Sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ quý hiếm là nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước và nhân dân

Việc sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm đã được nêu ra trong Luật Lưu trữ năm 2011 và Quyết định số 644/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nội dung Đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của Việt Nam và về Việt Nam”. Chúng ta đã triển khai thực hiện và đạt thành quả bước đầu. Công việc này là nhiệm vụ của Nhà nước, các cơ quan chức năng và của toàn dân, cần phải tiếp tục nhanh, đồng loạt, quyết liệt, hiệu quả trong thời gian tới. Bài viết tập trung phân tích công tác sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm.

  1. Tài liệu lưu trữ quý hiếm

1.1. Tài liệu: Tại khoản 2 và 3 Điều 2 Luật Lưu trữ 2011 đã ghi: Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tài liệu bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác.

1.2. Tài liệu lưu trữ: là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ. Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp (Quốc hội, 2011).

1.3. Tài liệu lưu trữ quý hiếm

Theo Luật Lưu trữ: Điều 26 Luật Lưu trữ 2011 Quản lý tài liệu lưu trữ quý hiếm đã ghi:

1. Tài liệu lưu trữ quý, hiếm là tài liệu thuộc diện lưu trữ vĩnh viễn và có một trong các đặc điểm sau đây:

a) Có giá trị đặc biệt về tư tưởng, chính trị, kinh tế – xã hội, khoa học, lịch sử và có tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia, xã hội;

b) Được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt về thời gian, không gian, địa điểm, tác giả;

c) Được thể hiện trên vật mang tin độc đáo, tiêu biểu của thời kỳ lịch sử.

2. Tài liệu lưu trữ quý, hiếm không phân biệt hình thức sở hữu được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lưu trữ ở trung ương và cấp tỉnh, được lựa chọn để đăng ký vào chương trình, danh hiệu của khu vực và thế giới.

3. Tài liệu lưu trữ quý, hiếm phải được kiểm kê, bảo quản, lập bản sao bảo hiểm và sử dụng theo chế độ đặc biệt (Quốc hội, 2011).

Theo Từ điển Lưu trữ Việt Nam: Tài liệu đặc biệt quý hiếm là:

Tài liệu lưu trữ chứa đựng thông tin có thể có giá trị lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa…và không thể tìm thấy ở bất cứ loại tài liệu nào khác hoặc những tài liệu còn giữ lại được quá ít của các thế kỷ trước đây (Cục Lưu trữ Nhà nước, 1992).

Theo PGS.TS Dương Văn Khảm: Tài liệu lưu trữ đặc biệt quý hiếm là:

Tài liệu lưu trữ đặc biệt quý, hiếm là tài liệu có giá trị cao và tài liệu hiện còn rất ít (Dương Văn Khảm, 2011).

Theo Ngành Thư viện học:

Có thể hiểu khái quát Tài liệu quý hiếm là tài liệu có giá trị đặc sắc về các vấn đề lịch sử, văn hóa xã hội, khoa học, nội dung thông tin bao quát được các sự kiện, biến cố và hiện tượng đặc biệt quan trọng trong cuộc sống; số lượng bản ít, hình thức đặc biệt và khó bổ khuyết nếu như bị mất hoặc hư hỏng, xét về ý nghĩa pháp lý và bút tích của tài liệu.

Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã coi vốn tài liệu bao gồm sách báo, tạp chí, bản đồ, từ điển… đặc biệt có những loại sách được xuất bản từ thế kỷ 16-18… là những tài liệu quý hiếm như:

Dell’historria delta china, xuất bản năm 1586

Dictinarium annamiticum Lusitanum… / Alexandre de Rhodes, xuất bản năm 1651

Có các sách chuyên khảo: Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản 1875

Bản đồ xưa: Annam đại quốc hoạ đồ; Villages delta Cochinchinois…

Tài liệu về Đông Dương: Souvenir d’Annam, xuất bản 1890; Un a de séjour en Cochinchine, xuất bản 1887… (Trần Phương Lan, 2008).

1.4. Các tiêu chí đánh giá tài liệu lưu trữ thuộc loại quý hiếm

1.4.1. Tiêu chí về nội dung

a) Phản ánh sự kiện lịch sử của dân tộc;

b) Phản ánh những bước phát triển về tư tưởng, chính trị, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật và thể thao;

c) Phản ánh lịch sử bộ máy nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử;

d) Phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử;

đ) Phản ánh thân thế và sự nghiệp của các nhân vật lịch sử tiêu biểu.

1.4.2. Tiêu chí về hình thức tài liệu

a) Độc đáo về vật mang tin (lá, gỗ, vải, da, giấy gió…);

b) Độc đáo về ngôn ngữ thể hiện, hình thức trình bày, kỹ thuật chế tác (hình vẽ, hoa văn, ký hiệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh…);

c) là bản chính, bản gốc bản thảo viết tay hoặc có bút tích của các cá nhân tiêu biểu.

1.4.3. Tiêu chí về thời gian, địa điểm

a) Tài liệu được hình thành sớm trong lịch sử Việt Nam;

b) Tài liệu được tạo ra trong khoảng thời gian hoặc tại nơi diễn ra các sự kiện quan trọng, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

1.4.4. Tiêu chí về nguồn tài liệu

– Cá nhân, gia đình, dòng họ:

a) Nhà hoạt động chính trị, hoạt động chính trị – xã hội tiêu biểu, có nhiều cống hiến cho đất nước;

b) Cá nhân đoạt giải thưởng cấp nhà nước và quốc tế;

c) Anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân;

d) Nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, cá nhân nổi tiếng hoạt động trong các lĩnh vực sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, hội họa, âm nhạc, lịch sử, văn học, nghệ thuật…

đ) Gia đình, dòng họ có nhiều dấu ấn trong lịch sử.

e) Cá nhân, gia đình, dòng họ lưu giữ được tài liệu có giá trị.

– Tổ chức trong và ngoài nước:

a) Bảo tàng, thư viện, lưu trữ, phòng truyền thống, nhà văn hóa…

b) Cơ sở thờ tự (đình, chùa, đền…).

c) Tổ chức kinh tế phi nhà nước.

(Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, 2011)

  1. Sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm tại các Trung tâm lưu trữ Quốc gia

Hiện tại, Việt Nam có các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia như sau: 1) Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 (TTLTQG); 2) TTLTQG 2; 3) TTLTQG 3, 4) TTLTQG 4; 5) Trung tâm Khoa học Kỹ thuật Văn thư Lưu trữ; 6) TTLTQG tài liệu Điện tử; 7) Trung tâm Bảo hiểm Tài liệu Lưu trữ Quốc gia (Bộ Nội vụ, 2019).

Thời kỳ phong kiến Việt Nam cho đến triều Nguyễn (1802 -1945), khi sưu tầm tài liệu lưu trữ quý hiếm nhất thiết phải nghiên cứu và nắm vững nguồn tài liệu với những tên gọi đã hình thành trong lịch sử, gồm có những tên gọi như sau:

Văn bản luật (13)

Vào năm Hồng Đức thứ 13 (1483), vua Lê Thánh Tông chính thức ban hành Quốc triều hình luật (còn được gọi là Luật Hồng Đức). Đây là bộ luật thời kỳ phong kiến được giới nghiên cứu sử học, luật học Việt Nam học đánh giá cao. Ngoài ra, dưới triều Gia Long, có Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long) được ban hành năm 1815. Bộ luật này gồm 398 điều, chia thành 22 quyển. Cho đến nay, chỉ còn bảo tồn được 2 bộ là Quốc triều hình luậtHoàng Việt luật lệ.

Triều đại phong kiến có các loại văn bản là tài liệu lưu trữ quý hiếm như: chiếu, chiếu chỉ, chỉ, chỉ dụ, dụ, sớ, tấu, sắc, sắc phong, lệnh chỉ, công đồng, kê, thân, khải, trác, tư trình.

Một số văn bản tiêu biểu có thể kể đến như sau:

Chiếu: Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009, đến năm 1010, Ông đã ban Thiên Đô Chiếu (Chiếu dời đô), dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Đại La, đổi tên thành Thăng Long.

 Lệ: Lê Thánh Tông ban hành lệ về bản tâu, bản đề, lệ về làm hộ tịch; triều Nguyễn ban hành lệ cấm vận tải thuốc súng, lệ về tô thuế, lệ cấm mê tín dị đoan, lệ về tâu trình chương sớ.

Lệnh: Lệnh về tìm kiếm di cảo của cố Hàn lâm thừa chỉ học sĩ Nguyễn Trãi của vua Lê Thánh Tông ban hành tháng 3 năm Đinh Hợi (1467); Lệnh cấm kết hôn với người nước ngoài ban hành dưới triều Nguyễn,…

Sắc: Sắc là văn bản do vua ban hành nhằm ba mục đích khác nhau như: ra lệnh, quyết định, phong thần (thần sắc,sắc phong)

 Dụ: Dụ (còn gọi là Thánh dụ, chỉ dụ, hoặc thượng dụ) là hình thức văn bản do vua ban hành dùng để khuyên bảo, răn dạy thần dân. Ví dụ, Dụ của vua Thiệu Trị ban hành năm 1843 về thể lệ giao nhận văn bản, giấy tờ của các nha môn ở trung ương.

 Cáo: “Bình Ngô đại cáo” là một bài cáo do Nguyễn Trãi viết để vua Lê Thái Tổ công bố cho dân chúng cả nước biết sự nghiệp bình Ngô phục quốc đã thắng lợi hoàn toàn, đất nước được độc lập, hòa bình và bước vào thời kỳ phục hưng.

Sách: Sách của vua viết trên lá vàng gọi là kim sách (sách vàng), viết trên lá bạc gọi là ngân sách (sách bạc). Theo Paul Boudet (giám đốc nha Lưu trữ và thư viện Đông Dương) thì Kho lưu trữ Hoàng triều Huế vào những năm 1940 còn bảo quản 26 kim sách liên quan đến việc lên ngôi của vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định; có loại liên quan đến các hoàng hậu, thái tử. Đặc biệt trong đó có ba kim sách của vua Minh Mạng quy định thứ tự các nhánh trong hoàng tộc và phép đặt tên con cháu của mình.

 Hịch: Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo vương viết trước cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai. Quang Trung chống giặc Thanh cuối thế kỷ XVIII; hoặc bài Hịch nổi tiếng của vua Quang Trung trong chiếu xuất quân đánh đuổi 29 vạn quân Thanh mùa Xuân năm 1789: “Đánh cho để dài tóc! Đánh cho để đen răng! Đánh cho nó chích luân bất phản! Đánh cho nó phiên giáp bất hoàn! Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ!”.

 Biểu: Biểu được các vua triều Nguyễn dùng để dâng lên chúc thọ Hoàng thái hậu vào dịp tết Nguyên đán, tết Đoan dương hoặc tiết khánh thọ (sinh nhật) Hoàng thái hậu.

 Sớ, tấu: Chu Văn An, một nho sĩ nổi tiếng đương thời đã viết bản thất trảm sớ nổi tiếng dâng lên vua đề nghị chém 7 tên gian thần.

 Điều trần: Nguyễn Trường Tộ liên tực gửi đến vua Tự Đức và triều đình Huế rất nhiều bản điều trần. Riêng Trương Bá Cần đã tập hợp 58 bản và công bố trong tập Nguyễn Trường Tộ – con người và di cảo.

 Đề: là văn bản dùng để phản ánh tình hình thực hiện các mệnh lệnh, sắc chỉ của nhà vua. Đến Triều Nguyễn thì thất không dùng nữa.

Khải: Khải có chức năng như tấu, nhưng tấu đối tượng nhận tấu là vua.

 Giấy thông hành: là loại giấy chứng nhận cho binh lính, quan lại hay dân thường làm bằng chứng khi đi lại, xuất trình cho nhà chức trách.

Các loại công văn đi lại (trao đổi): loại văn bản này dùng để phản ảnh tình hình, trao đổi công việc, có các loại như: tư di, giáo thị, tư, thông tư, tư trình, trát, trình, truyền thị, bẩm.

Các văn bản của Hội đồng đình thần: Văn bản do Công đồng ban hành gồm có các tên gọi như: Công đồng truyền (truyền đạt các mệnh lệnh hành chính); Công đồng sai (sai phái cấp dưới thực hiện nhiệm vụ); Công đồng khiển (văn bản khiển trách cấp dưới khi không hoàn thành nhiệm vụ hoặc phạm khuyết điểm); Công đồng phó (chứng nhận chức vụ hoặc nhiệm vụ); Công đồng di (truyền đạt và thông báo tin tức).

Phiếu nghĩ: Phiếu nghĩ là văn bản ghi ý kiến của các Bộ hữu quan hoặc Nội các về cách giải quyết sự việc nêu trong tấu, sớ để vua tham khảo khi phê duyệt.

 Các loại sổ sách hành chính: Các loại sổ sách hành chính trong thời kỳ phong kiến gồm sổ hộ tịch (hộ khẩu), sổ duyệt tuyển, sổ ngạch, địa bạ, điền bạ, sổ lý lịch quan chức, sổ thuế, sổ khai tiêu, sổ ngọc điệp, ngọc phả, gia phả.

Điền bạ là sổ tính thuế, mỗi năm làm một lần.

Những tài liệu quý hiếm còn lưu giữ đến ngày nay như:

1) Bằng của Bộ Lại cấp cho Phạm Nam ngày 21/11 năm Hồng Đức thứ 19 (1488), tức cách nay 534 năm; đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1, sưu tập tài liệu Hán Nôm, Hồ sơ 117.45. Chúng ta hy vọng và mong rằng sẽ sưu tầm nhiều tài liệu qúy hiếm có niên đại cổ, xa xưa hơn nữa ở trong và ngoài nước.

2) Sổ đăng ký tàu Amiral Latouche Tréville, rời bến Sài Gòn ngày 5/6/1911, có anh Ba (Nguyễn Tất Thành) làm phụ bếp. Hồ sơ lưu trữ tại Phông Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2, ký hiệu hồ sơ số IA.5/6.

3) Tài liệu lưu trữ về con tàu Amiral Latouche Treéville, nơi Nguyễn Tất Thành (Văn Ba) làm phụ bếp.

4) Sổ phát lương cho công nhân trên tàu có tên Văn Ba 45 Fr, do đồng chí Hồng Hà, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khi tham gia Hội nghị Paris (1968-1973) tìm được tại kho lưu trữ cảng Dankerque năm 1973.

5) “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu, “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên còn lưu trong Mộc bản Triều Nguyễn.

6) Địa bạ còn lại 10.044 quyển từ Huế chuyển về Lâm Đồng; về TTLTQG 2, hiện đang bảo quản tại TTLTQG 1. Địa bạ là sổ ghi chép thống kê tình hình ruộng đất của các làng xã về diện tích, là sổ mô tả và ghi nhận quyền sở hữu từng mảnh ruộng đất, làm một lần khi đo đạc. Nhà nghiên cứu, nhà sử học Nguyễn Đình Đầu đã nghiên cứu và công bố Địa bạ Nam Kỳ lục tỉnh, Địa bạ Bình Định, Thừa Thiên Huế. Địa bạ các tỉnh miền Bắc do GS Phan Huy Lê và đồng nghiệp nghiên cứu biên soạn.

7) Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945, tài liệu quan trọng này không còn lưu được bản chính, bản gốc nên chưa được công nhận là bảo vật quốc gia.

8) Thông đạt 1C/VP ngày 3/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh gửi cho các ông Bộ trưởng đôn đốc, nhắc nhở về công tác lưu trữ, không còn bản chính, bản gốc, chỉ còn bản sao của Bộ Tài chính.

9) Châu bản (mperial document): là văn thư lưu trữ của triều Nguyễn.

Các văn bản đã được vua “ngự lãm” (vua đọc) và có bút tích của vua được gọi là châu bản. Châu bản là những văn bản của vương triều đã được nhà vua “ngự lãm”, “ngự phê” và thường mang dấu ấn “ngự phê” bằng mực màu son đỏ. “Ngự phê” có mấy loại sau: + Châu phê: có nghĩa là được nhà vua phê duyệt. Vua cho ý kiến có thể bằng một đoạn, một câu hay có thể bằng một mệnh đề, một vài chữ vắn tắt như “Trí đạo liễu” (đã biết, cho), “Hảo” (được), “Y tấu” (chuẩn y theo lời tấu), “Y nghị” (chuẩn y theo lời đề nghị ),+ Châu điểm: là một chấm son được nhà vua điểm lên đầu chữ “tấu” chứng tỏ nhà vua đã xem hoặc đã chấp thuận mà không cần phải cho thêm ý kiến cụ thể.+ Châu khuyên: là vòng son đỏ nhà vua khuyên lên một tên người hoặc một điều khoản, một sự việc đã được nhà vua lựa chọn.+ Châu mạt hay Châu cải: biểu thị sự phủ nhận hoặc không đồng ý của nhà vua bằng cách quẹt một nét son trên tên người hay câu văn đó, hoặc cả văn bản.

UNESCO công nhận Châu bản là Di sản tư liệu Châu Á- Thái Bình Dương năm 2014; Di sản Thế giới năm 2017. Trong Châu bản có nhiều văn bản là tài liệu lưu trữ quý hiếm. Châu bản, xuất phát từ cố đô Huế, chuyển về TTLTQG 2, nay đang bảo quản tại TTLTQG 1, Hà Nội. Số Châu bản bị thất lạc khoảng ½, cần tiếp tục sưu tầm Châu bản trong và ngoài nước.

10) Mộc bản triều Nguyễn: Mộc bản (Woodblock documents ) triều Nguyễn gồm 34.618 tấm, là những văn bản chữ HánNôm được khắc ngược trên gỗ để in ra các sách tại Việt Nam vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đó là những bản khắc lưu truyền công danh, sự nghiệp của các bậc vua chúa, các sự kiện lịch sử, các biến cố thời cuộc, các cuộc tiểu trừ giặc dã.

Gỗ dùng làm ván khắc tài liệu mộc bản triều Nguyễn là gỗ thị, gỗ cây nha đồng.

Mộc bản Triều Nguyễn được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu Thế giới năm 2009, là di sản được công nhận đầu tiên trong các Di sản tư liệu Thế giới của Việt Nam. Mộc bản có nhiều văn bản là tài liệu lưu trữ quý hiếm. Mộc bản đang được bảo quản tại TTLTQG 4, Lâm Đồng. Bộ “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu đã không còn nữa, nhưng chúng ta có thể tìm thấy nó qua những đoạn trích dẫn trong Mộc bản sách “Đại Việt sử ký toàn thư” hiện đang được lưu giữ và bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV. Số Mộc bản thất thoát độ khoảng 1/3, cần tiếp tục sưu tầm Mộc bản trong và ngoài nước.

  1. Sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm tại các Trung tâm lưu trữ lịch sử địa phương (TTLTLSĐP)

Hiện chỉ có 05 trên 65 Chi cục Văn thư Lưu trữ có thông tin về sưu tầm tài liệu quý hiếm.

3.1. Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm – Chi cục Văn thư Hà Nội

Lễ công bố và trao quyết định công nhận các đạo sắc phong là tài liệu lưu trữ quý, hiếm đợt 4 năm 2020 tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (26/02/2020).

Tại Hội nghị đã công bố và trao 243 đạo sắc phong tại 25 cơ sở thờ tự thuộc 10 xã: Hữu Bằng, Phùng Xá, Bình Phú, Phú Kim, Hương Ngải, Dị Nậu, Đại Đồng, Cần Kiệm, Kim Quan, Đồng Trúc của huyện Thạch Thất đủ điều kiện, tiêu chuẩn là tài liệu lưu trữ quý, hiếm.

Thực hiện Kế hoạch 107/KH-UBND của UBND thành phố Hà Nội về việc sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm trên địa bàn thành phố Hà Nội đoạn 2014-2020, Quyết định công nhận đạo sắc phong là tài liệu lưu trữ quý, hiếm trên địa bàn thành phố Hà Nội (đợt 4).

Ngày 10 tháng 3 năm 2020, Sở Nội vụ, Chi cục Văn thư – Lưu trữ Hà Nội phối hợp với UBND huyện Thạch Thất tổ chức Hội nghị công bố và trao quyết định công nhận tài liệu lưu trữ quý, hiếm tại UBND huyện Thạch Thất (Chi cục Văn thư – Lưu trữ Thành phố Hà Nội, 2022).

3.2. Tài liệu quý hiếm – Trung tâm Lưu trữ Lịch sử tỉnh Quảng Trị

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị (1972 – 2022) và các ngày lễ lớn của tỉnh trong năm 2022, UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Bộ Nội vụ đã tổ chức Triển lãm “Quảng Trị – Dấu ấn lịch sử qua tài liệu lưu trữ”.

Cụ thể, triển lãm được tổ chức từ ngày 28 tháng 4 năm 2022 đến ngày 02 tháng 5 năm 2022 tại Trung tâm Văn hóa và Điện ảnh tỉnh Quảng Trị. Triển lãm trưng bày 260 tài liệu lưu trữ quý, hiếm, gồm Châu bản, Mộc bản Triều Nguyễn – trong khối di sản Tư tiệu thế giới; tài liệu hành chính, bản đồ, họa đồ, hình ảnh thuộc Phông Lưu trữ Nhà nước Việt Nam và các hình ảnh, tư liệu quan trọng do các cơ quan, ban ngành của tỉnh Quảng Trị sưu tầm, bảo quản được lựa chọn đưa ra trưng bày. Đây là tài liệu vô cùng ý nghĩa thể hiện vùng đất Quảng Trị với những lần thay đổi tên gọi, địa giới hành chính; lịch sử đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất cũng như quá trình xây dựng, phát triển của tỉnh Quảng Trị[1].

Bố cục triển lãm chia thành 3 phần chính: Phần 1: Những dấu mốc lịch sử về địa giới hành chính của tỉnh Quảng Trị qua các thời kỳ. Phần 2: Quảng Trị – Những dấu mốc lịch sử trong kháng chiến bảo vệ Tổ quốc. Phần 3: Quảng Trị – Xây dựng và phát triển (Từ khi giải phóng đến nay) (Trung tâm Lưu trữ Lịch sử tỉnh Quảng Trị, 2022).

3.3. Sưu tầm, thu thập tài liệu lưu trữ quý, hiếm; tài liệu lịch sử của tỉnh Bình Phước năm 2020

Tiếp tục thực hiện Kế hoạch số 76/KH-UBND ngày 7 tháng 4 năm 2015 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch sưu tầm, thu thập tài liệu lưu trữ quý, hiếm; tài liệu lịch sử trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Để thực hiện tốt chức năng quản lý, lưu trữ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ lịch sử của tỉnh, ngày 04 tháng 5 năm 2020, Sở Nội vụ đã ban hành Kế hoạch số 640/KH-SNV về kế hoạch sưu tầm, thu thập tài liệu lưu trữ lịch sử quý hiếm năm 2020 với một số nội dung cụ thể như sau:

– Tài liệu liên quan đến bộ sắc phong Đình thần Tân Khai – huyện Hớn Quản (theo Tờ trình số 20/TTr-UBND ngày 18 tháng 3 năm 2020 của UBND thị trấn Tân Khai về Đề nghị hỗ trợ giúp khôi phục lại sắc phong cho Đình thần Tân Khai thuộc địa bàn thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước). Nội dung này liên hệ với Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Lâm Đồng) và Lưu trữ Lịch sử Huế.

– Tài liệu liên quan đến các chiến dịch từ 1954-1975 diễn ra trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

Thời gian dự kiến: sưu tầm tài liệu quý hiến các cơ quan: 1) TTLTQG 2 Thành phố Hồ Chí Minh; 2) Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh; Lưu trữ Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh; 3) Lưu trữ Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế; 4) TTLTQG 4, tỉnh Lâm Đồng (Quỳnh Nga, 2020).

3.4. Công tác sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý, hiếm tại tỉnh Bình Định

Để sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm trong và ngoài tỉnh, bổ sung vào phông lưu trữ tỉnh Bình Định, UBND tỉnh Bình Định đã ban hành Công văn số 1299/UBND-LT ngày 02 tháng 5 năm 2008 và Công văn số 1273/UBND-NC ngày 04 tháng 5 năm 2011.

