lập, cách xa căn cứ hậu phương của địch, tất cả mọi việc giao thông tiếp tế đều dựa vào hàng không, hoàn cảnh đó dễ bị rơi vào thế bị động phòng ngự. Trong khi đó thì ta có hậu phương rộng lớn, lực lượng chủ lực là những đơn vị chủ lực tinh nhuệ quen tác chiến, cơ động vùng rừng núi có thể tập trung khắc phục khó khăn, giải quyết những vấn đề chiến thuật cần thiết để nắm quyền chủ động trong tác chiến. Mặt khác, có tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mới phá được tổ chức phòng ngự cao nhất của địch, phá được kế hoạch Navarre, phá được âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của chúng để đi đến kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi cuối cùng.

Hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhưng vấn đề đặt ra là tiêu diệt bằng cách nào, đánh nhanh giải quyết nhanh hay đánh chắc, tiến chắc. Trong thời gian đầu, quân ta bao vây Điện Biên Phủ, quân địch mới nhảy dù xuống, công sự chưa củng cố, lực lượng chưa tăng cường nhiều, vấn đề đánh nhanh, giải quyết nhanh đã được đặt ra. Tập trung binh lực đầy đủ, chia nhiều hướng đánh sâu vào lòng địch, chia cắt tập đoàn cứ điểm ra từng bộ phận, rồi nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch. Tranh thủ thời gian đánh nhanh, thắng nhanh như vậy có nhiều cơ hội rất rõ rệt: quân ta mở cuộc tấn công lớn khi còn đang sung sức, cuộc chiến đấu không kéo dài ít ngại tiêu hao, mệt mỏi; thời gian chiến dịch không dài vấn đề tiếp tế lương thực được đảm bảo.

Xác định đánh Điện Biên Phủ với phương châm đánh chắc, tiến chắc thì mọi công tác chuẩn bị sẽ kéo dài, thời gian chiến dịch phải kéo dài sẽ xuất hiện nhiều khó khăn mới nảy sinh. Khó khănvề cung cấp tiếp tế hậu cần phục vụ chiến đấu; thời tiết chuyển mùa
bộ đội mệt mỏi tiêu hao. Trong khi đó quân địch lại càng củng cố phòng ngự, tăng thêm lực lượng. Vì vậy, lúc đầu ta chọn phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, với “thời gian tác chiến dự kiến ba đêm, hai ngày” (Trần Trọng Trung, 2012, tr.724).

Tuy nhiên, trước tình hình mới – địch tăng cường cho Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn mạnh phòng ngự dã chiến, BCT chỉ thị cho Đảng ủy mặt trận kiểm tra lại tình hình, đảm bảo đánh chắc thắng; mặt khác bộ đội ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm mạnh, nếu muốn giải quyết nhanh thì không thể đảm bảo một cách chắc chắn là thắng lợi. Vì vậy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển theo phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và BCT phê chuẩn.

Phương châm đánh chắc, tiến chắc được giữ vững trong suốt quá trình của chiến dịch. Ngày 19/4/1954, BCT ra Nghị quyết quán triệt “ra sức khắc phục tư tưởng hữu khuynh, củng cố và đề cao quyết tâm, đề cao trách nhiệm trước nhân dân, quân đội và Đảng… tiếp tục thấu triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc, đồng thời tích cực tranh thủ thời gian, triệt để chấp hành mệnh lệnh, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ, giành thắng lợi cho chiến dịch này” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 15, 2001, tr.88). Phương châm đánh chắc, tiến chắc là phù hợp với trình độ tác chiến của bội đội ta lúc đó, nó giúp bội đội ta vừa chiến đấu, vừa học tập kinh nghiệm, từng bước hình thành và phát triển hệ thống trận địa bao vây, chia cắt và tiến công địch, tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực đánh từng trận công kiên tiêu diệt từng cụm cứ điểm, không chế, tiến tới cắt đứt sân bay, hạn chế và triệt đường tiếp tế, tăng viện của địch, tạo thế và lực để tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

3. Thay cho lời kết
Hiện nay, tình hình quốc tế đang diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra
căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không. Trong bối cảnh mới, những quan điểm chỉ đạo về quân sự trong Chiến dịch Đông – Xuân 1953-1954, nhất là quan điểm phát động toàn dân
đánh giặc, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vẫn còn nguyên giá trị để vận dụng và phát triển lên tầm cao mới. Để huy động được sức mạnh toàn dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phải giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng về quân sự, quốc phòng; phát huy vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân với phương châm dựa vào dân, “dân là gốc”; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Kiên quyết, kiên trì, tận dụng mọi thời cơ, lợi thế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đồng thời tăng cường đầu tư xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

PGS.TS Ngô Văn Hà

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Kỷ yếu Hội thảo Nam Bộ từ Điện Biên Phủ đến Hiệp định Giơ-ne-vơ 70 năm nhìn lại (1954-2024)


Tài liệu tham khảo
Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị. (2014). Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Thắng lợi và bài học. Hà Nội: Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000).
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8. Hà Nội: Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000).
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 9. Hà Nội: Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001).
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14. Hà Nội: Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001).
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15. Hà Nội: Chính trị quốc gia.
Võ Nguyên Giáp. (1975).
Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước. Hà Nội: Quân đội nhân dân.
Lê Mậu Hãn. (chủ biên). (1997).
Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III. Hà Nội: Giáo dục.
Vũ Quang Hiển. (2019).
Đường lối quân sự của Đảng, lịch sử hình thành, phát triển và nội dung cơ bản. Hà Nội: Chính trị quốc gia Sự thật.
Trần Trọng Trung. (2012).
Võ Nguyên Giáp – Danh tướng thời đại Hồ Chí Minh. Hà Nội: Chính trị quốc gia

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *