Các tác phẩm văn học nghệ thuật, trong đó có thơ ca khi đã có giá trị nghệ thuật cao thì sẽ trở thành tài sản văn hóa của mỗi dân tộc, thậm chí của cả nhân loại. Nguồn tài liệu vô cùng quý giá này, cần được thu thập và đưa vào bảo quản trong các tổ chức lưu trữ theo đúng pháp luật lưu trữ, tạo điều kiện bảo quản lâu bền và phát huy giá trị của tài liệu, phục vụ cho nhu cầu thưởng thức các giá trị văn hóa của đông đảo công chúng. Tuy vậy, việc chuyển nhượng bản quyền bản thảo các bài thơ nổi tiếng đang là vấn đề khá phức tạp hiện nay; số phận của những tác phẩm đó cũng không thật rõ ràng. Vì vậy, cần nhận thức đúng giá trị và đẩy mạnh việc sưu tầm, thu thập của nguồn tài liệu nay với những quy định đầy đủ hơn, chi tiết hơn, thực hiện việc mua bản bản quyền bằng phương thức đấu giá công bằng, công khai.
Trong kho tàng thơ hiện đại Việt Nam có rất nhiều bài thơ nổi tiếng. Tôi đặc biệt yêu thích ba bài thơ ra đời từ ba cuộc chiến chống Pháp (1945-1954), chống Mỹ (1955-1975) và chống xâm lược biên giới (1978-1979) là Màu tím hoa sim của Hữu Loan (1949), Lá diêu bông của Hoàng Cầm (1959) và Ở hai đầu nỗi nhớ của Trần Đình Chính (1984). Số phận của ba bài thơ đó có một số điểm chung là: i) đều là những bài thơ nổi tiếng, được đông đảo bạn đọc đón nhận nồng hậu; ii) được một số nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc, làm cho thơ – ca hòa quyện, chắp cánh để thơ được bay bổng đến … vô cùng và iii) bản quyền văn bản thơ đều được chuyển nhượng từ các tác giả cho một số doanh nghiệp trong những năm gần đây.
Trong bài viết này, tôi chỉ nói về bài Màu tím hoa sim, nhưng không phải là bàn luận văn chương mà chỉ nói vài suy nghĩ dưới góc nhìn nghề nghiệp của một người có ít nhiều quan tâm đến vấn đề chuyển nhượng bản quyền tài liệu quý, hiếm nói chung và tài liệu văn học nghệ thuật có nguồn gốc xuất xứ cá nhân nói riêng.
- Sự ra đời, bản gốc bài thơ
1.1. Sự ra đời
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Văn Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Gia đình nghèo, nhưng Hữu Loan học rất giỏi. Khoảng những năm 1932-1933, Hữu Loan được cha mẹ cho lên thị xã Thanh Hóa học trung học. Do ham mê đọc sách, nên khi lên đó, ông thường đến mượn sách ở hiệu sách Hòa Yên của bà Đái Thị Ngọc Chất, còn gọi là bà Tham Kỳ. Bà là người yêu văn chương, thấy Hữu Loan nhà nghèo mà học giỏi nên rất quý. Do trọng tài, nể phục tư chất thông minh và tính tình lại khảng khái của Hữu Loan nên bà đã mời ông về làm gia sư cho ba người con trai. Đó cũng là cơ duyên để gặp gỡ và tạo nên mối tình giữa Hữu Loan với người vợ trẻ yêu quý của mình.
Khi đến làm gia sư trong nhà bà Tham Kỳ thì Hữu Loan đã 18 tuổi, còn Lê Đỗ Thị Ninh – cô con gái kế tiếp của bà mới vài ba tuổi. Khi Ninh lớn lên đi học thì Hữu Loan trở thành thầy dạy tiếng Pháp tại một trường tư thục ở thị xã Thanh Hóa. Ninh học lên lớp năm thì phải thôi học do Nhật ném bom, nên cùng mẹ về Thị Long (Nông Cống) làm ruộng, nuôi gà, chăn vịt. Quan hệ giữa hai người cũng chỉ tới mức đó, vì khoảng cách tuổi tác giữa hai người đến 16 tuổi là quá lớn và thực lòng ông vẫn coi Ninh như em gái.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hữu Loan tham gia chính quyền và làm ủy viên văn hóa trong Ủy ban hành chính lâm thời, Trưởng ty Thông tin tỉnh Thanh Hóa, rồi sau đó tham gia quân đội. Khoảng năm 1947, ông làm chủ bút báo Chiến sĩ Quân khu IV, dưới quyền có Vũ Cao – tác giả bài thơ Núi Đôi nổi tiếng, Nguyễn Đình Tiên – tác giả cuốn Chân dung người lính và còn là cậu họ của Lê Đỗ Thị Ninh. Một lần trên đường tới Thanh Hóa vào đơn vị, Nguyễn Đình Tiên nói với Hữu Loan: “Hình như chị Kỳ muốn gả nó cho mày”. Hữu Loan gạt đi, vì nghĩ Ninh còn quá trẻ. Nhưng rồi, Nguyễn Đình Tiên đã thuyết phục và kết quả là ngày 6 tháng Hai (âm lịch) năm 1948, đám cưới của họ được tổ chức tại ấp Thị Long. Sau tuần trăng mật, Hữu Loan trở lại đơn vị. Hạnh phúc của họ thật ngắn ngủi, vì gần bốn tháng sau ngày cưới, ngày 29 tháng 5 âm lịch năm 1948, Lê Đỗ Thị Ninh tử nạn do bị lũ cuốn đi khi đang giặt áo bên bờ sông Chuồng.
Năm 1949, khi Hữu Loan đang dự khóa chỉnh huấn ở Nghệ An, trước nỗi đau xót đến tột cùng vì cái chết đột ngột của người vợ trẻ, ông đã viết một mạch trong hai tiếng đồng hồ bài thơ Màu tím hoa sim như để khóc cho người vợ yêu quý và xấu số của mình. Bài thơ đó được ghi nhận là: “ … bài thơ khóc vợ bất hủ làm rung động tâm hồn nhiều thế hệ” (Đỗ Đức Hiểu và cộng sự, 2004, tr.380) hoặc như các tác giả Thọ Bình và Hà Khoa đã viết trên báo Pháp luật Xuân 2005: “Màu tím hoa sim là một trong những bài thơ tình thuộc loại hay nhưng có âm hưởng buồn nhất trong nền thi ca nước nhà… Nó là một phần của cuộc đời Hữu Loan, mà có thể là phần đẹp và buồn nhất, nên cho dù ông viết rất thật, rất mộc mạc nhưng lại có sức lay động tột cùng và sức sống mãnh liệt ngay cả trong những giai đoạn mà tác giả và tác phẩm không được thừa nhận”.
1.2. Vấn đề bản gốc bài thơ
Nhiều năm qua, bài thơ nổi tiếng của Hữu Loan đã được đăng tải nhiều trong các tuyển tập thơ và trên báo chí. Tuy vậy, chỉ riêng các bản in trên các báo Tuổi trẻ, Pháp luật và Người Lao động đều của Thành phố Hồ Chí Minh vào thời điểm cuối năm 2004 đã có những sai biệt đáng tiếc.
Trong các bản in nói trên, bản do Báo Người Lao động đăng từ bản chép tay có chữ ký xác nhận của chính tác giả vào ngày 12/10/2004 kèm theo dấu chứng nhận của Cục Bản quyền tác giả là đáng tin cậy hơn cả. Với tình hình bản thảo bài thơ như hiện nay, theo chúng tôi, có thể coi đây là bản gốc. So sánh giữa bản gốc và các văn bản thơ thường được in lâu nay, có thể tìm ra một số sai biệt sau đây:
| STT | Bản gốc | Các bản in khác |
| 1 | Khi tóc nàng xanh xanh | Khi tóc nàng đang xanh |
| 2 | Nàng không đòi may áo mới | Nàng không đòi may áo cưới |
| 3 | Lấy chồng đời chiến chinh | Lấy chồng thời chiến binh |
| 4 | Nhỡ khi mình không về | Lỡ khi mình không về |
| 5 | Đèn khuya | Một mình đèn khuya |
| 6 | Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị | Ngợ ngàng nhìn ảnh chị |
| 7 | Áo anh nát chỉ dù lâu | Áo anh nát chỉ từ lâu |
- Việc chuyển nhượng bản quyền bài thơ1
Khi đã gần 90 tuổi, nhà thơ Hữu Loan phần vì già bệnh và phần vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã rứt ruột chấp thuận chuyển nhượng bản quyền đứa con tinh thần của mình – bài thơ Màu tím hoa sim, cho Công ty điện tử Việt – Vitek (VTB) với mức giá là 100 triệu đồng. Việc chuyển nhượng đã được ông Lê Văn Chính, Giám đốc Công ty nói rõ khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 09 tháng 12 năm 2004, có thể tóm tắt như sau:
2.1. Về lý do Vitek mua bản quyền bài thơ Màu tím hoa sim: Tôi muốn dùng từ “chuyển nhượng” thay cho từ “mua” bản quyền. Đây là một hình thức thể hiện sự trân trọng của một doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm văn hóa với một tác phẩm nghệ thuật. Dĩ nhiên là việc chuyển nhượng này còn nhằm mục đích kinh doanh, phát triển thương hiệu. Cảm nhận được những giá trị vô hình từ thơ, nhạc cũng chính là lợi thế cạnh tranh của chúng tôi, nên Vitek đã chọn mua bản quyền bài thơ.
Chúng tôi mua bản quyền Màu tím hoa sim, vì trong thế kỷ trước, dấu ấn đậm nhất của thế giới về Việt Nam là chiến tranh cách mạng. Đã có rất nhiều bài thơ viết về chiến tranh, nhưng Màu tím hoa sim là bài thơ có nhiều giá trị khi nói về những đau thương, mất mát, hy sinh to lớn của người phụ nữ ở hậu phương trong thời chiến.
2.2. Về việc sử dụng bài thơ: Trong tương lai, chúng tôi có dự định mua tác quyền của những tác phẩm khác nữa và tổ chức các hoạt động văn hóa như thi ca khúc, thi thơ, thành lập quỹ phát triển văn hóa để bày tỏ sự trân trọng, biết ơn của mình đối với những tác phẩm nghệ thuật. Chúng tôi sẽ cho phép các đơn vị hoặc cá nhân được phổ nhạc bài thơ, diễn ngâm hoặc xuất bản tác phẩm này. Đây cũng là một hình thức bảo vệ sản phẩm văn hóa khi chúng tôi lưu giữ và cho phổ biến bản chuẩn nhất trong nhiều dị bản, tránh cho tình trạng tác phẩm bị mai một. Tiền tác quyền thu được từ việc sử dụng bài thơ sẽ được chuyển vào quỹ phát triển văn hóa của chúng tôi.
Với tinh thần đó, Công ty điện tử Việt – Vitek VTB đã hoàn tất việc nhận chuyển nhượng bản quyền bài thơ Màu tím hoa sim từ chính tác giả. Việc chuyển nhượng đó đã được Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chứng nhận.
- Mấy suy nghĩ về chuyển nhượng bản quyền tài liệu văn học nghệ thuật
3.1. Các tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng ra đời từ lao động sáng tạo của các văn nghệ sĩ, nhưng khi đã có giá trị nghệ thuật cao thì sẽ trở thành tài sản văn hóa của mỗi dân tộc, thậm chí của cả nhân loại. Đó là nguồn tài liệu vô cùng quý giá, phản ánh đời sống văn hóa của mỗi dân tộc. Nguồn tài liệu đó cần được thu thập và đưa vào bảo quản trong các tổ chức lưu trữ theo đúng pháp luật lưu trữ; tạo điều kiện bảo quản lâu bền và phát huy giá trị của tài liệu văn học nghệ thuật, phục vụ cho nhu cầu thưởng thức các giá trị văn hóa của đông đảo công chúng.
3.2. Cần gọi đúng bản chất sự kiện là mua bán bản quyền tác phẩm văn học nghệ thuật, không nhất thiết phải sử dụng các mỹ từ nhằm làm giảm tính thực tế của vấn đề này. Bởi lẽ, những tác phẩm đó là sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ, thuộc sở hữu cá nhân nên họ có quyền định đoạt số phận của chúng thông qua các phương thức như hiến tặng, ký gửi cho các cơ quan, tổ chức hoặc bán cho các đối tác cần mua, với giá cả thỏa thuận (trừ những trường hợp khác do luật định).
Ngày nay, luật pháp đã thừa nhận quyền sở hữu đó và đưa ra những quy định pháp lý cần thiết về việc mua bán tài liệu có nguồn gốc xuất xứ cá nhân như: “Việc mua, bán tài liệu lưu trữ của cá nhân được thực hiện theo giá thỏa thuận hoặc thông qua đấu giá. Trong trường hợp tài liệu được trả giá ngang nhau thì lưu trữ lịch sử được ưu tiên mua tài liệu đó” (Chính phủ, 2004); Nhà nước “khuyến khích tổ chức, cá nhân hiến tặng, ký gửi, bán tài liệu lưu trữ của mình cho Nhà nước, đóng góp, tài trợ cho hoạt động lưu trữ và hoạt động dịch vụ lưu trữ” (Quốc hội, 2011) hoặc các “Lưu trữ lịch sử sưu tầm tài liệu của cá nhân trên cơ sở thỏa thuận” (Quốc hội, 2011). Để thực hiện những quy định nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 644/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2012 phê duyệt Đề án “Sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm của Việt Nam và về Việt Nam” và Liên bộ Tài chính – Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 129/2014/TTLT-BTC-BNV ngày 05 tháng 09 năm 2014 quy định nội dung chi, mức chi, việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm với nhiều quy định khá chi tiết, trong đó có việc mua lại bản gốc, bản chính tài liệu. Những quy định đó đã tạo được cơ sở pháp lý cơ bản và cần thiết để các Lưu trữ lịch sử tiến hành sưu tầm tài liệu quý hiếm ở nước ta trong những năm tới.
Tuy vậy, với phương thức mua bán tài liệu, pháp luật về lưu trữ chỉ mới đưa ra những quy định còn rất chung chung như: “Mua bản gốc, bản chính tài liệu trên cơ sở thỏa thuận giữa cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ sưu tầm tài liệu lưu trữ quý, hiếm với chủ sở hữu tài liệu. Mức chi theo giá thỏa thuận giữa chủ sở hữu tài liệu và các đơn vị được giao nhiệm vụ sưu tầm tài liệu” (Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, 2014). Do vậy, pháp luật cần quy định đầy đủ hơn, chi tiết hơn về vấn đề này.
3.3. Việc thu thập tài liệu có nguồn gốc xuất xứ cá nhân hiện nay đang có một cuộc “cạnh tranh thầm lặng” giữa lưu trữ nhà nước với một số tổ chức khác là doanh nghiệp, viện bảo tàng, thư viện công hoặc tư hoặc các hội nghề nghiệp, v.v. Trong cuộc cạnh tranh đó, các bên đều có những lợi thế riêng và ai thắng xem ra cũng khó được xác định rõ ràng.
3.3.1. Việc mua bán bản quyền tài liệu văn học nghệ thuật giữa các nhà thơ với doanh nghiệp đã diễn ra từ gần 20 năm gần đây, như Hữu Loan với bài thơ Màu tím hoa sim (giá 100 triệu đồng, 2004), Hoàng Cầm với Lá diêu bông (giá 200 triệu) và Trần Hoài Thu – Trần Đình Chính với Ở hai đầu nỗi nhớ (Công ty Maseco mua, tháng 01/2013, giá 300 triệu).
Doanh nghiệp tư nhân có những lợi thế rất rõ ràng như họ có sẵn tiền bạc và các thủ tục mua bán, chuyển nhượng giữa chủ doanh nghiệp và cá nhân nhà thơ theo phương châm “thuận mua vừa bán” nên thường là rất gọn nhẹ2.
Các bảo tàng tư nhân hoặc của các hội nghề nghiệp thường do một hoặc một số cá nhân đã từng tham gia hoạt động văn học nghệ thuật, nghiên cứu khoa học đứng ra tổ chức. Lợi thế của họ là có sẵn những mối quan hệ đồng nghiệp, bạn bè thân hữu với các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học nên rất có điều kiện tiếp xúc, gần gũi động viên, thuyết phục những tác giả hiến tặng hoặc ký gửi tài liệu vào các bảo tàng. Những mối quan hệ đó, ở nhiều trường hợp còn có hiệu quả hơn so với sử dụng tiền bạc để mua – bán trong việc sưu tầm, thu thập tài liệu văn học nghệ thuật có nguồn gốc xuất xứ cá nhân.
3.3.2. Trong những năm gần đây, việc thu thập tài liệu có nguồn gốc xuất xứ cá nhân vào Lưu trữ nhà nước đã đạt được một số kết quả rất đáng khích lệ. Đơn cử như Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đã thu nhận được khá nhiều tài liệu về cuộc đời và hoạt động sáng tác của cá nhân là nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, nhà khoa học… nổi tiếng như Cù Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Chính Hữu, Lưu Trọng Lư, Tú Mỡ, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Tô Hoài, Lê Lựu, Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Xuân Sanh, Hoài Thanh, Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Minh Châu, Bùi Hiển, Văn Cao, Huy Du, Trần Hoàn, Văn Ký, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Tài Tuệ, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, Hoàng Tụy, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Khắc Viện, Vũ Khiêu,… theo phương thức tự nguyện hiến tặng hoặc ký gửi tài liệu vào lưu trữ (Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Các Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, 2018, tr.280-292).
Tuy vậy, phương thức mua – bán tài liệu có nguồn gốc xuất xứ cá nhân, gia đình, dòng họ, trong đó có các nhà thơ vào Lưu trữ nhà nước dường như chưa có tiền lệ. Lưu trữ nhà nước còn ở khá xa với phương thức này và không biết đến bao giờ mới mua được tài liệu quý, hiếm bởi rất khó khăn khi phải vượt qua không ít các rào cản như cơ sở để định giá tài liệu phải xác định như thế nào, có đủ khả năng tài chính khi giá mua tài liệu tăng lên tới mức chóng mặt như hiện nay hay không?
Lưu trữ nhà nước với mục đích phục vụ công, không vì lợi nhuận, rõ ràng sẽ có những lợi thế do được Nhà nước đảm bảo vững chắc về cơ sở pháp lý, đầu tư nguồn nhân lực, phương tiện kỹ thuật và cả kinh phí để thực hiện công việc này, góp phần đưa tài liệu văn học nghệ thuật có xuất xứ cá nhân phục vụ tốt nhất cho yêu cầu thụ hưởng các giá trị văn hóa của công chúng. Do vậy, cần khẳng định rằng, các Lưu trữ công – Lưu trữ nhà nước cần đẩy mạnh công việc sưu tầm, thu thập loại hình tài liệu này và cần được đầu tư thỏa đáng để có thể khẳng định ưu thế vượt trội của mình.
3.4. Trong việc sưu tầm, thu thập tài liệu văn học nghệ thuật có nhiều phương thức tiến hành khác nhau, nhưng tổ chức đấu giá để mua bán tài liệu là phương thức cơ bản, lâu dài, văn minh, phù hợp nhất với các quy định pháp luật và cơ chế thị trường. Chính vì tính ưu việt của phương thức này nên đấu giá tài liệu là hình thức để tiến hành mua bán tài liệu đã được tiến hành rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới3.
Ở nước ta, Luật đấu giá tài sản (2016) đã đưa ra nhiều quy định pháp luật quan trọng để tiến hành đấu giá tài sản nói chung và đấu giá “Tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá…”. Luật đã đưa ra nhiều quy định cơ bản về các nguyên tắc đấu giá tài sản như i) tuân thủ quy định của pháp luật; ii) bảo đảm tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch, công bằng, khách quan; iii) bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia đấu giá; iv) cuộc đấu giá phải do đấu giá viên điều hành… (Điều 6); quyền và nghĩa vụ của người có tài sản đấu giá (Điều 47), v.v. Đó là những quy định pháp lý hết sức quan trọng để triển khai tổ chức đấu giá và mở rộng hình thức đấu giá tài liệu lưu trữ, trong đó có tài liệu văn học nghệ thuật có nguồn gốc xuất xứ cá nhân ở nước ta.
Tôi khép lại bài viết này với rất nhiều cảm xúc về thành quả lao động sáng tạo nghệ thuật rất đáng trân trọng của các văn nghệ sĩ; các giá trị cần được đề cao của các tác phẩm văn học nghệ thuật và về trách nhiệm của các cơ quan lưu trữ nhà nước cần làm gì, bằng những phương thức nào để những tác phẩm đó không bị mai một, được phát huy giá trị tốt hơn và để công chúng được thụ hưởng những giá trị đó nhiều hơn, hiệu quả hơn.
1 Thông tin trong bài viết này chủ yếu được tổng hợp từ Từ điển văn học Việt Nam, Bộ mới (2004) và các báo như Tuổi trẻ, Người Lao động, Pháp luật TP Hồ Chí Minh, Dân Việt, Tiền phong, …
2 Việc mua bản quyền bài thơ “Ở hai đầu nỗi nhớ” giữa nhà thơ Trần Đình Chính với Công ty Maseco, tháng 01/2013 là một ví dụ rất cụ thể: Nhà thơ cho biết, trước năm 2013, có người hỏi ông về việc bán bản quyền bài thơ. Ông nghĩ, bài thơ được mến mộ là hạnh phúc lớn nhất, đâu phải để bán. Nhưng rồi, ông bị bệnh tiểu đường nặng, phải chạy thận nhân tạo và bị biến chứng dẫn đến mờ mắt; số tiền cho việc phẫu thuật ghép thận và ghép giác mạc cần đến 2 tỷ đồng. Ước ao được sống, được khoẻ lại để tiếp tục làm thơ, làm báo… nên ông phải quyết định bán bản quyền bài thơ để có tiền duy trì sự sống. Ngày 7/01/2013, ông đưa tin bán bản quyền bài thơ lên mạng. Ông không đưa ra giá, để tùy vào sự hưởng ứng của những người đồng cảm. Chiều 11/3, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả Việt Nam (VCPMC) báo với ông đã có đơn vị mua và sẽ thanh toán ngay tiền bản quyền bài thơ. Sáng 13/01/2013, nhà thơ và Công ty Maseco đạt được thỏa thuận mua bán chính thức. Lễ trao bản quyền được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013 tại Hà Nội dưới sự chứng kiến của đại diện một văn phòng Luật sư và đại diện của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả Việt Nam.
3 Có thể kể ra một số cuộc đấu giá tài liệu:
– Bài thơ viết tay thuở niên thiếu của huyền thoại rock Bob Dylan, bán bởi nhà đấu giá Christie’s vào ngày 23/6/2009, với giá khoảng 10.000 – 15.000 USD (Theo Reuters, Báo Tuổi trẻ, TP Hồ Chí Minh, ngày 21/5/2009);
– Bức họa Hoa hướng dương của danh họa Van Gogh, bán tại nhà đấu giá Christie’s ở Luân Đôn vào tháng 4/1987, với giá kỷ lục 39,9 triệu USD;
– Bức thư của cố Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln năm 1864 trả lời bản kiến nghị của trẻ em yêu cầu chấm dứt chế độ nô lệ, bán đấu giá tại New York vào ngày 3/4/2008, với mức giá 5 triệu USD (Theo AFP, báo SGGP, ngày 11/3/2008).
– Bức tranh đắt giá nhất thế giới: Ngày 7/3, tác phẩm hội họa của danh họa Picasso có tên Khỏa thân, lá xanh và ngực, lần đầu tiên ra mắt công chúng ở Bảo tàng Tate Modern (London, Anh). Tháng 5/2010, bức tranh đã trở thành tác phẩm đắt giá nhất từng được bán trong một cuộc đấu giá tại Christie’s, New York với giá 106 triệu USD. (Theo AFP, Báo Tuổi trẻ, TPHCM, 08/03/2011).
TS. Nghiêm Kỳ Hồng*
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM

Tin cùng chuyên mục:
Ứng dụng Taxonomy trong phân loại tài liệu điện tử: Mối tương quan giữa Taxonomy và khung phân loại Paul Boudet
Khai thác tài liệu lưu trữ và phát triển thư viện trực tuyến: Gìn giữ và quảng bá di sản Đô thị Vũng Tàu
Từ Chiến thắng Điện Biên Phủ đến Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954: Tác động của các nhân tố quốc tế
Phát huy tinh thần chiến thắng Điện Biên Phủ, khơi dậy khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng cho sinh viên thời kì cách mạng công nghiệp 4.0