Tài liệu bản gốc là các sắc phong, sắc phong Thần, gia phả, văn bản đất đai, hồ sơ lý lịch, các di tích của các danh nhân lịch sử như: Võ Xán, Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân, Mai Xuân Thưởng; các tháp Chăm, tài liệu địa chí. Một số tài liệu quý, hiếm được sao, chụp trực tiếp từ văn bản gốc lưu tại Bảo tàng Quang Trung và các dòng họ có niên đại từ đời Cảnh Hưng, Cảnh Thịnh, đời Lê, thời Tây Sơn và các triều đại nhà Nguyễn, nhiều văn bản khế ước mua, bán đất đai có niên đại từ đời Lê, Tây Sơn; nhiều văn bản sắc chỉ phong chức, tước cho quan lại triều Nguyễn,…

Gia phả họ Hồ; gia phả họ Đào (từ đời thứ I đến đời thứ 13) tại Gò Bồi, huyện Tuy Phước; gia phả họ Bùi tộc (từ đời thứ I đến đời thứ 13, Phổ lục Quách Trọng Đường (1695-2000); Kỷ yếu Tịnh Nương Đường (1695-2000); Đào Tấn mộng mai ngâm thảo (bằng chữ Hán Nôm); gia phả nguồn gốc dòng họ Đinh hay truyện Hồi ký về ông Đinh Chảng ở huyện An Nhơn; gia phả dòng họ Nguyễn (chữ Hán – Nôm) Phương Danh và Cẩm Văn – Nhơn Hưng – An Nhơn); gia phả dòng họ Trịnh (Trịnh Hữu Huệ 1842-1891); gia phả Lê tộc – Luật Chánh – Phước Hiệp; tài liệu chữ Hán – Nôm về nhận phẩm Bá hộ của dòng họ Trịnh (Trịnh Hữu Huệ 1842-1891); tộc phả họ Châu; gia phả Vũ Đình Huấn,…

Bình Định cũng là nơi xuất phát phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII với tên tuổi của người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung – Nguyễn Huệ; là quê hương của các danh nhân như: Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng, Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ, Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan (Minh Lý, 2012).

3.5. Sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm tại Thừa Thiên Huế

Ngày 04 tháng 11 năm 2019, Sở Nội vụ ban hành Công văn số 1447/SNV-VTLT về việc đề nghị góp ý Đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của tỉnh Thừa Thiên Huế và về tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2020-2025”;

– Quyết định số 1026/QĐ-UBND ngày 13 tháng 5 năm 2017 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch khảo sát tài liệu lưu trữ quý, hiếm của tỉnh Thừa Thiên Huế và về tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2017.

– Quyết định số 841/QĐ-UBND ngày 19 tháng 4 năm 2018 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Danh mục tài liệu quý, hiếm của tỉnh Thừa Thiên Huế và về tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2018.

– Thông tư liên tịch số 129/TTLT-BTC-BNV ngày 05 tháng 9 năm 2014 của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ quy định việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện Đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của Việt Nam và về Việt Nam” (Ngọc Giang, 2019).

4. Đề xuất sưu tầm, bảo vệ, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm

  1. Quyết định số 644/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nội dung Đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của Việt Nam và về Việt Nam” thời gian từ 2012 đến 2020; Thông tư liên tịch số 129/TTLT-BTC-BNV ngày 05 tháng 9 năm 2014 của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ quy định việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện Đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của Việt Nam và về Việt Nam”. Cần tiến hành trong phạm vi toàn quốc, nghiêm túc tổng kết, rút kinh nghiệm, thấy rõ việc đã và chưa thực hiện tốt, chuẩn bị tích cực, có hiệu quả trong thời gian tiếp theo.
  2. Luật Lưu trữ 2011, tại Điều 26 đã quy định về quản lý tài liệu lưu trữ quý hiếm; hiện nay các cơ quan chức năng đang chuẩn bị ban hành Luật Lưu trữ mới, kính đề nghị trong Luật Lưu trữ mới phải có những điều quy định về cụ thể hơn về sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm.
  3. Đồng thời, Chính phủ phải có nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư kèm theo Luật Lưu trữ mới. Bộ Nội vụ, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước phải có văn bản hướng cụ thể, kịp thời để thực hiện có hiệu quả nội dung này.
  4. Các trung tâm lưu trữ quốc gia và trung tâm lưu trữ lịch sử địa phương phải lập kế hoạch, đề án trước mắt và lâu dài về công tác sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm, từng bước triển khai thực hiện: a) Điều tra, thống kê và lập danh mục tài liệu lưu trữ quý, hiếm ở trong nước và ở nước ngoài; b) Thẩm định danh mục tài liệu lưu trữ quý, hiếm; c) Tổ chức sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm ở trong nước, ở nước ngoài; d) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đi sưu tầm tài liệu lưu trữ quý hiếm; đ) Xử lý, tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ quý, hiếm sau khi sưu tầm.
  5. Tuyên truyền, phát động phong trào sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ quý hiếm từ cán bộ công chức nhà nước cho đến 100 triệu công dân Việt Nam cùng đồng lòng triển khai thực hiện. Tài liệu lưu trữ quý hiếm của Việt Nam hiện còn trong các TTLTQG, TTLT Lịch sử địa phương là quá ít ỏi so với bề dày lịch sử của dân tộc. Nhà nước và nhân dân cần tiếp tục thường xuyên sưu tầm tài liệu lưu trữ quý hiếm trong nước và ngoài nước trong thời gian từ nay trở đi; đặc biệt lưu ý tài liệu trong nhân dân, tài liệu của cá nhân, gia đình, dòng họ, tài liệu của tư nhân.

 

CVCC. TS Phan Đình Nham*

* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Nội vụ. (2019). Quyết định số 476/QĐ-BNV ngày 6 tháng 6 năm 2019 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Hà Nội.
  2. Cục Lưu trữ Nhà nước. (1992). Từ điển lưu trữ Việt Nam, mục 272. Hà Nội.
  3. Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước. (2011). Công văn số 428/VTLTNN-NVĐP ngày 21 tháng 6 năm 2011 v/v khái niệm tài liệu quý, hiếm và đặc biệt quý, hiếm. Hà Nội.
  4. Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước. (2010). Quy chế số 278/QC-VTLTNN ngày 16 tháng 4 năm 2010 của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước về sưu tầm tài liệu lưu trữ. Hà Nội.
  5. Trần Phương Lan. (2008). Bàn về khái niệm tài liệu quý hiếm. Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 13/2008, tr. 26-31
  6. http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2005/10/17550
  7. http://ccvtlt.sonoivu.hanoi.gov.vn › suu-tam-tai-lieu-lu..
  8. http://luutru.quangtri.gov.vn › Suu-tam-tai-lieu-quy-hiem
  9. Quỳnh Nga. (12/5/2020). Sưu tầm, thu thập tài liệu lưu trữ quý, hiếm; tài liệu lịch sử của tỉnh Bình Phước năm 2020. Truy xuất từ https://binhphuoc.gov.vn/vi/snv/van-thu-luu-tru/suu-tam-thu-thap-tai-lieu-luu-tru-quy-hiem-tai-lieu-lich-su-cua-tinh-binh-phuoc-nam-2020-174.html
  10. Minh Lý. (23/11/2012). Công tác sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm trong và ngoài tỉnh, bổ sung vào phông lưu trữ tỉnh Bình Định. Truy xuất từ https://snv.binhdinh.gov.vn/ cong-tac-thanh-tra/cong-tac-suu-tam-tai-lieu-luu-tru-quy-hiem-trong-va-ngoai-tinh-bo-sung-vao-phong-luu-tru-tinh-binh-dinh-63.html
  11. Ngọc Giang. (05/11/2019). Góp ý Đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của tỉnh Thừa Thiên Huế và về tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2020-2025. Truy xuất từ https://snv.thuathienhue.gov.vn/?gd=3&cn=293&tc=12093
  12. Dương Văn Khảm. 2011. Từ điển giải thích nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam, NVB Văn hóa Thông tin, tr.347.
  13. Phan Đinh Nham, Bùi Loan Thùy. (2015). Giáo trình lưu trữ học đại cương. NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.42-53.
  14. Paul Boudet (1942). Lưu trữ các hoàng đế An Nam và lịch sử An Nam. Nhà in Lê Văn Tân, bản dịch từ tiếng Pháp, tư liệu của Cục Lưu trữ Nhà nước.
  15. Quốc hội. (2011). Luật Lưu trữ 2011. Hà Nội.

[1] Ban biên tập Trung tâm LTLS (29/04/2022), Khai mạc triển lãm “Quảng Trị – Dấu ấn lịch sử qua tài liệu lưu trữ”, truy cập tại  https://luutru.quangtri.gov.vn/index.php/vi/news/Tin-tuc-su-kien/Khai-mac-trien-lam-Quang-Tri-Dau-an-lich-su-qua-tai-lieu-luu-tru-205/

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *